Thursday, February 4, 2010

Khát Vọng Tự Do
Huyên Chương Quý

Kỷ niệm 35 năm người Việt tị nạn tại hải ngoại. Kính tưởng niệm tất cả vong linh đồng bào Việt Nam đã tử nạn trên biển Đông hay nơi rừng sâu trong cuộc Hành Trình Tìm Tự Do từ sau tháng 4 năm 1975
(hinh : Tác gỉả: Lý Nguyên Thiên Quý)

Thời điểm 30 tháng 4 / 1975, kết thúc một cuộc chiến tranh ý thức hệ đẫm máu, “huynh đệ tương tàn”, nhưng để lại bắt đầu một cuộc chiến khác, dai dẳng hơn, trong mấy mươi năm qua, giữa những người dân Việt yêu nước và lý tưởng dân chủ, tự do đối đầu với sự chuyên chế, phi nhân, ngu muội của bạo quyền cộng sản Việt Nam đang làm chủ nhân ông một nước Việt đã liền lạc về một mối từ Bắc đến Nam.

Đã hàng triệu người dân Việt bỏ nước ra đi để mưu tìm một đời sống mới có được sinh khí của ánh sáng tự do, dân chủ và phồn vinh. Đã có bao lớp người Việt vong thân trong lòng biển mặn ngàn khơi hay nơi rừng sâu, nước độc trong hành trình tìm tự do. Trong bao đớn đau hiểm nghèo, may mắn ngày nay đã có hơn ba triệu người Việt tị nạn đang được sống an bình tại nhiều quốc gia văn minh, tiên tiến tại hải ngoại.

Trong dòng đời viễn xứ trăm bờ bến lạ, người Việt lưu vong đã với sức cần lao nhẫn nại mưu sinh, vươn cao lên trong xã hội xứ người và lòng vẫn hoài trông về đất Mẹ. Trong hạnh phúc sự nghiệp cuộc đời và tình yêu đôi lứa vuông tròn, người Việt hải ngoại vẫn hằng mong có được một ngày “Chắp đôi cánh tin yêu, hy vọng bay cao, trở về quê hương có dòng sông tuổi thơ êm đềm, dựng lại mái nhà Việt Nam xiêu vẹo, bên đàn trẻ nhỏ, cùng kể chuyện Âu, Cơ, Phù Đổng, dòng Lạc Việt kiêu hùng”. Với khát vọng đó, người Việt hải ngoại đã quần tụ lại thành nhiều cộng đồng vững mạnh để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, thành lập nhiều hội đoàn, đảng phái, mưu tìm một con đường ánh sáng mới cho một ngày về xây dựng một quê hương không cộng sản.
Mỗi năm, đến ngày 30 tháng 4, người Việt ở khắp nơi trên thế giới thường tổ chức ngày Quốc Hận, tưởng niệm các chiến sĩ “vị quốc vong thân” và vong linh những đồng bào đã bỏ mình trên đường vượt biên, kể cho con cháu nghe những chuyện kinh hoàng trong tháng tư đen tại miền Nam, hay những hiểm nguy trong hành trình viễn xứ tìm tự do.
Có rất nhiều người đã viết thành truyện, in thành sách, thuật lại những hãi hùng của riêng mỗi người gặp phải trên biển khơi, rừng thẳm trước khi đến được bến bờ tự do, hoặc kể về những lao đao, khốn khổ khi ở trong trại tị nạn chờ ngày được đi định cư. Mỗi câu chuyện là một cảnh đời trắc trở, gian truân gây nhiều xúc cảm; là những kinh nghiệm sống rất quý báu và đáng trân trọng.

