Saturday, January 22, 2011

bai` tho* hay

NGƯỜI LÍNH GIÀ VỪA MỚI CHẾT ĐÊM QUA

Người lính già Việt Nam
Vừa mới chết đêm qua
Trên đường phố San Jose bụi bặm
Anh đã đi bao nhiêu nghìn dặm
Ðến nơi đây chỉ để chết âm thầm
Không một phát súng chào
Không cả một người thân
Không ai nói với anh một lời tiễn biệt.

Người lính già Việt Nam
Như con thú hoang lạc loài
Trên freeway nhộn nhịp
Một tiếng rên thảng thốt chảy trong mưa
Một chiếc lá cuốn đi theo cơn gió cuối mùa
Một tiếng nấc rã rời trong đêm vắng.

Vợ anh đâu?
Sao không về đây vuốt mắt
Con anh đâu?
Sao không đến vấn khăn tang
Anh ra đi như anh đến
Rất vội vàng
Chẳng còn ai trên đời để khóc.

Nhân loại văn minh có nhiều cách sống
Nhưng đồng bào tôi có những kiểu chết rất lạ đời
Người vợ mang thai
Ôm lấy chồng cùng nhảy xuống biển khơi
Ðể khỏi phải rơi vào tay giặc Thái
Cho sóng biển Ðông nghìn năm còn ru mãi
Một bài ca chung thủy vọng về Nam
Ðể mỗi sớm chiều khi thủy triều dâng
Tổ quốc sẽ được bồi thêm
Bằng máu anh thịt chị.

Có những bà mẹ nửa đêm thức dậy
Ði bán máu mình mua gạo nuôi con
Ðường về chưa tới đầu thôn
Bà gục chết không kịp nhìn mặt con lần cuối
Ðứa con út cũng chết dần trong cơn đói
Miệng còn thì thào hai tiếng “Mẹ ơi !”
Những giọt máu tươi đã giết chết hai người
Sẽ đọng lại trong nghìn trang lịch sử
Cho nước sông Hồng bao giờ cũng đỏ
Như màu máu Mẹ Việt Nam.

Ðêm qua thêm một đứa con
Vừa mới chết trên đường phố San Jose nhộn nhịp
Anh không chết ở Hạ Lào, Bình Long, Cửa Việt
Anh không chết ở Hàm Tân, Suối Máu, Hoàng Liên Sơn
Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn
Trên mộ bia anh thêm một dòng chữ Mỹ

Một người Việt Nam sinh nhầm thế kỷ
Và chết cũng nhầm nơi
Ðêm nay bên kia bờ trái đất xa xôi
Quê hương anh vẫn còn chìm trong lửa đỏ.

Tôi gởi anh đôi dòng thơ
Từ trái tim của một thằng em nhỏ
Cũng lạc loài lưu lạc như anh
Chúng ta, hai chiếc lá chung cành
Bay phơ phất trước từng cơn bão tố
Ngủ đi anh bình yên nơi chín suối
Ðau thương nầy em sẽ viết thay anh.

Trần Trung Ðạo



Để nhớ tới anh Nguyễn mạnh Tường

Đầu năm 1971 tôi dẫn hai tiểu đoàn 1 và 2/44 di chuyển từ Sông Mao lên trình diện BTL/QĐ 2 tại Pleiku. Đơn vị tôi sau đó được đặt dưới quyền điều động của BTL nhẹ QĐ2 đóng tại Hàm Rồng.

Nhiệm vụ của chúng tôi là tổ chức các cuộc hành quân vùng phía tây trục lộ 14 khu vực Đèo Tử Sĩ, theo tin tình báo, đang có sự hiện diện của một đơn vị bộ đội miền Bắc xâm nhập. Chỉ huy cuộc hành quân là đại tá Lê Trung Tường, sĩ quan phụ tá hành quân là Trung tá Nguyễn mạnh Tường. Gặp nhau trao đổi tình hình và qua vài câu chuyện tôi có cảm tình đặc biệt với anh. Tính cởi mở và chân thành, anh không ngại khi cùng tôi bàn định mọi kế hoạch hành quân, về cách phối trí lực lượng và quan niệm hành quân.

Qua câu chuyện tâm tình, tôi được biết anh cũng mới giã từ chức vụ Chĩ huy trưởng CS dã chiến ở Sài Gòn trước đó đổi về Quân Đoàn 2 ngôì chờ bổ nhiệm. Tôi cười nói chọc anh. “ Có phải anh là người hai lần đậu thủ khoa hai khóa tham mưu trung và cao cấp không ở trường Chỉ Huy Tham Mưu không?” Anh cười “ Chính tớ !”. Tôi bảo” Mai mốt đây nếu Trường Chỉ Huy Tham Mưu mở thêm một khóa đặc biệt nào nữa chắc anh lại thủ khoa và như thế là ngang với cụ Tam nguyên Yên Đổ rồi , anh giỏi thiệt!”

 Anh khiêm nhường bảo “ Giỏi chó gì! Các cậu quan niệm đi học là đi chơi, xả xú báp còn tớ thì tớ muốn làm việc gì cũng đâu ra đó nên mới thủ khoa thôi. “ Tôi bảo “ không phải thế đâu, hồi tôi đi học chỉ huy tham mưu trung cấp năm 1968 tôi cũng học ra trò đấy chứ mà nào có được thủ khoa như anh? “Đặc biệt khóa tôi lại có cả các tiểu đoàn trưởng quân y của các sư đoàn bộ binh, nhẩy dù và TQLC nữa cũng về học, mà anh biết đó, mấy cha bác sĩ này nói đến học là nghề của mấy chả, thế mà cũng có ai đậu thủ khoa đâu! ngoại trừ bác sĩ Đích y sĩ trưởng SĐ 21 thì phải , chỉ đậu thứ 3 thứ 4 gì đó.” Hoạt động với nhau gần hai tháng tôi mới vui miệng hỏi sao anh lận đận quá vậy? với khả năng như anh thiếu gì vị trí xứng đáng để thi thố tài năng. Anh chỉ mỉm cười bảo “Cái số mình nó thế.”

Được biết anh từng xuất thân là một sĩ quan nhẩy dù, rồi tham gia lực lượng đặc biệt… ở đơn vị nào anh cũng đều được thượng cấp nhận xét là sĩ quan trẻ có khả năng , phải nhận rằng anh là một sĩ quan toàn diện về cả khả năng chỉ huy và tham mưu; thế mà… Tháng 6 đơn vị tôi rời vùng hành quân trở lại Sông Mao và nghe tin anh về phụ tá phòng 3 QĐ cho trung tá Nguyễn văn Đệ rồi làm giám đốc trung tâm hành quân Quân Đoàn 2. Từ đó tôi không có tin tức gì của anh nữa.

Cho mãi đến cuối năm 1972, trong lúc các lực lượng cộng sản tung ra các cuộc hành quân quy mô nhằm hỗ trợ cho những đề nghị chính trị của họ tại cuộc hoà đàm Paris. Đơn vị tôi tham gia các cuộc hành quân trên chiến trường Kontum và vùng Quảng Đức thì nghe tin anh cũng đang điều binh khiển tướng trên mặt trận Bắc Bình Định. Tôi nghĩ thầm trong bụng cũng mừng cho một sỹ quan đa tài như anh lại có dịp phục vụ quân đội và đất nước. Đến khoảng giữa năm 1974 thì lại nghe tin anh mới được thăng cấp đại tá đặc cách tại mặt trận do tổng thống Thiệu gắn tại Bình Định, khi với chức vụ Tiểu khu phó, anh chỉ huy điều động các đơn vị địa phương và tăng phái đánh thắng hai cuộc tấn công qui mô của các lực lượng Cộng quân thuộc mặt trận B3 vào căn cứ Đề Gi và căn cứ Không Quân Phù Cát, gây tổn thất nặng nề cho các đơn vị địch. Nghe tin vui của anh tôi tự nhủ “Ít ra cũng phải như thế, dù muộn nhưng vẫn còn hơn!” Rồi những diễn biến chính trị và quân sự phức tạp kéo theo sau đó. Tôi lại không có dịp liên lạc với anh nữa.

Cho mãi đến cuối năm 1977 tôi mới gặp lại anh tại trại 4 Hoàng Liên Sơn. Vẫn một Nguyễn mạnh Tường xốc vác, trẻ trung và đa tài. Kỷ niệm có với anh thời gian này chính là ngày tết năm ấy khi trại mua được một con trâu gìà phế thải của hợp tác xã mang về mổ thịt ăn tết cho toàn trại. Con trâu kềnh tuy đã lão và mẻ một sừng nhưng trông vẫn còn dềnh dàng dễ sợ. Con trâu được cột vào một bụi tre già. Vì là ngày giáp tết, trại nghỉ lao động nên các cải tạo viên đứng thành vòng ngó coi lần đầu tiên cách thức mổ trâu như thế nào. Người bàn ra tán vào đủ kiểu làm cách nào để vật được con trâu nằm xuống mới thọc huyết được. Có tay công an quản giáo đề nghị lấy súng bắn vào đầu con trâu cho đỡ rách việc! Trong lúc đang bàn tán lao xao như vậy thì anh Tường xuất hiện. Anh bảo để anh tính cho. Ngay sau đó anh yêu cầu một người chặt cho anh một khúc nứa dài khỏang 2 thước, chặt vát một đầu. Còn đích thân anh lấy một sợi dây thừng buộc vàm con trâu rồi bằng một động tác bất ngờ, anh kéo ghì đầu trâu qua một bên, níu ràng xuồng dưới bốn chân con trâu và yêu cầu vài người khoẻ mạnh phụ anh đẩy con trâu vì vướng giây chụm vào nhau ngã nhào cuống cỏ. Từ đó anh dùng cây nứa nhằm ngang dưới cổ thọc thẳng vào tim con trâu. Con trâu chết rất nhanh và gọn trước sự thích thú ngạc nhiên của đám tù chúng tôi.

Buổi chiều 30 tết năm ấy khi ngồi nói chuyện tâm sự cuối năm tôi có hỏi “ Làm sao mà đại ca biết cách giết trâu nghề vậy? “ Anh mỉm cuời, “ Thì cũng học đồng bào cao nguyên thôi, lúc tớ còn trong lực lượng đặc biệt khi tham dự lễ giết trâu tế thần”.Trại 4 giải tán, chúng tôi lại xa nhau lần nữa, lần này anh trở về trại 1 còn tôi di chuyển đi Thác Bà.

Tháng 4 năm 1982 tôi từ Nam Hà theo đoàn tù cải tạo còn lại sau đợt di chuyền năm trước trở về Miền Nam. Về trại Z30A. Tôi gặp lại anh.

Anh thuộc đội nhà bếp, trong khâu bổ củi. mặc dù tuổi tác lớn nhất trong toán cuả anh nhưng phải nói anh có sức khoẻ phi thường. Suốt ngày cởi trần trùng trục, mỗi buổi sáng nhìn anh đứng trước một đống gổ gồm các gốc cây khô vặn vẹo vằn vện tay cầm cây búa mà thấy phục. Tôi cũng được biết anh đang tập thiền và nghiên cứu thiền. Hết giờ lao động, anh hoặc ngồi tập thở hoạc đọc sách. Ngồi nói chuyện với anh câu chuyện luôn xoay quanh về các đề tài tu tập. Hồi ấy trong trại các tin tức về đủ loại đủ kiểu râm ran bàn tán về các giải pháp cho tù chính trị. Nhiều khi tâm sự, anh vẫn nhận định tình hình chưa chín. Sự việc còn nhiều gay go, theo anh khuyên giờ đây là lúc tự rèn luyện mình có đủ minh mẫn và sức khoẻ để có thể đáp ứng được khi tình thế đòi hỏi. Thời gian này anh sử dụng khí công và day huyệt để chữa trị một số bịnh cho anh em trong trại nên anh có tên mới “Thầy Tường”.

Anh thuộc diện mồ côi, tiếng chúng tôi chỉ các sĩ quan cải tạo không được thăm nuôi thường xuyên. Dăm chừng mười họa, khi vợ con hoặc người quen biết gởi gắm cho một ít thức ăn nhờ người thân tiện đường thăm thân nhân gởi ké vào trại. Anh bảo gia đình anh có chị và hai cháu đã vượt biên sang Úc ,giờ đây chắc cũng đang phải cày dữ lắm để mưu sinh nên anh chẳng có kỳ vọng gì cả. Vả chăng đối với anh, cuộc sống thanh đạm trong tù cũng là một điều kiện thuận lợi cho việc tu dưỡng của anh nữa. Lâu lâu có bà chị ruột lên thăm anh, chị cũng nghèo nên chủ yếu là thăm em thôi, quà cáp là ít lạng mè, đâu phọng và muối để anh ăn chay. So sánh với các người khác cùng cấp bực hoặc chức vụ như anh , anh thường bào “ Tớ là thằng vô sản chân chính đấy !” rồi anh nói thêm “ Chỉ có điều tớ đếch tin vào chủ nghĩa Marx nên mới bỏ quê lên tỉnh và vào Nam thôi.” Anh em ở chung trại Z30A với nhau gần 6 năm đến giữa tháng 2 1988 chúng tôi mới được thả ra về. Anh trở về tạm trú nhà bà chị ở gần cầu Công Lý. Tôi có đến thăm anh đôi lần. Anh bảo anh sẽ lên chùa Vĩnh Nghiêm để tu tập trong khi chờ đợi ra đi. Sau đó ít lâu thì anh vào chùa.