Tôi đã được sống đời an lành tại Hoa Kỳ 28 năm.
Mỗi năm, tôi vẫn thường làm một người thầm lặng tham dự lễ kỷ niệm ngày Quốc Hận, và nghe, đọc chuyện đời vượt biên của nhiều người. Tôi chưa bao giờ kể lại cho ai nghe chuyện của tôi, phần nào cũng là một chứng nhân nhỏ bé trong biến động đau thương chung của người dân miền Nam Việt Nam khi cộng sản tiến chiếm.
Đến nay, sắp tới ngày 30 / 4 / 2010, kỷ niệm 35 năm người Việt tị nạn tại hải ngoại. Con số 35 năm, ghi dấu một thời gian dài đằng đẵng, tự nhiên tôi thấy có nhiều cảm xúc và sự hứng thú để viết lên chuyện của mình. Chuyện kể chia thành hai truyện khác nhau.:

1 / Khát Vọng Tự Do.
2 / Hành Trình Viễn Xứ.
Nhưng nội dung hai truyện có sự nối tiếp, liên kết những chi tiết sống thực từ ngày 28 / 4 / 1975 đến ngày tôi được đặt chân lên nước Mỹ vào cuối tháng 4 / 1982. Mong rằng truyện của tôi sẽ đem đến ít nhiều kỷ niệm nơi mỗi người đọc như thấy có mình trong đó.
Chút Tình Mong Manh

Diệu có dáng vóc mãnh mai với cái eo nhỏ, khuôn mặt trái xoan, đôi mắt lá răm, mủi dọc dừa, cái miệng xinh xinh có cặp môi son đỏ mọng cong cớn như một nụ hồng mới chớm nở. Thêm mái tóc dài uốn dợn xỏa xuống bộ ngực vun cao của cô tăng thêm nét đài các, kiêu sa. Sắc đẹp của cô khiến cho nhiều con trai trong xóm chợ Thị Nghè chết mê, chết mệt. Nhưng “bụt’ nhà không thiêng, chẳng có chàng nào lọt vào mắt xanh của cô. Người ta thường nói con gái có mắt lá răm thì đa tình, lãng mạn lắm.
Ở tuổi mới 18, cô đã bồ bịch với nhiều thanh niên dân chơi ở nội thành Sài Gòn. Tôi quen Diệu nhờ thường ngày đến chợ ăn cơm tại hàng cơm của dì Sáu, mẹ cô. Cũng gần một năm rồi. Cô học xong lớp 11 trường Trưng Vương thì nghỉ vì tánh ham chơi theo nếp yêu cuồng sống vội của một số người trẻ trong thời chiến. Khi không đi chơi, cô ra phụ hàng cơm cho dì Sáu. Nhà cô ở gần cầu Thị Nghè. Có nhiều lần, cô đưa tôi về nhà ngồi nghe cô hát. Thích vẻ đẹp của cô và có tình thân với cô như vậy, nhưng tôi không nghĩ là tôi sẽ yêu cô, vì thấy không hợp với cách sống của cô.

Chiều nay, Diệu mặc áo thun trắng ngắn tay bó sát thân mình, và cái quần Jean xanh ống loa bạc màu thắt dây nịch trắng, trông rất trẻ trung, mi-nhon. Chờ tôi ăn cơm xong, Diệu rủ tôi đi ăn chè đậu ở gần chợ. Thấy tôi nhìn cô chăm chăm, cô để ly chè xuống, nở nụ cười tươi, hỏi :
- Sao anh không ăn mà cứ nhìn em mãi thế ?
- Tại Diệu đẹp quá, không nhìn không được.
- Nhìn gần năm nay rồi chưa chán sao ?
- Có ai chán cái đẹp bao giờ. Nhất là ngưòi đẹp như em, Tây Thi tái thế cũng không bằng.
Diệu phá lên cười ha hả :
- Anh đang tán em đó phải không ?
Tôi cười cười :
- Được em cho ăn chè thì cũng phải biết nịnh em chớ.
- Anh thích em như vậy sao nhiều lần em rủ anh đi chơi mà anh không đi ?
- Thì đang đi ăn chè với em nè.
- Xời ! Ở đây, xóm nhà. Đi chơi là đi vô nội thành xem ciné hay bát phố Lê Lợi mua sắm, uống cà phê, nghe nhạc kìa.
- Anh sợ bị quánh.
Diệu nhăn mặt :
- Anh đàn ông, con trai gì mà nhát vậy ! Mà anh sợ ai quánh ?
- Thì mấy bạn trai của em chớ ai.
Diệu hứ lên một tiếng rồi nói :
- Anh đừng lo. Mấy tên đó ngán em lắm. Em bảo gì làm đó. Với lại, đi chơi lung tung với họ nhưng em chẳng thấy yêu tên nào cả.
- Vậy người em thật sự yêu là ai, cho biết được không ?
Diệu mỉm cười :
- Bí mật. Không thèm nói với anh. Rồi với nét tư lự thoáng hiện lên trên khuôn mặt xinh đẹp, Diệu nói tiếp :
- Em thích nếp sống hiện sinh vì thấy chiến tranh trên quê hương mình kéo dài quá, chẳng biết ngày mai mình còn sống hay chết, nên chơi cho đã, tới đâu thì tới. Như vậy thấy vui hơn. Chứ ai cụ non như anh vậy.
Tôi triết lý :
- Hiện sinh không phải là sống bất cần đời đâu. Thuyết hiện sinh đúng nghĩa của nó là sống lạc quan, vui vẻ, hưởng thụ hạnh phúc với những gì khả năng mình có được trong hiện tại, cùng lúc biết lo nghĩ cho tương lai được thăng tiến hơn. Chứ hiện sinh không có nghĩa là sống đua đòi, buông thả không biết ngày mai.
Diệu lại nhăn mặt :
- Anh giảng đạo đó hở. Thôi, mình đi dạo một vòng đi anh.
Chúng tôi rời xe chè, sóng đôi nhau đi dọc theo đường Hùng Vương. Đi được một lát, thấy tôi vẫn im lặng, Diệu gợi chuyện :
- Hôm nay em muốn anh được vui chút khi đi chơi với em, để nguôi ngoai nỗi đau vừa mất đi người em trai tuần trước. Em anh tên gì và sao mới 17 tuổi lại đi lính vậy ?
Tôi xúc động trả lời Diệu :
- Cảm ơn em quan tâm đến chuyện buồn của anh. Em anh tên Hỷ. Nó nói thích đời lính phong sương và oai hùng, nên tình nguyện gia nhập lính Biệt động quân cả năm qua. Không ngờ chiến tranh sắp tàn nó lại hy sinh !
- Anh có mấy anh chị em ?
- Anh có năm anh chị em. Hai người anh và một người em trai đã hy sinh vì đất nước. Riêng thằng út chết vì bệnh năm nó hai tuổi. Còn người chị tên Mùi, lấy chồng là lính Biệt kích Mỹ, có hai con trai. Đơn vị anh rễ bị chuyển qua Campuchia từ năm 1970. Hai tuần nay, cộng sản Khmer Đỏ đã chiếm được Nam Vang. Anh rất lo, không biết chị Mùi và gia đình bây giờ sống chết ra sao nữa.
- Chuyện đời anh nghe não nùng quá. Em chia buồn với anh. Sau câu nói an ủi, cô chợt nhìn qua tôi bằng ánh mắt long lanh, ẩn chứa cái vẻ gì rất tha thiết, rồi nói tiếp :
- Anh nắm tay em đi. Em muốn mình giống như cặp tình nhân đi hóng mát. Có thể đây là lần cuối mình gần nhau.