Tôi sang Hoa Kỳ theo HO 11 vào năm 1992 còn anh hình như năm 1998 mới qua. Anh định cư tại San Diego còn tôi ở San Jose. Hai anh em trao đổi thơ từ, điện thoại thường xuyên thăm hỏi. Lúc này anh cho biết có một số bạn bè muốn bỏ tiền ra mua một khu đất, dựng chùa để anh trụ trì. Rồi có khi anh tâm sự, cái nghiệp của mình còn nặng quá chắc là chưa tĩnh tâm để làm được điều gì cho ra hồn. Bởi vì như anh thường nói, không làm điều gì thì thôi, làm là phải làm cho tới nơi tới chốn.
Năm 1999 anh có lên San Jose chơi và đến ở chung nhà với một người quen ở đường Rincon. Từ đó mỗi buổi sáng khi tôi băng qua Park Morgan đi bộ là gặp anh và anh Khiên, người quen chung của cả hai chúng tôi. Câu chuyện lúc nào cũng rôm rả về nhiều đề tài khác nhau. Anh bảo ước nguyện hiện giờ của anh là anh muốn qua Úc để tìm gặp lại gia đình và hai đứa con. Anh Khiên hứa sẽ tìm cách liên lạc với bạn bè bên ấy để tìm địa chỉ của chị và hai cháu giúp anh.

Bẵng đi một thời gian khá lâu, tôi không nhớ rõ vào năm nào, hình như năm 2001 hoặc 02 gì đó, anh bất ngờ đến thăm tôi tại nhà. Trông anh khác hẳn. Anh gầy xọm đi và gương mặt hốc hác. Tôi giật mình, “ Chuyện gì đã làm anh thất thần như thế? “ Anh lặng buồn không nói ngoài một câu gọn “ Moi có qua Úc rồi, vẫn không gặp được hai đứa con. “ Anh Khiên nói chêm vào “ Nhìn thấy bà xã đi chợ nhưng không hỏi chuyện được. Còn con có nhìn thấy đôi lần nhưng cũng không nói được điều gì!”Tôi biết câu chuyện tình cảm gia đình này đã gây cho anh một cơn shock tâm lý quá nặng thành ra tôi tránh không muốn động tới nữa. Tôi rủ anh lên khu Lion Plaza để ăn trưa và đi dạo. Kéo anh vào nhà sách Tự Do tôi bảo anh “ Anh Tường ạ, em rất kính trọng anh và không biết phải nói với anh như thế nào.

 Nhưng theo em, anh vẫn thường nói với em cái gì thuận duyên mới hết, cái gì nghịch duyên thì còn. Anh cũng thường nói về thiền và cách cất bỏ gánh nặng trên vai của mình để mà bước đi cho thênh thang nhẹ gánh. Giờ em mong anh sẽ cất được gánh nặng ấy trên vai mình mà thung dung bước. ” Sau đó tôi đề nghị anh chọn một cuốn sách mà anh thích để tôi mua tặng anh làm duyên tri ngộ. “ Anh đã chọn cuốn Dòng sông thanh tẩy của Krisnamurti . Điều bất ngờ ấy làm tôi nhớ lại ngày trước khi tôi lên máy bay ra đi tôi đã tặng anh cuốn Giải trừ kiến thức cũng của tác giả này. Trước khi chia tay, ngồi nhâm nhi ly cà phê trong lòng chợ anh bảo tôi “

 Trước đây cậu hay hỏi tớ làm sao mà lận đận quá vậy phải không? “ Tôi cười : “Ừ, thì thấy anh cũng vào tù ra khám cách mạng rồi từng trải kinh qua các binh chủng khét tiếng rồi học hành thủ khoa liên tục mà chẳng thấy anh giữ một nhiệm vụ gì cho ra hồn thì hỏi chơi vậy thôi.” Anh bảo “ Cậu có tin là con người có cái số không? Tôi bảo tôi tin. Anh nói “ Hồi đảo chánh 1960, mình là sĩ quan trực sư đoàn dù, nên có chút động chạm với ông Viên. Từ đó ông ta cứ thấy mình đâu là…đì sát ván. , cũng may mà trận Bình Định ông Thiệu gắn lon cho moi rồi gởi giấy tờ về TTM hợp thưc hóa chứ nếu không thì sức mấy! “ .

Qua bạn bè thân quen với anh, tôi còn được biết trong cuộc đảo chính bất thành năm 1960, anh và một số đồng đội bị bắt và bị giam chung cùng một số các chính khách quốc gia khác. Chính trong dịp này, anh chiếm được cảm tình của rất nhiều chính khách lúc đó, đặc biệt là cựu tổng thống Phan khắc Sửu. Năm 1963 sau ngày cách mạng thành công, anh được tha về, cũng chính trong thời gian này, anh được cụ Sửu mai mối và đứng ra làm chủ hôn cho anh.Tôi bảo nếu đúng như thế thì anh xui thiệt, tôi cũng bị đì dữ lắm nhưng may mắn là mấy ông đì tôi làm những chức sinh sát nhỏ hơn và trớ trêu là các ông ấy thường…tiêu trước tôi nên không kịp đì sát ván được! cả hai anh em cười vui vẻ. Đất nước mình nó vậy. Cuộc đời nó vậy. Bởi nếu không thì làm gì cần đến một ông trời để chúng ta kêu mỗi khi bất đắc ý !

Sau này tôi nhìn thấy anh trong bàn chủ tọa của hội tập thể Cựu chiến sĩ QLVNCH chiếu trên Tivi trong ngày lễ ra mắt, hình như anh ở trong ban giám sát thì phải. Khi thấy hình ảnh anh tôi thầm nghĩ, anh chắc hẳn đã tìm lại được nguồn vui trong hoạt động.

Bẵng đi mợt thời gian lâu tôi điện thoại cho anh theo số anh cho ở San Diego nhưng chẳng ai bắt phone. Tôi để lại lời nhắn vài lần mà cũng chẳng được anh hồi âm. Rất lâu sau đó, bỗng tôi được phone của anh. Anh bảo tớ mới đi Việt nam về, rồi anh khoe anh đã trở về quê anh ở Thái Bình thăm lại bà con chú bác, những người thân anh đã rời xa kể từ hồi 1955 khi anh đi học sĩ quan. Giọng anh cũng u buồn khi nói tới trong thời gian đó, anh bị strock nhẹ phải nhờ bà con đưa đi chữa trị tại bịnh viện Bạch mai Hànội. Anh bảo, lúc mình ngất ngư như vậy mà cậu em khi muốn đưa mình vào phòng cấp cứu khẩn cấp đã phải xì ra hai chục đô mới được chấp thuận. Tôi nói với anh chuyện đó là chuyện bình thường ở bên ấy mà, báo chí Việt nam cũng đăng hà rầm có gì lạ đâu. Anh Nói : “Điều mình muốn nói ở đây chính là thái độ của tay bác sĩ chìa tay ra nhận tiền của chú em mình. Hắn coi đó như là một thứ thủ tục phải như thế, nhận một cách không xấu hổ gì cả! So ra với cái danh trí thức mà mình vẫn thường hiểu và gắn cho những người như hắn, chính điều ấy làm cho mình lợm giọng và buồn thôi! Có lẽ đất nước này tiêu thật rồi ! “.

Bẵng đi một thời gian lâu sau đó, khi nói chuyện qua điện thoại với anh, anh bảo tôi,” Tớ lại sắp đi lang thang ngao du một thời gian, khi nào về sẽ cho cậu biết.” Anh vẫn thế, quảng giao và chân thành, kín đáo và nhiệt tình với bạn bè là những đức tính của anh. Anh thu mình sống trong một nội tâm sùng sục sôi với những ước vọng mong luôn làm đẹp cho người và chấp nhận những bi lụy cay đắng cho riêng anh. Rồi tôi cũng nghe tin anh đã được cô con gái út vốn là một phi công Úc, trong một dịp tu nghiệp tại Hoa Kỳ có tìm đến thăm anh, còn cậu con trai bác sĩ thì không nghe nói đến. Tôi tự nhủ, thôi thế cũng là một phần thưởng cho anh lúc cuối đời. Bởi vì tôi vốn biết, các con của anh luôn là nỗi bận tâm duy nhất của anh trong lúc này.

Anh hình như luôn cố gắng để nói với các con cuả mình rằng anh chẳng có lỗi gì cả, anh luôn trân qúy và thương yêu chúng còn hơn cả bản thân anh nữa. Tổ quốc, trách nhiệm, đồng đội và gia đình, những ràng buộc ấy luôn giằng xé anh trong những giây phút anh ngồi đơn độc một mình. Tôi cũng có nghe nói đến trong những giờ phút sinh tử của Miền nam trong tháng 3 1975 khi anh từ Bình Định trở về Sàigòn anh được bổ sung về Sư đoàn 5. Tại đây anh bám sát đơn vị ngày đêm mà quên đi một gia đình đang cần anh lo toan trong lúc xáo trộn. Điều này khiến cho vợ anh giận dữ bất mãn và đó là lý do khiến chị sau khi cùng hai con vượt biên sang Úc Châu đã không còn liên lạc với anh nữa! Thực hư câu chuyện thực tình tôi không rõ, vì như tôi đã nói, chuyện gia đình anh là một ám ảnh không vui và tôi mỗi lần tâm sự với anh đều luôn né tránh nhắc tới.

Ngày 3 tháng 1 vừa qua, được email của Bùi Quyền cho biết anh bị stroke trở lại và ở một khu nursing home taị Half Moon Bay. Những định sẽ có một ngày lên thăm anh nhưng rôì bịnh thấp khớp hành liên tục, lái xe đi xa không được nên cũng chưa có dịp trong lòng cứ áy náy mãi. Hôm qua ngày 5 lại được mail của Phạm Tín An Ninh cho biết anh đang nằm ở Burn center phòng 3 lầu 4 bịnh viện Bascom. Hai vợ chồng tôi vôị đến thăm anh ngay.

Nhìn anh nằm bất động trên giường, đôi mắt nhắm nghiền như chìm trong giấc ngủ say. Ngoài một nùi những dây nhợ giăng mắc khắp người là một ống hơi oxygen ngậm trong miệng.Anh thở dốc như một người đang leo đèo. Chiếc máy monitor theo dõi nhịp tim và mạch đập yếu ớt lên xuống. Vẫn khuôn mặt đầy đặn và cương nghị. Anh như đang cố vượt qua ngọn núi cuối cùng trước khi bay vào hư vô.

Nhìn anh rồi nghĩ lại những bạn bè đồng đội của mình, những người lính chiến VNCH một thời lăn lóc trên các chiến trường. Những cống hiến cho đất nước và dân tộc một thời chưa đủ xa để trôi vào lãng quên. Nhìn anh đang nằm đây một mình, rất cô đơn nhưng bình thản, bỗng dưng tôi thấy lòng chùng xuống, xót xa. Hào quang của một đời sống hùng sống đẹp vẫn không thể soi tỏa hết những bóng đen bi lụy của kiếp nhân sinh phiền não. Tôi nghẹn ngào biết là sắp phải vĩnh biệt anh, người anh tôi kính trọng và ngưỡng mộ. Thắng bại, nhục vinh là chuyện của thế gian. Thế hệ chúng ta đã làm tròn nghĩa vụ của mình một cách trong sáng và hào hùng. Thế là đủ. Nhìn hình dáng anh nằm thở gấp, nét mặt điềm tĩnh tươi tắn kia, tôi hình dung một cách chim bằng đang cố gắng dồn hơi lấy sức lần cuối cùng trước khi từ đỉnh cao bay lên, bỏ lại cái giả tạm xác thân như một chiếc áo cũ, để cho phần tinh anh còn lại bay vút lên trời. Ở trên đó chắc chẳng còn phiền muộn vương vấn gì nữa. Chỉ toàn là bạn bè, những người như anh đã cùng xả thân chiến đấu và dốc lòng với dân tộc, giống nòi.

Song Vũ
(CựuTrung Tá Ngô Văn Xuận, Trung Đoàn Trưởng 44/SĐ 23 BB)

Friday, January 21, 2011

Giao Chỉ, San Jose: Tình chiến hữu (Chuyện đầu năm 2011 viết tặng ông đại tá Tập thể Nguyễn Mạnh Tường)

Chuông gọi hồn ai.