Tôi lưỡng lự một chút rồi mới nắm bàn tay Diệu. Đã hai mươi mốt tuổi, lần đầu tiên tôi mới nắm tay con gái, nhất là con gái đẹp như Diệu. Bàn tay cô mềm mại, mịn màng truyền vào người tôi cái cảm giác xao xuyến, lâng lâng một niềm vui khó tả. Tôi nhìn lại cô, thấy cô đang nở nụ cười rất tươi, có vẻ cũng vui lắm khi tôi nắm tay cô. Tôi hỏi :
- Sao em nói lần cuối mình gần nhau ?
- Hôm nay, Việt cộng đã đến cửa ngõ Sài Gòn. Nước mình sắp mất rồi. Anh không biết sao ?
- Có. Một khách hàng nhà in nói mấy hôm trước Việt cộng pháo nhiều hỏa tiển vào Sài Gòn làm đổ sập nhiều khu nhà, dân chết và bị thương gần trăm người. Người khách khác nói hôm nay, tướng Minh được ông Trần văn Hương trao cho chức Tổng thống thì Việt cộng cũng đã tiến vào gần Chợ Lớn, rồi Bà Quẹo, vành đai Bộ tổng tham mưu, và gần với chổ mình đang đi chơi nè.
- Ở đâu anh ?
- Ở bên kia cầu Sài Gòn. Nên mình đừng đi xa quá, rủi có đánh nhau ở cầu Sài Gòn là chạy không kịp.
- Có anh đỡ đạn cho em mà sợ gì. Diệu cười khúc khích sau câu nói. Nhưng sau khi dứt cười thì cô lại nói với giọng buồn buồn:
- Vậy là hết cứu nổi !. Việt cộng sẽ vào Sài Gòn nay mai. Bố em đã một lần từ Bắc chạy vào Nam trốn họa cộng sản. Bố nói Việt cộng nó độc tài, gian xảo và tàn bạo lắm. Bố mẹ em tính sẽ rời Việt Nam vài ngày tới để có được đời sống tự do. Nếu đi lọt thì gia đình em sẽ đến Mỹ hay Úc. Vì vậy mà em nói là lần cuối đi chơi với anh.
- Nghe em nói hai chữ lần cuối sao anh thấy buồn quá.
Diệu khẻ bóp nhẹ tay tôi :
- Anh không còn người thân, hay là anh đi theo gia đình em nhé ?
- Anh cũng chưa biết nữa. Để từ từ xem tình hình ra sao. Bây giờ quay trở lại nhà đi em. Anh Hải Vân chắc đang trông anh lắm.
Trên đường về, Diệu hỏi :
- Anh Quý. Anh đã từng yêu cô nào chưa ?
Tôi cười xòa :
- Anh chưa biết thế nào là yêu. Với lại có quen cô nào đâu để mà yêu.
- Xời ! Anh biết làm thơ, viết truyện, lại là họa sĩ nữa, thiếu gì cô thương anh.
- Anh không phải họa sĩ. Anh chỉ là thợ vẽ học nghề sư phụ Hải Vân. Còn văn, thơ chỉ tập tễnh viết vài bài, có ra gì đâu. Anh mới học lớp 11. Em không biết sao ?
- Vậy sao anh được làm trưởng bút nhóm Hương Hồng ? Hai phó nhóm lại là sinh viên Văn khoa, Luật khoa năm thứ hai.
- Nhờ anh là người đứng ra vận động sáng lập nhóm. Cả 36 nhóm viên đều do anh liên lạc đưa họ vào nhóm. Nên họ cảm tình bầu anh làm trưởng nhóm thôi.
- Em vào sinh hoạt với nhóm anh một lần là thấy chán. Toàn hát hò chơi trò con nít gì đâu không.
Tôi bật cười :
- Vui chơi lành mạnh của học sinh, sinh viên mà. Làm sao hợp với tính cách dân chơi hiện sinh thứ thiệt của em.
Diệu hứ một tiếng :
- Nói xỏ, nói xiên gì đây ? Em giận, nghỉ chơi với anh bây giờ.
Tôi cười ha hả :
- Cho anh xin can. Không có Diệu cười nói ở bên anh, mặt trời sẽ nguội lạnh; trái đất sẽ ngừng quay; biển, hồ khô cạn; và anh sẽ là thân cây mục nát gục chết ở ven đường !
Diệu cũng bật cười :
- Anh xuất khẩu thành thơ mấy câu nghe cũng ngộ, vui vui. Em hết giận rồi. Tha anh đó.
Đến gần xóm chợ, Diệu lại thắc mắc :
- Anh Quý nè. Em thấy trong bút nhóm anh có nhiều cô nữ sinh đẹp lắm mà. Sao anh không yêu cô nào đi.
Tôi im lặng một lúc rồi tâm sự thật lòng :
- Những cô nhóm viên đó đều là con nhà giàu. Vui chơi thân thiện trong nhóm với tánh cách anh em, bạn bè trong sáng thì được. Chứ anh không dám nghĩ đến chuyện yêu cô nào, vì anh… mặc cảm là con mồ côi, nhà nghèo.