Bước vào đầu năm 2011, chiến hữu B.M.Hùng từ Washington, D.C gửi ra một bản tin hết sức đau lòng. Tin đại tá Nguyễn Mạnh Tường sắp qua đời trong cô đơn tại nhà thương Bascom, San Jose.
Nhắn tin vợ ông đã ly dị và 2 con bên Úc mau mau liên lạc. Bản tin tiếp theo của liên hội cựu quân nhân Bắc Cali, nhắn anh tổng thư ký, xin chuẩn bi ma chay cho người chiến binh cao niên sắp ra đi mà gia đình đã bỏ rơi.Kèm theo bản tin rất ngắn nhưng vô cùng đau đớn là một bài viết về cuộc đời chinh chiến của đại tá Nguyễn Mạnh Tường.
Người viết là chiến hữu Trần Thúc Vũ, một sĩ quan đã từng phục vụ lâu dài tại chiến trường Bình Định. Bài báo hết sức chi tiết, hết sức sôi nổi, hết sức nồng nàn. Không những nêu cao thành tích của của ông Tường, mà phô diễn một tình cảm vô cùng trân quý của cấp dưới đối với niên trưởng trong tình huynh đệ chi binh.Bài báo này xứng đáng là một thiên anh hùng ca của ông đại tá quê Thái Bình. Trong suốt một tuần lễ Email nhận được tới tấp đến sốt cả ruột về chuyện tử sinh của người hùng mặt trận Bình Định. Sau cùng nhận được cả Email của phu nhân đề đốc tập thể Hồ Văn Kỳ Thoại. Chưa hết cô con gái út của tôi, chẳng đọc Email Việt ngữ bao giờ mà cũng nhận được lời nhắn gửi tìm gia đình cho ông già nằm bệnh viện. Cháu đẩy qua cho bố để tiếp tay. Tin bên Úc cho biết đang lụt lớn nhưng xem chừng vẫn có anh em lội nước đi tìm vợ con cho đại tá Tường. Chưa có kết quả.Đi thăm người cô đơn. Chẳng biết đầu đuôi, tôi bèn tìm vào thăm. Điện thoại phòng bệnh không ai trả lời, bèn rủ bạn cùng khóa Cương quyết là ông Nguyễn Đình Tạo lên đường. Chúng tôi học khóa 4 phụ Cương Quyết II Đà Lạt 1954. Ông Tường khóa 5 Vì Dân,1955. Có lẽ cùng một đợt tuổi, Chẳng quen biết nhiều nhưng gặp mặt chắc nhận ra.Ông Tạo nói rằng“Sao nghe nói có tin “lui” đi rồi”.“Mình cứ vào Bascom thử coi.”Hỏi tới hỏi lui ở cái nhà thương mới sửa lại khá vĩ đại, sau cùng người ta tra sổ và cho số phòng.“À, còn số phòng là còn sống. May quá, nhưng sao lại nằm ở khu bị cháy. Chẳng hiểu tai nạn làm sao.”Chúng tôi tưởng tượng sẽ gặp một ông già cô đơn buồn tủi, nằm nhà thương cả tháng vợ con không biết tin, anh em cũng chẳng có ai. Nhưng không phải. Đại tá khóa Vì Dân nằm trong phòng đặc biệt. Giây, ống đầy người. Đã 2 tuần rồi chưa tỉnh. Ông bị phỏng nặng phải cho thuốc dịu đau ngày đêm nên mê man thường trực. Lại thêm bệnh tiểu đường nên việc điều trị khó khăn. Phải đến tận nơi mới thấy Nguyễn mạnh Tường không hề cô đơn. Hỏi chuyện cô y tá thường trực nên biết đầu đuôi. Nằm tại khu này được 3 tuần lễ mà đã có hơn l00 lần thăm viếng. Có bạn đứng ngoài phòng kính ngó vào. Có bạn trang bị đồ nhà thương vào luôn bên trong. Ai cũng hỏi han chi tiết. Nhà thương không biết ông già này là ai mà các giới chức vào thăm mệt nghỉ. Luật chỉ cho mỗi lần vào 2 người. Y tá trưởng đặc cách cho vào một lần 4 người. Vì bên ngoài còn chờ nhiều quá.Số người thăm viếng, hỏi han được lập thành danh sách. Anh em nhà binh đọc qua thấy tên tuổi bằng hữu quen thuộc. Lại nhận ra anh này anh kia, tưởng đã đi xa mà vẫn còn quanh đây. Riêng phần bệnh nhân, chưa có gia đình về thăm, chứ còn phần chiến hữu thì ông đã có quá nhiều. Thừa cán bộ để bổ sung cho mặt trận Bình Định. Dù nằm im một chỗ trong cơn hôn mê, nhưng Nguyễn Mạnh Tường không hề cô đơn.

Nhắc lại từng kỷ niệm. Khi chúng tôi đến thăm, lại nhân dịp gặp mấy sĩ quan trực. Đại úy nhẩy dù tới lui nhiều lần cùng với cô vợ. Đại úy thiết giáp thì lên phiên trực một mình. Cả 2 anh em đều hết lòng thương mến và ca tụng ông thầy. Tôi chưa từng thấy bao giờ anh em lại nhiệt tình với tấm lòng huynh đệ chi binh như thế. Thường chỉ thấy bạn bè cùng trang lứa, cùng chiến đấu, cùng ăn nhậu hết mình. Hoặc đôi khi thầy trò giúp đỡ nhau nên trở thành ơn nghĩa. Nhưng anh em đi với ông thầy Nguyễn Mạnh Tường thì chỉ có từ chết đến bị thương. Vậy mà sao lại hết lòng với nhau, dù cho cuộc binh đao đã có đến 35 năm xưa cũ.Hai vợ chồng ông nhẩy dù kể chuyện ông thầy anh hùng và xuất sắc vang cả nhà thương, tôi phải kéo anh em ra một góc. Ông thiết giáp đem quân từ Pleiku xuống duyên hải tham dự trận giải cứu căn cứ không quân đã hạ một câu nhẹ nhàng.“Ông Tường là mãnh sư của Bình Định.Khi ông còn trung tá mà đã chỉ huy các đại tá.”Trong cuộc chiến tại Việt Nam, mong được cấp tướng khen cấp tá để đường công danh thuận buồm suôi gió. Nhưng hơn một phần ba thế kỷ đã qua đi, cấp úy khen cấp tá mới thực là tấm huy chương vàng ngọc. Ông già mãnh sư một thời, nằm khò khè bất động là người nhận được những tấm huy chương cao quý đó. Anh em bảo tôi, bác phải đọc câu chuyện của Trần Thúc Vũ.
Đọc lại Tiểu sử.

Nghe lời anh em, tôi về đọc lại tài liệu.Trước tiên là tiểu sử ông này hết sức đặc biệt. Bắt đầu từ trung úy nhẩy dù đã tham gia đảo chánh ông Diệm. Trong lúc tư lệnh Nguyễn Chánh Thi và ông Liễu chạy qua Cambốt, thì ông Tường và anh em bị đi tù Côn Đảo cùng cụ Phan khắc Sửu. Trải qua 4 năm từ 1960 đến 1964 mới trở lại quân đội, sau cùng về sư đoàn 22 bộ binh với cấp bậc trung tá.Đại tá công binh Nguyễn văn Chức về làm tỉnh trưởng Bình Định bèn yêu cầu tổng tham mưu và quân đoàn đưa về mấy chục ông trung tá để tăng cường cán bộ cho mặt trận duyên hải của vùng II chiến thuật. Từ đó trung tá Nguyễn Mạnh Tường trở thành anh hùng của vùng đất ngày xưa là quê hương Bắc Bình Vương, Nguyễn Huệ. Sau Bình Định ông về làm đại tá tư lệnh phó cho tướng Lê Nguyên Vỹ, sư đoàn 5 và trải qua 13 năm tù cải tạo. Cho đến năm 93 còn bị kết án thêm 12 năm tù phản nghịch. Mãi đến 1998 mới được quốc tế can thiệp rồi HO qua Mỹ 1999. Ông xa gia đình từ 1975, vợ con vượt biên đi Úc, và từ ngày đó đến nay chưa gặp lại.
Những trang chiến sử. Tiểu sử Nguyễn Mạnh Tường đã ly kỳ khác biệt, nhưng trang chiến sử của ông mới thực là phi thường. Đất tung hoành của ông một thời là Quy Nhơn, Bình Định. Một tỉnh lớn nhất của miền Nam với 14 quận, 10 ngàn cây số vuông. 120 cây số dọc từ Cù Mông xuống Bình Khê. 90 cây số ngang từ biên giới Pleiku xuống bờ biển Phương Mai. Đây là chiến trường thử lửa của các đơn vị danh tiếng nhất của cộng sản và liên quân Việt Mỹ. Các đơn vị Hoa kỳ lần lượt tham chiến tại Bình Định là Sư đoàn không kỵ số 1, Sư đoàn 101 bộ binh, Lữ đoàn dù 173, và sư đoàn Mãnh hổ Đại Hàn. Phía Việt Nam có 2 Trung Đoàn của sư đoàn 22 bộ binh, 18 tiểu đoàn địa phương quân, 12 đại đội biệt lập, 620 trung đội nghĩa quân. Bình Định cũng là nơi có trên 10 tiểu khu trưởng thay phiên nhau. Trước sau chỉ có một mình tiểu khu phó Nguyễn Mạnh Tường là nổi bật.Thành tích của ông Tường là xử dụng địa phương quân đánh giặc như tổng trừ bị của tổng tham mưu. Ông cả gan giả lệnh của quân đoàn để điều động thiết giáp tham chiến. Xin biệt động quân qua đường đi huấn luyện để tham dự hành quân.Với quyết tâm và tài dùng binh của cấp sư đoàn, ông đã tạo chiến thắng Ba Gi lừng danh vùng II chiến thuật. Với mưu trí và nhiệt huyết can trường, ông đã cứu được căn cứ không quân Phù Cát thoát khỏi trận tấn công khốc liệt của cộng sản.Và cũng chính con người đó, say men với binh đoàn, nên vợ con từ Saigon ra thăm, chờ đợi 2 tuần không gặp phải quay về. Phải chăng đây là nguyên nhân sự tan vỡ gia đình không hàn gắn được 35 năm sau.

Đoạn kết của câu chuyện tình: Trong số anh em cùng khóa, anh Thọ Đan là một trong những người thân tín và biết nhiều về bạn Tường. Anh biết từ đầu đến cuối cuộc tình và cũng là người được Tường ủy nhiệm chính thức về các quyết định y khoa khi người bệnh không tỉnh lại. Từ Côn Đảo trở về, chính cụ Phan khắc Sửu làm mai mối cho anh Tường lập gia đình với con một ông Bang Trưởng người Việt gốc Hoa. Cuộc tình duyên như thế phải chăng là lý do cho định mệnh chia cắt sau này.Anh chị sinh được 2 con, một trai, một gái. Cuối tháng 4 năm 75, một lần nữa anh bỏ cơ hội ra đi cùng gia đình để lên sống những giờ cuối cùng với Sư đoàn 5. Sau này, khi anh đi tù thì chị và gia đình gốc Hoa vượt biên qua Úc. Từ đó không hề liên lạc. Khi anh được trả tự do, đã vào chùa ở Saigon đóng vai cư sĩ. Tại đây anh có dịp cưu mang giúp đỡ một cô bé bất hạnh. Cô này hiện đã trưởng thành, có gia đình bên Đức và là dưỡng nữ còn liên lạc với cha nuôi. Khi HO vào Mỹ, anh Tường đã có lần qua Úc nhưng vẫn không gặp được vợ con. Chuyện gia đình phức tạp và hết sức tế nhị chỉ còn lại những tin tức rất mong manh. Con trai Nguyễn Mạnh Tuân hiện là bác sĩ, cô con gái Nguyễn Tường Ngọc Hương trở thành phi công lái máy bay thương mại. Chẳng hiểu duyên cớ vì sao mà bây giờ các con chưa tìm gặp lại thân phụ. Hay là phép lạ trùng phùng chưa đến lúc xẩy ra vào giây phút cuối. Từ Việt Nam qua Hoa Kỳ, Nguyễn mạnh Tường vẫn nương náu cửa chùa. Từ chùa Saigon đến chùa San Diego. Rồi tuổi già đưa anh vào nursing home.Sau cùng bạn Vì Dân, Thọ Đan đưa ông Vì Dân, Mạnh Tường từ San Diego về Half Moon Bay, tại dưỡng đường cao niên ở miền Nửa vừng trăng khuyết.Tại đây lại có cuộc tao ngộ trùng phùng của 2 tay đảo chính, Đại tá Phạm văn Liễu, gốc thủy quân lục chiến đã nằm chờ đại tá Nguyễn Mạnh Tường, gốc nhẩy dù. Một ông đã ngoài 80 và một ông đã hơn 7 chục. Trong tình chiến hữu thì vẫn là huynh đệ chi binh. Lại thêm hoàn cảnh cũng là những tay hảo hán Bắc Kỳ, một thời chọc trời khuấy nước.Cùng nằm một phòng tại quán trọ cao niên cạnh ghềnh đá của thị trấn bên con đường liên tỉnh lộ số 1, ngó ra biển Thái Bình. Mãnh sư mũ đỏ và cọp biển mũ xanh bây giờ đều là những anh hùng thấm mệt. Bằng hữu một thời tuy còn lai vãng nhưng chẳng thể nào gần nhau như trong doanh trại ngày xưa. Một ông vợ chết ngồi xe lăn, đẩy ra đẩy vào lại gặp ông bị vợ bỏ.Rồi sau cùng bác Phạm văn Liễu ra đi cũng âm thầm như khi ông đến bãi biển Nửa vừng trăng khuyết.Khi anh em tổ chức tưởng niệm ông Liễu ở San Jose thì ông Tường đến dự. Rồi tai nạn xảy ra. Ghé ở nhà anh bạn trẻ vong niên, đêm khuya ông lúng túng một mình, nước sôi nhà tắm lột mất nửa người. 911 gọi đến để Bascom đón người anh hùng vào nằm ở phòng hồi sinh đã mấy tuần mà vẫn chưa tỉnh.

Tình chiến hữu. Nhắc đến tình chiến hữu chung quanh ông Tường, anh Thọ Đan nói rằng người nối vòng tay lớn chính là Vì Dân, Vũ trọng Mục. Ông Mục nốt kết anh em từ trong ngục tù ra ngoài thế giới tự do. Từ tiểu khu Bình Định đến sư đoàn 5, và ông động viên cả con cháu trong nhà. Kỹ sư Oánh ở Union City cũng phải công nhận. Tình chiến hữu còn hơn anh em ruột thịt.Câu chuyện anh hùng xưa, nhớ thời niên thiếu đến đây xin tạm ngưng. Nhưng càng tìm hiểu càng thấy mối tình chiến hữu trong buổi hoàng hôn thật hết sức lạ lùng. Mỗi ngày đều có anh em kể chuyện mới về ông Tường và gửi hình ảnh của các bạn đến thăm ngồi dài ở nhà thương Bascom.Còn chuyện bên hành lang mới thực là ly kỳ. Số là khi 2 ông Liễu và Tường vào nhà dưỡng lão bên bờ biển, Mỹ hỏi là nếu có chuyện thì các bác muốn sống bằng máy nằm chờ hay chấp nhận đi luôn. Hai ông già nói rằng bây giờ còn nằm chờ gì nữa. Xin chọn đi luôn. Mỹ bèn đeo vào tay 2 ông colonel mỗi ông một chiếc vòng để khi hữu sự không cần sống bằng máy móc. Xin để chúng tôi đi luôn. Bác Liễu thì đã đi luôn nhẹ nhàng, nhưng bác Tường may mà có chiến hữu vào kịp để chạy giấy tờ đại diện tháo cái vòng đi luôn. Nhờ vậy ông còn được chạy chữa đến hôm nay.Chuyện hành lang lại kể rằng, bác Tường có qua Úc thăm vợ con. Nhưng vợ không nhận chồng. Thấy bà đi ngang qua rồi đi thẳng. Con Mãnh sư chiến trường Bình Định bây giờ đã thành một cư sĩ hiền lành, đành nuốt lệ quay về.Chàng có thể nghĩ rằng:“Em đi qua đời anh, không thấy gì sao em?”Nàng đã có suy tư khác.“Ông trở về dang dở đời tôi”.Cũng tại hành lang nhà thương, chiến hữu lại bàn. Bây giờ nếu thầy Tường qua khỏi phải chăng lại về Half Moon Bay. Nếu ông đi luôn, rồi đây ai chẳng đi luôn, thì tang lễ làm sao. Nghe các ông khóa Vì Dân nói rằng sẽ không hỏa thiêu. Anh em chúng tôi sẽ chôn cất để sau này gia đình còn viếng thăm. Chuyện gia đình, không ai biết chắc được, có thể họ bay qua kịp thời. Nếu không sau này các con ông sẽ đến thăm, nếu không con thì các cháu sẽ đến thăm. Và các chiến hữu sẽ đến thăm..Câu hỏi nêu lên là, vậy sẽ đem thầy về nằm tạm ở đâu. Các bạn Vì Dân lại nói rằng. Dưới Nam Cali có chỗ rồi. Bác Tường về đây nằm với chúng tôi. Hơn 50 năm trước, anh em ta đã Vì Dân mà ra đời thì nay ta lại Vì Dân mà nằm xuống bên nhau.Không đưa ông về được Thái Bình, không về được Quy Nhơn, cũng chẳng về được Bến Cát, thì ta về đất Bolsa.Đó là nói chuyện sau này, bây giờ xin cầu cho ông tháo được cái vòng “Đi luôn” đeo ở tay rồi trở về với quán trọ bên đường ở miền Nửa vừng trăng khuyết.Ở đó vẫn còn các bạn Tây Đầm chờ ông thầy ra tay huyệt đạo chữa bệnh cao niên mỗi khi trái gió, trở trời. Ông sẽ ngồi xe lăn cho trọn kiếp trầm luân, ngày ngày ngó xuống phía Nam Bán Cầu, theo dõi bước chân của cô vợ Tàu lai và 2 đứa con đã trưởng thành bên Úc. Vợ đành như cơn gió thoảng, con đành như hơi rượu cay.Ngày xưa ông đã bỏ vợ con để sống chết với binh đoàn, ngày nay ông chỉ còn mong được bao bọc tấm thân già trong chút tình chiến hữu.
Giao Chỉ, San Jose.

Thursday, January 20, 2011


MỘT CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG CHỈ BIẾT NGẬM NGÙI...

Trong chuyến viếng thăm tiểu bang Utah, tôi đi thăm hầu hết các thắng cảnh nơi đây.
Thủ phủ của tiểu bang là Salt Lake City. Hồ nước mặn Great Salt Lake rộng mênh mông nằm trong vùng đồi núi Rocky Mountains cao hàng ngàn bộ cách mặt biển. Ðộ muối trong nước cao gấp năm lần nước biển đại dương. Một kỳ công của Thượng Ðế đã ưu đãi cho vùng đất cao nguyên này.

Utah còn là Thánh địa của đạo Mormon, đang phát triển rất mạnh. Ðến Utah không thể không đến viếng Mormon Temple. Một thắng cảnh, một kỳ quan có chiều dài lịch sử gắn liền với sự khai khẩn, xây dựng và phồn thịnh của Utah. Ðạo Mormon (Mạc Môn) còn tên gọi khác là Ðạo LDS viết tắt của chữ Latter Day Saints, có nghĩa là Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Jesus Christ (The Church of Jesus Christ of Latter Day Saints). Ðền thờ trung tâm có sáu ngọn tháp cao chót vót xây dựng suốt bốn mươi năm mới hoàn thành. Trung tâm giáo hội (Temple Square) trải rộng 35 mẫu Anh là một quần thể kiến trúc vĩ đại, tân kỳ, lộng lẫy và trang nghiêm. Trên đỉnh tháp đền thờ (Temple Of The Lord) cao vút là tượng một người đàn ông bằng vàng đứng thổi kèn. Ðây là tượng của vị thiên sứ ánh sáng Moroni hiện ra vào ngày 21 tháng 9 năm 1823. Ngài soi dẫn cho tiên tri Joseph Smith đương thời biết nơi chôn giấu biên sử cổ xưa. Sách ấy chứa đựng trọn vẹn Phúc Âm vĩnh cửu do chính Ðấng Cứu Rỗi đã ban cho các dân tộc. Từ đó, kinh sách Mormon được dịch và viết ra dựa vào bảng khắc bằng vàng (Gold Plates) chôn cất trên đồi Cumorah gần làng Manchester thuộc tỉnh hạt Ontario, tiểu bang New York từ năm 421 sau Thiên Chúa. Toàn bộ sách Mormon là lời rao giảng của Chúa Jesus Christ giữa người Nephites không lâu sau khi Chúa phục sinh. Ngài tiên tri Joseph Smith còn được Chúa khải thị viết nên tập Giáo Lý và Giao Ước.
Luật tiểu bang Utah không cho mở sòng bài và các hình thức đánh bạc công cộng. Các chợ chỉ bán bia với nồng độ 3 phần trăm. Kết hợp với "Lời Thông Sáng" của đạo Mormon, đạo hữu không cờ bạc, không hút thuốc, không uống các loại nước có ga và có màu khiến cho đời sống nơi đây yên bình hơn, ít tội phạm hơn so với tình trạng chung trên đất Mỹ. Và có thể nói là môi trường thích hợp cho tuổi thơ được nuôi dưỡng và lớn lên trong nếp sống trong lành.

* * *
Tôi đi theo đoàn người vào thăm khu Temple Square. Dọc theo lối đi là những luống hoa khoe màu rực rỡ. Mặt nước hồ nhân tạo được xây cao trên mặt đất nằm im phăng phắc như tấm gương vĩ đại phản chiếu lấp lánh ánh mặt trời. Các hình tượng điêu khắc đầy nghệ thuật và phong phú được trưng bày trên những bực thềm và dựng rải rác trong khuôn viên rộng lớn. Các chức sắc, những người truyền giáo và tín hữu làm công tác thiện nguyện trang phục vét-tông cà-vạt chỉnh tề. Họ có nhiệm vụ giữ trật tự, hướng dẫn và giải thích những điều mà khách thăm viếng và tín đồ hành hương cần tìm hiểu.

Tôi vừa bước lên khỏi bậc thềm khu nhà thờ Church Office Building, tòa cao ốc 26 tầng dùng làm trung tâm điều hành của giáo hội, chợt một thanh niên trong bộ vét-tông đen trông chững chạc và đạo mạo đến trước mặt tôi :
- Thưa, bác là người Việt ?
Tôi nhận ra là một thanh niên Việt Nam. Có lẽ đây là thầy Tư tế, một chức phẩm trong dòng đạo này làm công tác thiện nguyện vào ngày Chúa Nhật. Tôi đứng lặng nhìn người thanh niên đang đứng trước mặt tôi có khuôn mặt giống người bạn của tôi năm xưa khi ở chung trong trại tù sau năm 1975. Sự bàng hoàng trải qua mấy phút đồng hồ, tôi mới thốt nên lời:
- Vâng, tôi là người Việt. Xin lỗi cậu về sự thất thố đã đường đột nhìn cậu trong khung cảnh này. Có điều tôi cũng xin thú thật là cậu có khuôn mặt giống người bạn tôi hồi còn ở quê nhà.
Người thanh niên hướng dẫn tôi đi thăm khu Bảo tàng viện và Nghệ thuật gồm tranh ảnh và những bức tượng điêu khắc các vị Lãnh đạo (Presidents) và 12 Sứ Ðồ từ thời khai sáng đạo Mormon đến bây giờ.
- Này, cậu qua Mỹ năm nào? Tôi gợi chuyện, khi người thanh niên đứng lại đợi đoàn khách thăm viếng còn trụt lại sau.
- Thưa bác, cháu qua đây vào giữa năm 1992 theo diện HO cùng với mẹ cháu và một người chị được định cư ở tiểu bang Utah này ngay từ ngày đầu.
- Thế ba cậu đâu ?
- Ba cháu chết trong trại tù An Ðiềm .
- Ba cậu tên gì?
- Tôn Long Mỹ .
Tôi sửng sốt đến lặng người, rồi nhắc lại:
- Tôn Long Mỹ là cha ruột của cậu sao?
- Vâng ạ. Me cháu bảo ba chết lúc cháu mới ba tuổi.
- Cháu ơi, Tôn Long Mỹ là bạn của bác sống gần nhau suốt ba năm trong tù.
Người thanh niên đứng khựng lại nhìn tôi rồi thảng thốt kêu lên:
- Ba cháu là bạn cùng tù với bác? Ôi, quý hóa quá. Ðiều ước nguyện của me cháu là mong gặp được người nào đã chứng kiến cái chết của ba cháu trong tù. Thượng Ðế ơi ! ngài đã chuẩn nhận lời cầu xin của con và ngày hôm nay Cha trên trời đã mang đến cho gia đình con ân sủng của ngài. Con xin tạ ơn Chúa , Amen.

Người thanh niên ngẩng đầu lên:
- Thưa bác, tên cháu là Tôn Thất Trương Thuật. Cháu nghĩ bác không phải là người ngụ cư ở tiểu bang này vì vậy xin phép bác cho Me cháu được gặp mặt trong ngày mai. Có được không, thưa bác?
Tôi móc bóp lấy tấm danh thiếp của con trai tôi đưa cho Thuật:
- Ðây là số phôn và địa chỉ nhà con tôi. Qua đây chỉ để thăm con cháu và viếng cảnh, tôi chẳng có gì phải bận bịu. Me cậu muốn gặp tôi giờ nào cũng được, còn cả tuần nữa tôi mới quay về Cali.
* * *
Cuộc thăm viếng vẫn tiếp tục nhưng hình ảnh của Tôn Long Mỹ qua những năm tháng trong tù như một đoạn phim hiện ra trong trí nhớ của tôi:
Mỹ nhỏ hơn tôi 5 tuổi, vóc người tầm thước, khỏe mạnh và xốc vác. Tính tình thuần hậu, phóng khoáng. Anh rất sùng đạo Phật. Tuy nội quy cấm mọi hình thức có tính cách tôn giáo, nhưng Mỹ vẫn cố lén ăn chay vào ngày mồng Một và ngày Rằm âm lịch..

Ban giám thị trại chỉ định đội 3 phụ trách xây dựng chiếc cầu treo bắc qua dòng sông Côn để dân chúng làng Thượng và tù nhân có thể qua lại trong mùa nước lũ. Bên kia sông là cánh đồng rộng chạy dài đến tận chân đèo. Mỗi năm, tù phải sản xuất đủ ba mùa lúa. Mùa mưa thì tháo bớt nước ra, mùa nắng thì thay nhau đêm ngày tát nước lên đồng.

Hai bên bờ sông toàn là đất núi bị nước xoi mòn lâu ngày thành sông. Người ta chọn nơi có hai mô đất nhô ra là nơi hẹp nhất của dòng sông để bắc cây cầu đi qua. Những ngày đầu khởi công, đội làm cầu phải đào đất, đóng kè xây dựng hai môi cầu cho vững chãi để giữ chân bốn thanh đường ray xe lửa làm trụ chịu đựng sức trì kéo của cây cầu treo dài 80 mét.

Mùa lũ, nước chảy xiết đã khoét lõm sâu vào chân dọc hai bên bờ. Ðể nâng giữ khối đất phía trên khỏi bị sụp lở, tù phải xây những lớp đá vào chỗ lõm bên dưới. Ðang trong mùa nắng hạn mực nước sông xuống thấp tận cùng nên hai môi cầu là hai khối đất khổng lồ đứng chênh vênh bên bờ vực. Ðám tù hì hục đưa đá tảng lấp đầy khoảng trống dưới chân môi cầu.

Mỹ là tay thợ xây trong toán cất nhà cửa từ ngày vào tù. Cách làm việc của anh là tận lực, yêu nghề và tinh thần trách nhiệm cao mặc dầu anh chỉ là tù nhân. Mỹ có quan niệm : Bất cứ lãnh vực nào người sỹ quan Miền Nam phải thể hiện tài năng trước bọn cai tù. Ðừng để họ lấy cớ sự sai sót mà mạt sát lăng nhục mình. Chính vì thế mà anh nhận công việc nặng nề nhất là xây bệ đỡ cho khối đất bên dưới môi cầu.

Hàng trăm viên đá chẻ được một đội tù khác cung cấp chất đống trên mô đất dự định xây móng chân cầu. Sức nặng của đống đá cùng với sự hỏng chân của doi đất, khối đất trên đầu Mỹ bất ngờ đổ sụp. Mỹ bị chôn sống dưới khối đất khổng lồ. Bạn tù đã nổ lực đào bới để cứu anh. Nhưng, con người chỉ là sinh vật bằng xương bằng thịt làm sao chịu đựng nổi sức nặng hàng chục tấn của đất đá đè lên. Xác anh cuốn tròn mềm nhũn như con sùng. Nước mắt chúng tôi chảy ràn rụa. Lần đầu tiên người tù không che dấu dòng lệ của mình trước mặt bọn cai tù. Mỹ ra đi để lại nỗi đau đớn tận cùng cho người vợ trẻ và hai đứa con thơ.

- Thưa bác, đây là vị Tiên tri Joseph Smith được Chúa mặc khải viết ra Giáo Lý và Giao Ước. Cũng là vị Chủ tịch đầu tiên của Giáo Hội bầu ra tại một buổi họp của Hội Ðồng Thượng Phẩm trong ngày 24 tháng Chín năm 1834 tại Kirtland, Ohio.

Lời giới thiệu của Thuật làm tôi bừng tỉnh. Trước mặt tôi là bức tượng bán thân bằng đồng đỏ mà mắt tôi chỉ nhìn thấy thân thể của Mỹ đầy máu. Tất cả xương trong người anh từ đầu đến chân hầu như nát vụn. Thi hài anh khi được khiêng lên nó oằn xuống thoạt trông như một chiếc bao tời đựng thịt. Ðầu và mặt anh hoàn toàn bị biến dạng . Ðến đây, tôi không còn tinh thần và hứng thú để đi xem hết các công trình nghệ thuật trong viện bảo tàng nữa nên cáo từ Thuật ra về.

* * *
Sáng ngày hôm sau, tôi nhận được cú phôn của Thuật thật sớm mời tôi đến nhà hàng Mỹ Tiên vào lúc 12 giờ trưa, nhân tiện me của cậu xin phép được gặp mặt.
Tôi vừa đến cửa nhà hàng, Thuật đã vội vàng ra đón. Một phụ nữ mặc áo dài màu khói hương đứng dậy cúi đầu:
- Kính chào ông anh.
Tôi thật sự xúc động, khi Thuật giới thiệu đây là me của cậu. Khuôn mặt người đàn bà thanh tú, phúc hậu nhưng trong ánh mắt vương vất nỗi buồn. Tôi cúi đầu chào đáp lễ, rồi ngồi vào chiếc ghế đối diện mà Thuật vừa mới kéo ra mời.
- Thưa ông anh, giọng Huế nhè nhẹ, trầm buồn, người đàn bà tự giới thiệu:
- Em tên là Trương Thị Ngọc nghe cháu Thuật nói gặp được ông anh, người ở cùng chung trại tù An Ðiềm với ba nó. Em mừng lắm. Mặc dầu anh Mỹ mất đã gần 25 năm mà lòng em cứ phân vân, thắc mắc mãi khi nhận được giấy báo của trại tù rằng chồng em chết vì bệnh nhiễm trùng gan cấp tính. Trong khi đó đã hai lần em được anh ấy về báo mộng với khuôn mặt đầy máu me nhìn em trong đau đớn. Hình ảnh đó chưa phai mờ trong trí nhớ của em. Trước khi đi Hoa Kỳ, chúng em có đến trại An Ðiềm để xin dời mộ nhưng Ban Giám Thị trại không xác định được vị trí nơi chôn anh Mỹ, còn tù nhân toàn là lớp hình sự sau này. Cái nghĩa địa tù bị nước trên đỉnh núi cao đổ xuống xói mòn gần hết. Em vô cùng đau khổ, đến lúc ra đi mà chưa lo cho chồng được mồ yên mả đẹp. Hai đứa con em biết rõ niềm trăn trở đó, chúng nó luôn luôn cầu nguyện mong được gặp người biết rõ về cái chết của ba chúng. Cách đây hai đêm, em nằm mộng thấy nhà em về chùa. Trong cơn mơ em mừng quá chạy đến ôm anh ấy nhưng hình hài đó tan biến ngay. Không biết có phải đây là điềm báo của anh Mỹ rằng em sắp gặp được ân nhân. Em hy vọng ông anh biết rõ cái chết của chồng em và còn nhớ địa điểm mộ phần của anh ấy.

Người phụ nữ nói một mạch như trút cả nỗi lòng u ẩn bấy lâu nay. Tôi trân trọng trước lòng trung trinh tiết nghĩa của người vợ sống trọn đời thờ chồng nuôi con. Trước khung cảnh này đây, tôi không muốn khơi lại hình ảnh cái chết khủng khiếp của Mỹ. Tôi không muốn tạo thêm sự khủng hoảng trong lòng mỗi người. Vì thế, buộc lòng tôi phải lặng thinh xem như đồng lõa với sự dối trá của một chế độ luôn luôn che đậy sự thật và chối bỏ trách nhiệm của mình.

- Thưa chị, tôi lên tiếng. Cái chết của anh Mỹ, anh em tù chúng tôi đau lòng lắm. Ðời người chỉ một lần chết, tiếc rằng anh ra đi quá sớm. Phải chăng định mệnh đã an bài. Mong chị và các cháu thôi băn khoăn về nó nữa. Tôi vẫn còn nhớ chỗ chôn anh ấy trong nghĩa địa tù. Hứa với chị khi về lại Cali, tôi sẽ vẽ sơ đồ địa điểm ngôi mộ của anh Mỹ.

Khi tôi ngưng nói, bà lấy khăn thấm giọt lệ còn đọng lại trong khóe mắt, rồi tiếp lời:
- Thưa ông anh, nếu được, xin gởi cho em bản vẽ địa điểm mộ của anh Mỹ càng sớm càng tốt. Cuối năm này, cháu Thuật đi Việt Nam với phái đoàn thuộc "Hội Bạn Người Cùi Việt Nam" trụ sở ở Mỹ kết hợp với nhóm "Vòng Tay Bạn Bè" ở Hà Nội làm công tác thiện nguyện ủy lạo, giúp đỡ và chăm sóc cho những người mắc bệnh cùi. Nhân dịp này em sẽ theo cháu về dời mộ cho ba chúng nó .
Thuật đang ngồi yên trong góc bàn chăm chú nghe, tôi liền quay sang hỏi:
- Cậu về Việt Nam công tác bao lâu ?
- Cháu tình nguyện một năm.
- Sao lâu đến thế !
Bà mẹ tiếp :
- Cháu nó theo ngành Y, còn một năm cuối cùng thực tập trong bệnh viện ở tiểu bang này trước khi ra trường. Người yêu của nó là nữ sinh viên Việt Nam qua Mỹ du học. Chúng nó yêu nhau và dự tính sau chuyến đi này trở về sẽ tổ chức đám cưới tại đây. Thằng con em, nó sống cho tha nhân. Sẵn lòng dấn thân giúp đỡ cho người nghèo khổ, hoạn nạn dù bất cứ dân tộc nào. Hai chị em nó có cùng một quan điểm: “Thương người như thể thương thân.”
Tôi ngắt lời :
- Vậy hiện giờ cháu gái ở đâu?
- Cháu có chồng là một Mục Sư Tin Lành người Mỹ hiện ở Colorado. Trận thiên tai, bão lụt nào ở Việt Nam bị thiệt hại nặng nề là vợ chồng nó đều gởi về cả tấn áo quần, chăn mền do Thánh đường quyên góp.

Sau bữa cơm trưa tại nhà hàng, tôi từ biệt mẹ con Thuật ra về. Một tuần lễ sau tôi lên máy bay trở lại tiểu bang Cali. Ðể thực hiện điều mình đã hứa, tôi ôn lại vị trí của nghĩa địa tù An Ðiềm để vẽ cách nào đơn giản nhất mà gia đình của Mỹ có thể tìm được mộ anh dễ dàng. Tôi không tưởng tượng được hiện giờ nghĩa địa ấy bị hoang phế ra sao, nhưng chắc chắn là nước mưa từ trên núi đổ xuống đã san bằng tất cả. Những tấm bia bằng gỗ tạp trải qua trên hai chục năm không thể tồn tại với thời gian. Rất may là ngôi mộ của Mỹ nằm sau gốc một cây đại thụ che chắn. Nước có thể xoi mòn phần trên mặt nhưng xương cốt Mỹ nằm sâu dưới đất không thể trôi theo dòng nước. Trong sơ đồ, tôi ghi rõ trên thân cây đó có bốn nhát búa hình chữ M do anh em tù trong đội thay nhau khắc vào. Ðó là dấu tích mà tôi hy vọng gia đình của Mỹ sẽ tìm ra.

Nhận được bản phác họa chỉ dẫn,Thuật điện thoại sang cảm ơn và tin cho tôi hay tháng tới sẽ lên đường về Việt Nam.

* * *
Ba năm sau, tôi trở lại Utah trong mùa Giáng Sinh. Ðồi núi vây quanh thung lũng rộng lớn trở thành những dãy núi tuyết sáng trắng. Tuyết phủ đầy trên mái nhà và tràn ngập hai bên lề đường.
Trong ngày Giáng Sinh, tôi theo đoàn người tiến vào khu Temple Square. Vừa bước chân vào đây là tôi cố ý tìm gặp cậu Tôn Long Trương Thuật để hỏi thăm tin tức về mẹ cậu và việc dời mộ của bố cậu như thế nào. Tôi dạo trong khu Tabernacle nổi tiếng với cây đàn Orchestra khổng lồ gồm 11,000 ống tupe kim loại ghép lại. Có thể nói đây là cây đàn lớn nhất thế giới. Rồi đến khu Conference Center, chứa 21,000 chỗ ngồi và 900 ghế cho ca đoàn. Hội trường được thiết kế với kỹ thuật hiện đại mà âm thanh của hai mảnh giấy cọ vào nhau trên khán đài, người ở cuối phòng cũng nghe được. Sau cùng, tôi tìm tới khu Joseph Smith Memorial Building, nơi đây chung quanh tường có những phù điêu chạm khắc mỹ thuật và tinh xảo nhưng vẫn không thấy Thuật đâu. Tôi ra về mà nghe lòng mình trống trải vô cùng.

Ngày mồng một âm lịch, tôi đến viếng cảnh chùa Tam Bảo. Những bông tuyết rơi đầy trời, phủ trắng cả sân chùa như trải thảm bằng bông. Hàng cây kiểng chạy dài trước sân lung lay những mảnh tuyết vỡ trên cành lá. Tôi đang dạo bước trên lối đi vào chánh điện, chợt một ni cô đến trước mặt tôi vái chào. Tôi sững sờ khi nhận ra người phụ nữ ba năm về trước,Trương Thị Ngọc. Bà cho biết đã quy y mang pháp danh Diệu Ngọc. Chỉ ba năm thôi mà trông bà cằn cỗi, già đi rất nhiều. Ðôi mắt tràn ngập nỗi ưu tư, sầu não. Bà mời tôi vào nhà khách dùng trà. Ni cô lên tiếng:
- A Di Ðà Phật, trước tiên bần ni xin đại diện gia đình bày tỏ lòng tri ân đến ông anh. Nhờ bản vẽ địa điểm ngôi mộ rõ ràng từng chi tiết nên chúng tôi đã tìm được mộ phần của anh Mỹ khá dễ dàng. Hài cốt của anh ấy đã được đem qua đây thờ trong chùa. Những tưởng linh hồn anh Mỹ được thanh thoát... Nói đến đây, chợt những giọt lệ long lanh trong mắt của ni cô trào ra.
Tôi ngạc nhiên, vội hỏi:
- Ðã có chuyện gì xảy ra?
Ni cô cúi đầu để dấu đi những giọt lệ mà một sa di cần phải đè nén. Hồi lâu bà mới ngẩng mặt lên:
- Sau một năm chăm sóc những nạn nhân bệnh cùi ở Việt Nam, cháu Thuật trở lại Hoa Kỳ. Ban đầu, Thuật trốn tránh người yêu của nó và cuối cùng quyết định dứt khoát không còn liên lạc với nhau. Một thời gian sau, trên mặt cháu xuất hiện những mụn sưng đỏ. Tôi hỏi, nó lảng tránh, không trả lời. Dần dần cháu nó ít về nhà hơn. Cách đây một năm, cháu về Việt Nam ở lâu dài. Vừa rồi tôi nhận được thơ của nó.
Bà ngưng kể, lấy trong túi áo trao cho tôi một lá thư đã nhàu, nội dung khá ngắn gọn: “Có lẽ ý muốn của Chúa dành cho con một đời phải hy sinh phục vụ cho nhân sinh đang gánh chịu nỗi thống khổ của căn bệnh hiểm nghèo. Con rất thỏa lòng khi chính bàn tay mình thoa dịu được nỗi cô đơn của bao người bất hạnh. Tuần này ở trại cùi Quy Hòa thuộc tỉnh Bình Ðịnh. Tuần sau có thể ở làng phong cùi Ðồng Lệnh tận tỉnh Tuyên Quang để chăm sóc cho các bệnh nhân. Mong me xem con như được Chúa đón đi từ lúc mới lọt lòng.”
Chờ tôi đọc xong bức thư, bà tiếp :
- Khi hiểu ra thằng con đã mắc bệnh phong cùi, tôi đã khóc suốt đêm trường. Mỗi lần nghĩ đến nó là lòng tôi quặn thắt như đứt từng đoạn ruột, tê dại cả tâm hồn.
- Thưa bà, tôi lên tiếng an ủi : Có phải chăng đây là sự sắp đặt củaThượng Ðế? Theo tôi được biết bệnh phong cùi không dễ truyền nhiễm cho người chăm sóc khi đã ngăn ngừa đầy đủ, vả lại đã có thuốc điều trị tổng hợp từ thập niên 70 – 80. Thuốc tiêu diệt được vi khuẩn, giảm thiểu lây lan.
- Nhưng, thưa ông anh, bà mẹ của Thuật nhìn tôi không còn là ánh mắt một ni cô mà trở về với ánh mắt chuyên môn của một y tá viên điều dưỡng, nghề nghiệp của bà ngày xưa:
- Thuốc có thể chữa lành bệnh với đa hóa trị liệu nầy, nhưng không phục hồi được tổn thương của dây thần kinh làm biến dạng mặt, biến dạng bàn tay bàn chân. Ðó là những dấu tích mà con tôi phải chịu đau lòng, mang mặc cảm tủi nhục suốt đời của người mắc bệnh phong cùi !

Nói đến đây, bất chợt ni cô Diệu Ngọc ôm ngực chạy về hướng tịnh thất.
Tôi thật sự xót xa trước nỗi đau của người mẹ như đã nhận lãnh cơn đau của con trai mình. Riêng về Thuật, tôi cảm nhận được đức tin cao cả của chàng. Ðức tin đã vượt lên trên những ước vọng tầm thường mà người phàm đeo đuổi. Tôi tin rằng Chúa sẽ dẫn dắt cậu ấy đi trọn vẹn cuộc đời hạnh phúc sống vì tha nhân.

Chỉ biết ngậm ngùi, tôi đẩy cửa bước ra ngoài. Gió mỗi lúc mỗi mạnh thổi nghiêng ngả hàng cây trụi lá đứng chơ vơ hai bên đường. Cái băng giá ngoài trời làm tăng thêm nỗi u hoài trong tôi. Lê đôi chân nặng trĩu, tôi bước đi dưới bầu trời đang cơn bão tuyết. Từng mảnh tuyết hắt vào mặt tôi như những mảnh vỡ thủy tinh thay nhau cứa vào da thịt tôi rát buốt. Tôi vuốt mặt, tuyết tan ra nhơn nhớt trên đôi tay. Bất giác, tôi có cảm tưởng như máu và đất trộn lẫn nhầy nhụa trên tay tôi ngày nào đã vuốt mắt cho Mỹ khi xác anh nằm bất động trên bờ sông Côn. Tôi lau nhanh những giọt lệ đọng bờ mi trước khi bước lên chiếc xe bus cửa mở sẵn đợi chờ.
Hạo nhiên Nguyễn Tấn Ích

Trờ vê đầu trang


Tuesday, January 18, 2011

Năm Mão nói chuyện Mèo
Phạm hoàng Chương

Năm Cọp chưa qua hết, nhà nhà đã buồn rầu đón năm con Mèo . Nói “buồn rầu” là vì Mèo nhỏ hơn Cọp, năm nay ăn Tết nhỏ hơn năm ngoái, vì kinh tế vẫn còn bết bác, có lẽ còn bết hơn cả năm ngoái, số người mất việc tăng mà quỹ tiền thất nghiệp chính phủ đã cạn, Cali phải vay của Liên Bang để trả tiền thất nghiệp cho công tư chức. Mèo cũng là Cọp, một loại Sơn Miêu bà con gần của Cọp, nhưng bị Tạo hoá thu nhỏ lại gấp trăm lần, sống dựa dẫm vào con người ở thôn xóm, thành thị để sinh tồn. Mèo có đủ tất cả nhưng gì Cọp có: răng nanh bén để xé thịt, móng vuốt sắc để chụp mồi, ánh mắt vô cảm thôi miên con mồi, lòng bàn chân có thịt dày êm ái để đi đứng, leo trèo, nhảy nhót, rình rập yên lặng không gây tiếng động. Có râu ria, tai vểnh, đuôi dài, lông mịn, đi đứng khoan thai mềm mại, quí phái. Bắp thịt mèo mềm mại hơn bắp thịt cọp, có lẽ vì không phải lao động vất vã leo trèo chạy nhảy trong rừng sâu suốt ngày để kiếm mồi, mà được chủ nhà nuôi ăn cơm thừa cá cặn mỗi ngày, lại giỏi bắt chuột bắt chim để thỉnh thoảng đổi món,“cải thiện”khẩu phần.

Mèo ở Việt nam có nhiều giống, mèo đen, mèo trắng, mèo mướp, mèo vằn, mèo vá, mèo Xiêm, mèo nhị thể, tam thể. Mèo tam thể được quí nhất, không biết vì đẹp, hiếm có, hay vì bắt chuột giỏi hơn các chuột khác. Mèo có loại đuôi cụt,đuôi dài. Đuôi dài hình như đẹp hơn, vì làm mèo có dáng đi lững thửng, quí phái, thướt tha. Do đó, tục ngữ ta có câu: “Mèo khen mèo dài đuôi” để chỉ những kẻ hay nói tốt về mình, hay khoe khoang gia đình, vợ con mình.. Ở Mỹ và Âu châu, có nhiều giống mèo lạ, to con, mắt xanh, mắt vàng , mắt xám, to con, bệ vệ, lông đủ màu xù ra như đồ chơi, và nói chung đa dạng, đẹp hơn mèo Việt nam. Về mỹ thuật, mèo đẹp nhất ở cặp mắt, to, sáng, trong veo như hòn bi, và đủ màu sắc: xanh, vàng, xám. Ở trong bóng tối, con ngươi đen tròn to, ra sáng con ngươi thu nhỏ lại tí xíu. Đồ chơi cho con nít, hay các đồ đạc bằng sứ xinh xắn, mèo được chọn làm mẩu ngang với chó và gấu, nhờ ở vẻ đẹp quí phái của dáng dấp, khuôn mặt,và đôi mắt huyền bí. Vào lễ Haloween, mèo đen được trang hoàng cùng với nhện, đầu lâu, dơi…để gây cảm giác sợ hãi cho trẻ con. Mèo tánh đa nghi, nhìn hai con mắt lạnh lùng vô cảm thì biết ngay, nên chơi với những người có mắt mèo ta phải luôn luôn cẩn thận đề phòng. Lông mèo, cũng như chó, thường gây allergy (dị ứng) cho một số người, lại hay rụng, nên ai có bệnh suyễn, khó thở, hay ho kinh niên, tuyệt đối không nên nuôi mèo trong nhà.

Mèo chính yếu được nuôi trong nhà để bắt chuột, nhưng nhiều khi không có chuột, hay chủ quên không cho ăn, đói quá phải rình bắt chim trong xóm hay sóc con trong rừng. Tuy vậy nó là một loại súc vật có tài nhịn đói lâu rất giỏi. Khác xa với heo, không phải cái gì loài người cho, mèo cũng ăn. Nó hít ngửi hai ba lần coi có ngon không trước khi liếm láp, và không ăn nhiều..Cho nên nuôi mèo không tốn kém, nó kén ăn và ăn uống từ tốn, nhỏ nhẹ, món nào dở chỉ liếm láp qua loa rồi bỏ đi, thà nhịn đói còn hơn. Vì vậy, trong khi “ăn như cọp” dùng chỉ mấy người hùng hổ tham ăn, “ăn như mèo” chỉ những người ít ăn. Nói đến mèo, ai cũng nghĩ ngay đến chuột, vì mèo hay đuổi chuột và ăn chuột, chứ các con thú khác không biết ăn chuột. Cổ tích Việt nam hay kể chuyện Mèo mắc lừa chuột như sau:

Xưa có con mèo già bắt được con chuột nhắt tính ăn. Chuột khôn ngoan nói ngày mai nhà có giỗ, đang mua tôm tép về làm cỗ, mời Mèo mai tới xơi cỗ, nhà ở trên ngọn cây cau. Mèo tham ăn,thả ngay chuột ra. Sáng mai ăn mặc chỉnh tề ra vườn trèo lên cây cau thì chả thấy họ hàng nhà chuột ở đâu, chả thấy tôm tép gì cả. Mèo kêu gọi khản cổ, hết hơi chả thấy tăm hơi chuột đâu,mới biết là mắc lừa. Bởi vậy, ca dao Việt nam ta có câu:
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đàng xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo
nói lên duyên nợ ơn oán giữa mèo và chuột như một mối thù truyền kiếp nhiều đời. Mèo là con thú đáng sợ đối với chuột chim…nên có câu chuyện bịa ra rằng họ hàng nhà chuột họp nhau, hăng hái đề nghị cử một người hùng can đảm đi gắn chuông lục lạc vào cổ mèo để báo động mỗi khi mèo tới, nhưng khi hỏi ai xung phong làm chuyện đó thì không con nào dám dơ tay . Tuy vậy, không phải lúc nào mèo cũng ăn chuột. Cái gì béo béo, mỡ màng là mèo thích. Như bơ sữa, mỡ heo, thịt cá tươi sống. Thích bắt chuột là bản tính mèo, nhưng ăn hay không ăn, cũng tùy mèo con nhà giàu hay con nhà nghèo.
Mèo con nhà giàu có sẵn đồ ăn mua ở tiệm, không phải vô bếp lục nồi niêu xông chảo như mèo nhà nghèo. Mèo nhà nghèo đôi khi bị bỏ đói mới phải rình chuột ăn, hay ra đồng rình bắt chim. Có khi đói quá ăn bậy bạ phải đồ thiu thối, trúng độc, không tiêu, hay mửa ra òng ọc, dáng điệu thảm não đau đớn rất đáng thương. Mèo nhà giàu quen ăn của ngon vật lạ, chỉ giết chuột chứ không ăn thịt, vì mùi chuột hôi, nhất là chuột cống, chuột chù.

Vậy mà tục ngữ ta lại có câu “Không có chó, bắt mèo ăn cứt” , tất nhiên mèo không đời nào chịu ăn, nhưng nghĩa bóng câu này rất thú vị, chua chát, đắng cay.Việt nam ta có tật muốn cho ai cái gì, thường hay cho con cái, anh em bà con trước, hễ họ chê mới thảy cho người ngoài. Dân nhà quê hay nuôi chó, ngoài việc giữ nhà, còn để ăn cứt con nít cho khỏi mất công hốt dọn , lau chùi. Khi chó chê, mới kêu mèo tới ăn, vì đâu còn con nào khác ngoài heo với gà. Cho heo ăn thì phải mang tới tận chuồng, vã lại, sau này ăn thịt heo mà nghĩ đến việc heo ăn cứt thì cũng lợm giọng mất ngon. Gà cũng ít khi ăn của dơ đó, gà cũng biết rửa mỏ khi mổ trúng đồ dơ.. Chỉ còn mèo. Nhưng ai cũng thừa biết Mèo là loại tiểu thư đài các, kén ăn, có bao giờ thèm ăn đồ bẩn thỉu hôi thối như vậy. Câu này hay dùng để mỉa mai những người keo kiệt, tính toán hơn thiệt, đem bố thí các thứ hư gãy, cũ kỹ, không còn dùng được..Ngược lại, khi con người hết chó, mới xoay ra ăn thịt mèo. Nhiều chủ quán khi hiếm thịt, phải giết mèo làm thịt, thêm gia vị, nói láo là thịt thỏ, thịt rừng. Sau năm 75, có những anh em tù cải tạo, thiếu ăn, đói khát, đôi khi phải dí bắt tắc kè, rắn rít, mèo hoang để lột da làm thịt ăn, bồi bổ cơ thể thiếu chất đạm trầm trọng.

Mỡ là món khoái khẩu số 1 của mèo, chỉ cần có chút mỡ heo để liếm láp cũng đủ no, không cần phải ăn thịt. Để chê ai quá mê thích cái gì, thiên hạ nói “Sáng mắt lên như mèo thấy mỡ”. Những kẻ mê gái, mê trai , lén lút thậm thọt, thiên hạ gọi là “mèo mỡ’ với nhau. Ngược lại, ghét nhau hay xung khắc nhau, thiên hạ lại gọi là “ủng oẳng như chó với mèo”. Trời sanh chó và mèo tánh tình trái ngược nhau mà phải ở chung một nhà, nên hay ẩu đả gấu ó nhau. “ Lục đục nhau như chó với mèo” nói lên loại người hay xung khắc nhau , có nhiều trong gia đình cũng như ngoài xã hội, hễ gặp nhau là gây sự cãi lộn. Mèo như cô nàng tiểu thư đài các, sắc sảo mà nhỏ mọn,ghim gút, chó như tên phàm phu tục tử hỗn láo, ồn ào, vô ý vô tứ, thấy nhau là tránh mặt hay gầm gừ mắng chửi nhau rồi bỏ chạy.

Cũng như chó, mèo hay cắn lộn khi giành ăn. “Không biết mèo nào cắn mỉu nào” là câu tục ngữ nói lên cuộc chiến đấu bất phân thắng bại giữa hai người, hai phe, hai đội. Không phải hễ cứ to xác là thắng trận. Có nhiều mèo (hay chó) nhỏ con mà mưu trí, dũng cảm, và hung dữ gấp hai các con to lớn, ồn ào. Mèo sợ nước, thích nằm chỗ khô ráo ấm áp về mùa đông và lăn lộn trên cỏ xanh về mùa nóng. Một năm, mèo lên cơn sốt ái tình chỉ một lần vào mùa hè. Mèo cái kêu ngao ngao suốt ngày, bị chất hormone hành hạ trong cơ thể, lang thang đi kiếm đực. Mèo đực cũng bị chất testerone sôi réo trong máu, xục xạo tìm mèo cái ve vãn. Mèo đực, mèo cái chạy trên mái nhà kêu réo ầm ỹ bất kể ngày đêm, có khi hai chàng đực tranh dành một nàng cái, nửa đêm đánh ghen cắn xé the thé ầm ỹ trên mái nhà, làm chủ nhà giựt mình tỉnh ngủ, vác cây đánh đuổi. Hết mùa ái tình rồi thì mạnh ai nấy đi, nàng và chàng nhìn nhau bằng con mắt xa lạ dửng dưng, rồi mèo cái bụng mang dạ chửa, khệ nệ đi đứng, miệng kêu meo meo đòi ăn tẩm bổ. Mèo có thai rất kén ăn, thèm chất thịt, chất cá, chê cơm trắng đơn sơ. Mèo đực sở khanh, không có trách nhiệm kiếm mồi nuôi vợ như cọp, nên mèo cái rất đáng thương trong thời kỳ này. Bị chó rượt, không chạy được nhanh, phóng lên cao không nổi, phải tìm cách chui núp trong bụi, hay gầm giường. Mèo, do đó, trong tiếng lóng bình dân, có nghĩa là “nhân tình nhân ngãi”, dùng cho cả hai phái nam và nữ, nhưng thường là nghĩa xấu, loại bồ bịch qua đường lén lút, không phải là loại người yêu đàng hoàng công khai ban ngày ban mặt trước đám đông. Trong điện ảnh của Holywood, thập niên 60s, dựa theo tiểu thuyết, diễn tả sự thèm khát yêu đương của người đàn bà như mèo cái trong mùa hè, có một phim nổi tiếng do Elizabeth Taylor và Paul Newman đóng, tên “The cat on a hot tin roof”, dịch là “Con mèo cái trên mái nhà tôn nóng bỏng”, kể chuyện một người vợ trẻ đẹp, sung sức, phải sống cô đơn triền miên với một anh chồng mắc bệnh lãnh cảm thích ngủ riêng.

Mèo chó đều sanh đẻ năm sáu con một lứa, nhưng chó con lại được quí hơn mèo con, đăng báo bán được giá, trong khi mèo con chủ hay quăng ra ngoài đường cái hay dìm sông cho chết. Ở Việt nam,chó có thể bán cho hàng thịt chó lấy tiền, rượt đuổi chuột thay cho mèo, lại giữ nhà canh ăn trộm rất giỏi, trong khi mèo lười biếng, ngủ suốt ngày,lại hay ăn vụng. Có lẽ đó là lý do mèo bị quăng ra đường và trở thành mèo hoang rất nhiều. Mèo hoang sau biến thành thành ngữ “mèo mả gà đồng” , dùng để chỉ những phường khố rách áo ôm, lang thang không nhà không cửa, phải trộm cắp, hay làm những việc bất lương để sinh sống ngoài lề xã hội.Trong truyện “Thằng người gỗ Pichonio” của Pháp dành cho trẻ em, nhân vật Mèo và Chồn đại diện cho hạng người gian ác, xảo quyệt,chuyên sống bằng nghề lường gạt.

Có một câu truyện ngoại quốc nọ Mèo được ca tụng và yêu quí: Cậu trai mồ côi nghèo kia làm cho chủ, gia tài chỉ có một con mèo. Cậu theo chủ lên tàu đi buôn ở các nước xa. Đến một hòn đảo nọ,trong nước có nạn vô số chuột cắn phá hoa màu đồ đạc mà không có thuốc trị. Sau khi mua một số hàng của người lái buôn, Vua làm tiệc đãi. Chuột leo lên cả bàn tiệc vua đãi liếm láp, nhấm nháp, chạy náo loạn ào ào. Cậu trai bèn lôi con mèo ra, thế là cả trăm con chuột hoảng hốt phóng chạy biên mất trong chớp mắt. Nhà vua sửng sốt nhìn con vật lạ long mắt sòng sọc,gầm gừ “ngao ngao”, năn nỉ xin mua cho được. Người lái buôn đòi 1000 lạng vàng, vua lập tức sai mở kho xuất vàng ra liền, âu yếm ôm con vật quí giá vào lòng. Trong nước hết ngay nạn chuột, mà cậu trai cũng đột nhiên trở thành triệu phú.

Tục ngữ ta có câu “Dấu …như mèo dấu cứt” quả là tượng hình và chí lý. Mèo tánh thích sạch sẽ, thích nằm chỗ cao ráo, tay chân dính chất dơ hay vung vẫy cho sạch, thường hay liếm láp bộ lông để rửa, khác hẳn chó xông vào vũng nước để kỳ cọ tắm táp. Mỗi khi phóng uế, Mèo cẩn thận dùng chân cào đất để lấp kín cho khỏi bay mùi hôi, khác hẳn chó đái ỉa bậy bạ khắp nơi, bắt loài người phải đi gắp lượm bỏ thùng rác..Tuy vậy, cũng như người, có người ngăn nắp ,sạch sẽ, gọn gàng, có người luộm thuộm, bày hày, nhếch nhác, có những chị mèo cái nết na, bắt chuột giỏi, nuôi con chu đáo, nghiêm trang khen thưởng trừng phạt con cái y như người, thì cũng có những chú mèo mất nết, ăn hại đái bát, chủ mới mua miếng thịt về chưa kịp rửa, đã phóng tới đớp nhảy thoắt lên mái nhà nhai ngấu nghiến. Mèo không phải con nào cũng lịch sự. Có những con lựa ngay đống quần áo chủ nhà mới giặt sấy xong còn ấm áp, chui vào phọt ngay cho một bãi nhẹ bụng rồi rảy tay, rảy chân bỏ đi. Chính tôi đã có lần đích thân lừa thế bắt một chú mèo hư trong nhà như vậy chở Honda lên vùng kinh tế mới , thả vô rừng cho tập tính lao động, tự lực cánh sinh. Không ngờ đêm đó nó trở lạị nhà bếp chủ nhà dân kinh tế mới gần đó, vọc miệng ngay vào niêu cá kho ăn vụng.

Cổ tích Pháp có một câu chuyện Mèo rất hay, hồi nhỏ tôi thường được Ba dịch ra tiếng Việt kể cho nghe, tương tự như chuyện “Cây khế vàng” của Việt nam. Hai anh em nọ cha mẹ chết hết, chia của, người anh dành hết nhà đất, chỉ chia cho người em có một con mèo trắng, nhưng con mèo lại rất khôn ngoan, giúp chủ bằng cách săn bắt thỏ rừng, vịt nước, mang giày bôt, đội nón lông ngỗng, áo vét đính khuy nút vàng, ăn mặc sang trọng, đem tới các lâu đài nhà quan biếu, xưng chủ mình là bá tước này nọ, sai mang tới biếu để làm quen. Đi chơi ngang qua các lâu đài sang trọng, Mèo đều bảo các đại gia rằng đó là một trong các tài sản của chủ nó. Giới quí phái giàu có tin Mèo răm rắp. Dần dần, bằng các mưu mẹo tinh vi khác tôi không còn nhớ rõ, Mèo khiến chàng chủ nghèo của mình trở thành chủ nhân một tòa lâu đài lớn sang trọng, chiếm đoạt của kẻ khác, có nhiều kẻ hầu hạ, và chính mình trở nên vị quản gia ăn mặc sang trọng, ngày ngày sánh vai đi dạo cùng chủ.

Để kết luận bài Phiếm luận về Mèo trong ba ngày Xuân, người viết xin có một lời cầu chúc đầu năm, mượn câu chuyện cổ tích trên để hy vọng qua năm mới, như chú Mèo thông minh đã giúp chủ từ kẻ tay trắng thành người phú gia, các vị dân cử mới của Đảng Cọng hòa sẽ sang suốt khéo léo giúp tổng thống Obama sớm vực dậy nền kinh tế còn đang trì trệ trong vòng suy thoái kéo dài đã hai năm nay, kẻ thất nghiệp thành người có việc, hãng xưởng đóng cửa sẽ lục tục mở lại, thu hút giới trẻ có tài đang chịu bó tay . Năm Cọp năm ngoái cũng như năm Mèo năm nay, đều rất đáng sợ, vì Cọp và Mèo đều là loại thú sát sanh ăn thịt, bà con hãy cẩn thận tiết kiệm ngân sách, chi tiêu dè dặt. Ước mong những khổ chủ nào bị mất nhà sẽ có cơ hội mua nhà trở lại, tất nhiên là phải liệu cơm gắp mắm, mua nhà nho nhỏ vừa túi tiền đồng lương… kẻo thời thế giặc giã chiến tranh tới nơi, thiên tai dồn dập khắp nơi , không biết đâu lường, coi chừng lại phải trắng tay, kéo nhau ra đường, vợ chồng con cái lếch thếch , gia dình chia năm xẻ bảy tản mác khắp nơi…

Friday, January 14, 2011

TÌNH ANH LÍNH CHIẾN
CẨM MINH

Sinh ngồi dựa vào ghế sau, miệng phì phà điếu thuốc cho ấm lòng. Gió lạnh vì vèo thổi vi vu từ trên rặng núi xa, tạt qua con đường quan san sâu hun hút. Người tài xế, Hạ sĩ Ba, đệ tử ruột của Sinh, đang điều khiển tay lái. Chiếc xe Jeep như lênh đênh, bồng bềnh, gập ghềnh vượt qua những đoạn đường có nhìều lỗ ổ gà, những chỗ đất đá bị sụp, bị xoáy mòn, những khúc đường xấu chưa được sửa chữa lại. Rồi chiếc xe con lại lăn bánh êm ả, bon bon trên những đoạn đường nhựa phẳng bằng. Ngồi trên xe nhà binh hôm ấy chỉ có ba thầy trò Sinh. Anh tà lọt tay cầm khấu súng tiểu liên M16. Người lính tài xế để bên cạnh mình cũng khẩu súng loại này, trong khi đôi tay điều khiển tay lái cho xe vượt nhanh trên đường thiên lý xa xôi diệu vợi. Còn Sinh thì mang súng Colt của cấp chỉ huy. Vị Đái Tá Tư Lệnh, chiếu theo đề nghị của Tr/Tá Trung Đoàn Trưởng cho phép Th/Úy Nguyễn Sinh 15 ngày phép về Nha Trang cưới vợ. Vào đầu thập niện 70, cuộc chiến càng ngày càng sôi động, không dễ gì quân nhân được nghỉ phép lâu ngày như thế, ngoại trừ những trường hợp thật đặc biệt như quan, hôn, tang, tế khẩn trương lắm mớí được cấp trên cứu xét. Được phép đơn vị trưởng về thăm người yêu là hiệp sĩ Sinh “ dọt” ngay. Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng cũng vui vẻ cho mượn chiếc xe Jeep. Chàng chỉ cần một tài xế và người tà lọt theo hộ tống minh vượt đường liên tỉnh lộ từ trên Cao nguyên ra Bình Định, rồi vô Phú Yên / Tuy Hòa. Sau cùng là về tới Nha Trang, nơi song thân, anh chị em và người yêu, vị hôn thê của chàng, đang cư ngụ và chờ đợi người chiến sĩ tiền tuyến về phép làm đám cưới.

Lúc này, xin máy bay về quê thật khó khăn. Phải chờ đợi cho có chuyến bay thì
” Hỡi ôi! Thăm thẳm chiều rơi
Máy bay có chuyến, phép thời đi đong.”
Ngoài ra, đường bộ thật là nguy hiểm vô vàn. Thường thường bị đối phương đắp ụ, chận xe đò đóng thuế hay phục kích giật mìn các loại quân xa trên đường thiên lý quan san. Nhiều quân nhân bị địch bắt sống hay bị giết thê thảm vì di chuyển bằng đường bộ. Bây giờ hiệp sĩ Sinh ngâm nga giải buồn các vần thơ tình lãng mạn vu vơ.

Sau gần hai ngày, một đêm xe mới về đến quê nhà. Họ đã vượt qua con đường liên tỉnh lộ từ Cao Nguyên xuống các tỉnh miền duyên hải Trung Phần đến mấy trăm cây số ngàn xa xôi vời vợi. Rừng núi trải dài ngút ngàn. Đường đá, nhựa, nhiều nơi lởm chởm ổ gà gập ghềnh, khó khăn vô cùng. Hành trình thật là gian lao, vất vả, mệt nhọc và lo âu hồi họp đủ thứ. Thật là may mắn về tới nơi an toàn xa lộ. Họ mừng húm. Thế rồi, cuối cùng, người hùng cũng được sum họp với người yêu. Đây là ngày trọng đại của chàng- nàng, của vị Sĩ quan QLVNCH, thụộc SĐ 23 BB và cô giáo đang dạy học tại“ Nha Thành mến yêu, Nha Trang miền thùy dương cát trắng “ của nhạc sĩ Minh Kỳ.
Thật ra trước đây, khi hai người mới quen nhau, chàng đã dám lấy xe Jeep của bạn lái một mình dến gặp người yêu đang công tác tại chốn xa xôi hẻỏ lánh tại vùng quê vắng vẻ đìu hiu. Chàng nhà ở Xóm Bóng, gần Tháp Bà, Nha Trang. Nhà nàng cũng ở gần đấy. Tuy nhiên, người đẹp đang dạy học tại một thôn nhỏ ở vùng Suối Dầu. Đường quốc lộ từ Nha Trang vào nơi đây, lúc đó không được an ninh, an toàn cho lắm vì địch hay đắp mô, đặt mìn, chận xe bắt quân nhân, công chức của VNCH. Lái xe nhà binh đến nơi, chàng phải liều lĩnh cho chiếc Jeep chạy vào một xóm nhỏ nằm ven khu rừng thưa, dân cư nhà cửa rải rác đó đây. Ngôi trường tiểu học bé nhỏ nằm khiêm nhường ven rừng cây xơ xác, hoang vu, quạnh quẽ hết nói. Quả là ẩu thật, phải không kính thưa quý vị?
- Lạy Chúa đã che chở cho con. Lạy Trời, lạy Phật đã hộ trì cho con.

Sinh thường lẩm nhẩm thầm tạ ơn trên. Có lẽ bề trên đã cảm động cho chàng- nàng gặp nhau, cho đỡ thương, đỡ nhớ, đỡ sầù vấn vương. Sinh còn nhớ như một giấc mộng vừa mới xảy ra hôm qua. Bữa đó, lần đầu tiên, chàng mạo hiểm lái xe Jeep vào Suối Dầu thăm người tình . Trời đã khá trưa, chàng mới vào tới ngôi trường nơi nàng dạy học. Học trò đang ngồi nghe cô giáo giảng bài. Sinh bước trên hành lang vắng vẻ. tiếng giày nhà binh lộp cộp vang đều trên thềm xi măng. Bên kia là khu rừng thưa, cây cao chất ngất. Các em hoc sinh đang nghe chăm chú cô giao giảng bài công dân. Các học sinh lớp nhất cũng đã 10,11 tuổi, trông thấy chàng. Chúng dường như ngỡ ngàng, ngạc nhiên nhìn vị SQ trẻ, mặc quân phục xanh màu lá rừng, mang cấp bậc Th/Úy . Ông ta như đang tìm người quen. Lúc đó, Hoa, bạn tri âm của chàng, quay đầù nhìn ra hành lang chói chang nắng hạ khi nàng thấy lớp học bồng nhiên xôn xao, xì xào vì có khách quân nhânỉ đến nơi. Hoa mừng rỡ và xúc động thật sự, nhưng cũng vô cùng lo lắng cho sự an nguy của người yêu. Nàng chạy ra chào Sinh:
-Sao anh bạo thế? Anh đi một mình đến đây ư? Anh dám mặc quân phục và mang lon nữa chứ. Anh không sợ họ bắt anh sao? Sao anh bíetá em dạy học nơi đây mà tới thăm? Thật liều lĩnh quá, ông tướng ơi!
Sinh nhìn Hoa say đắm. Chàng dường như đang ưu tư lưỡng lư. Sinh giữ im lặng chừng một phút. Chàng nhìn nàng âu yếm, nói nhẹ nhàng :
-Anh nhớ em quá! Nên vội vã lên đây thăm em. Anh bận lắm, không có thì giờ nhiều, lại mượn bạn xe Jeep lên đây. Anh xin lỗi phải về ngay, em ạ!
Hoa thật sự bồi hồi, xúc động khi thấy Sinh quá gan dạ, liều lĩnh, bạt mạng lái xe đến thăm nàng, một vùng thiếu an ninh, một vùng nằm gần sơn thôn, quạnh quẽ điàu hiu như thế này. Vì nhớ thương ai mà phải dám liều mình như thế. Thật hết cản nỗi.

Sinh tuy là môt chiến sĩ nghèo, đồng lương ba cọc ba đồng, nhưng vốn hào hoa phong nhã, rộng rãi tiền bạc với người thân và bạn bè. Chẳng thà không có thì thôi. Hễ có tiền là, nếu cần làm điều thiện điều tốt là OK ngay. Chàng không tiếc. Bởi vậy túi thường hay vắng hoe tiền rủng rỉnh là vậy. Chàng hay làm việc từ thiện, giúp người neo đơn nghèo khổ, hoạn nạn. Chàng sẵn sàng giúp đỡ ngưới khác khi họ cần. Nếu giúp được là chàng giúp ngay. Không tiếc của, tiếc công sức của mình.
“ Tình thương và sự giúp đỡ một người nào đó thì người ban phát là người hạnh phúc nhất, bất kể kẻ thụ hưởng là ai.” như chàng thường nói với nàng. Vi vậy Hoa cảm động và nể phục bạn tri kỷ hết mực. Nàng đã chứng kiến hôm đó, lúc hai người mới quen bíết nhau. Chàng thì tỏ ra mếch nàng “ Không nở xa em một chút nào “. Tuy nhiên, lúc đó Hoa chưa có cảm tình nhiều ụvới anh chàng không đẹp trai lắm , lạị nhát gái nữa chứ. Anh ta cứ len lén nhìn ai mà cứ im ỉm nín thinh hà, mới chết chứ! Tình yêu là phải tranh thủ và bày tỏ. Còn Sinh dễ dại gái mà lạị nhút nhát quá cở thợ mộc, trời ạ!

Hoa còn nhớ, lúc hai người mới bíết nhau, lần đó một người bạn mà y coi Sinh như Đại ca.Y nhỏ hơn Sinh ba tuổi. Y sắp lấy vợ. Thế mà Sinh dám tặng bạn trọn một tháng lương chuẩn úy để đàng em làm quà tổ chức lễ cưới rôm rã hơn. Sinh quả thật là đàng anh tốt bụng, đáng nễ, dễ mến, dễ thương làm sao! Hoa thấy anh chàng không những hào hoa phong nhã với gái đẹp mà còn tỏ ra rộng rãi , có tình, có nghĩa với bạn bè. Nàng thấy con tim mình xao xuyến vì ai từ đó. Anh chàng Sinh thật chai lì, kiên nhẫn, cứ bám theo nàng mãi. Thật ra, người hùng đã bị cú sét ái tình với giai nhân từ lâu
” Ước gì anh là đôi guốc vong
Nằm dưới chân em.
Ước gì anh là đôi quai xinh
Buộc ngón chân em”

Như một nhà thơ đã ca tụng người yêu của mình.. Đúng là “ Đẹp trai không bằng chai mặt” “ Ứớc mơ chân chính biết bao Giai nhân cảm động, trời cao thương tình.”

Công bằng mà nói, tướng mạo và hình dáng Sinh trông cũng dễ coi. Nhìn kỹ cũng có duyênõ, nhất là khi hiệp sĩ nói chuyện thì cái miệng trông dễ thương chi lạ! Hoặc giả Hoa tưởng tượng như thế chăng? Bình thường chàng ta ít nói. Sinh cứ hay im lặng ( Lời nói là bạc, Im lặng là vàng, đúng không, thưa quý vị ?) nhưng cứ liếc mắt về phía ai, thật lặng lẽ mà say sưa, mới chết chứ. Phải chăng đây là Duyên Nợ Ba Sinh hương lửa? Nàng còn nhớ có lần trong quán nhỏ, một bà nhà quê có con chết trận khóc lóc thảm thiết. Gia đình bà nghèo khổ rớt mồng tơỉ. Sinh xúc động móc hết tiền trong túi ra tặng bà mẹ đau khổ mất con. Bà ta mừng rỡ cảm ơn chàng ríu rít. Bà xúc động nhìn viên SQ trẻ tuổi tốt bụng, mắt còn rưng rưng dòng lệ thương tiếc con thơ, thốt lên:
- Xin Chúa hãy ban phước lành cho cậu.

Thật ra, Sinh vốn có lòng từ bi thương người. Chàng thường tỏ ra rộng rãi về hạnh làm phước, bố thí cho người nghèo khổ, hay neo đơn. Anh ta thường bố thí giúp đỡ người là vì lý do tôn giáo. Anh tin “ Chúa sẽ ban phước trả ơn cho con chiên ngoan đạo có lòng tốt, làm điều thiện cứu người, giúp đỡ người khác. Nhất là những ai hiến dâng cho Chúa.” Tuy nhiên lòng tốt, lòng từ tâm, thương yêu đồng loại, thích làm việc thiện, thích làm phước phát xuất từ tâm từ bi, bác ái của hiệp sĩ Nha Thành, quê quán quận Tuy An, tỉnh Phú Yến, cùng quê hương với người yêu. Đúng ra, những người cùng quê dễ mến nhau, dễ làm bạn với nhau.Vì những lý do trên mà Hoa cảm động và má hồng càng thêm mến phục, yêu quý người tình hào hoa phong nhã, đa cảm và đa tình chút chút, bà con ạ! Chàng cũng liều lĩnh, bạo dạn, kiên trì theo đuổi người mình yêu thương hết mực. Từ đó tình yêu của hai người thật đẹp, thật đậm đà tha thiết và hai người quyết định đi đến hôn nhân. Tuy nhiên, làm người tình của lính, nhất là lính tác chiến, lính luôn luôn sống xa nhà, xa người hôn thê của mình, thật là lắm khổ đau chờ đợi, lo âu khắc khoải, nhớ mong da diết. Người yêu của lính tuy có hào hùng, hiên ngang, thú vị, có vui tươi hạnh phúc, nhưng cũng lắm nhiêu khê, buồn rầu, chờ mong lo nghĩ vớ vẩn đủ thứ, phải không bà con? Trời xui đất khiến cho chàng nàng gặp nhau, yêu nhau, rồi tính chuỵện Ba Sinh Hương Lửa lâu dài vì mục đích sau cùng của tình yêu và hôn nhau là sanh con đẻ cái, là hạnh phúc mái ấm, cùng nhau sóng bươc trên đường đời đến đầu bạc răng long, như ông bà ta thường nói thế, phải không quý vị?

Hoa cảm động nhất là Sinh từ đơn vị trú đóng tại Tân cảnh thuộc tỉnh Kontum đã lái xe Jeep về đến Nha Trang, trải qua nhiều tỉnh trên con đường ngút ngàn nguy hiểm nhiều núi rừng hoang vu hiu quạnh dễ làm mồi cho đối phương phục kích giật mìn, bắt sống...

Bây giờ hai người đã làm lễ hôn phối tại nhà thờ Công giáo. Đã lên bàn Thánh. Đã có sự chứng kiến của Linh mục vàThiên Chúa. Tình yêu sẽ tuỵệt vời cao đẹp, sẽ hạnh phúc bên nhau mãi mãi, Lúc này, họ đã chính tức trở thành phu thê.

Chàng đã đưa nàng đi thăm hết danh lam thắng cảnh của quê nhà, Nha Trang thành phố biển diễm lệ. Tuần trăng mật thật là tuỵệt vời xanh mướt như tình yêu của hai người cùng đức tin và cùng lý tưởng, sở thích văn chương nghệ thuật. Sinh là người trai thời loạn. Chàng lại là chiến sĩ cầm súng chiến đấu ngoài trận mạc, ngoài sa trường, luôn luôn đối diện với kẻ thù, với đối phương, chàng ở ngoài ánh sáng, họ trong bóng tối . Chàng luôn luôn làm bạn với hiểm nguy, với chết chóc, chứng kiến bao nhiêu đau thương tang tóc của đồng đội và người dân vô tội. Chàng phải sống hùng, sống mạnh, sống kiên cường dũng cảm. Chàng phải sống và chiến đấu để gìn giữ quê hương và bảo vệ tổ quốc cũng như lý tưởng tự do, dân chủ. Nàng phảỉ dạy học tốt ở hậu phương và làm tròn bổn phận công dân ủng hộ tiền tuyến, ngõ hầu góp phần xây dựng quê hương đất nước được phú cường vững mạnh trên thế giới tự do.

Hoa đã yêu chồng, một người lính chiến hào hoa phong nhã và tốt bụng. Sinh kiên cường, dũng cảm, chịu thương, chịu khó, chịu khổ, chịu tôi rèn trong chiến đấu và hy sinh gian khổ , thương yêu vợ con hết mực. Vì vậy, nàng thấy hạnh phúc, yêu đời và hãnh diện được làm hiền thê của anh chàng lính chiến phong trần can trường này. Họ cùng chia bùi sẻ ngọt, cùng đồng cam cộng khổ. Họ sẽ sống bên nhau, thương yêu và đùm bọc nương tựa bên nhau cho đến đầu bạc răng long, cho đến cuối cuộc đời này.

CẨM MINH