Diệu lặng thinh không nói nữa, nhưng bàn tay cô lại khẻ bóp nhẹ tay tôi. Đưa Diệu về đến sân nhà cô thì tôi thả tay cô ra, dù lòng vẫn muốn được nắm mãi bàn tay mềm dịu của cô. Bổng nhiên, cô quàng hai cánh tay trắng nõn nà quanh cổ tôi, đặt lên môi tôi một nụ hôn…rồi vụt chạy vào nhà. Trời đất ! Cũng lần đầu tiên tôi được con gái ôm và hôn môi như vậy. Nụ hôn đầu đời của tôi với con gái không do tôi chủ động. Mùi vị nụ hôn thật ngọt ngào, êm ái, thêm hương thơm con gái từ người Diệu tỏa ra khi cô ôm tôi, làm cả người tôi ngây ngất, rạo rực. Tôi đứng ngẩn tò te một hồi lâu mới quay bước. Trên đường về nhà in, hương vị nụ hôn của Diệu vẫn còn vương vấn trên môi tôi, chếnh choáng hồn tôi.

Bỏ Lỡ Cơ Hội
Anh Vân đang ngồi ở ghế dài trước cửa vừa thấy tôi thì quở :
- Mày đi đâu cả buổi chiều ? Tao chờ mày hoài sốt ruột quá.!
- Em xin lỗi anh. Tại nhỏ Diệu rủ em đi chơi vòng vòng hóng gió.
- Mày với nó sao rồi ?
- Dạ… cũng thường thôi.
- Mấy lần nó đến đây thăm mày, tao thấy nó có vẻ dân chơi bạt mạng quá. Mày dính nó thì khổ cả đời.
- Dạ…em hiểu. Em xem Diệu như bạn thân thôi chứ không có gì. Nói rồi, tôi lãng qua chuyện khác, hỏi anh : - Anh Vân. Liệu Tổng thống Minh có xoay chuyển được tình thế không anh ?
Anh Vân lắc đầu :
- Hết rồi ! Quân cộng đang bao vây Sài Gòn. Một, hai ngày nữa là tụi nó vô luôn dinh Độc lập. Bây giờ nhà in họ đóng cửa luôn. Mày không ăn ngủ ở đây được nữa. Về lại nhà Khánh Hội ở. Tao đã lấy túi xách quần áo của mày ra sẵn đây rồi.
- Dạ. Nhưng em xin anh cho em về cư xá sĩ quan Cửu Long thăm anh chị Hồ Đấu vài ngày, xem tình hình ảnh chỉ ra sao. Rồi em sẽ về nhà Khánh Hội.
- Cũng được. Vậy tao về.
- Dạ.
Anh Vân là họa sĩ nổi tiếng trong nhóm hoạ sĩ CVD, gồm Kha Thùy Châu, Hải Vân và Lê Đằng. Anh đã nuôi dưỡng và dạy nghề vẽ cho tôi ba năm nay. Có rất nhiều kỷ niệm vui giữa anh và tôi. Anh có tính thích nói chuyện tếu lâm chọc cười em út. Những ngày, những đêm thức trắng phụ anh vẽ quảng cáo cho các đoàn cải lương và vẽ cảnh cho các show ca nhạc truyền hình, tôi thấy vui lắm. Tôi còn được theo anh giúp việc trang trí cho các phim của nữ nghệ sĩ Kim Cương. Kỷ niệm vui nhất là lần cùng với anh chị Vân và ban kịch của nhà báo Tuyết Sĩ đi Đà Lạt trình diễn vở kịch “Những người không chịu chết” của kịch tác gia Vũ khắc Khoan, tại trường Đại học Chính trị kinh doanh, do nữ nghệ sĩ Thanh Lan thủ vai chính. Anh Vân và tôi phụ trách cảnh trí và ánh sáng. Lần đầu tiên tôi mới biết Đà Lạt đẹp thế nào. Ở dọc hai bên những con đường đi lên các đồi thông đều có hoa Dã quỳ nở rộ một màu vàng tươi thắm. Trời lập thu se se lạnh. Gió thổi vi vu; thông reo vi vút; chim hót líu lo. Xa xa là rừng xanh trùng điệp, đồi núi chập chùng, sương mù lãng đãng. Phong cảnh nên thơ, đẹp tuyệt vời. Anh Vân chụp cho tôi rất nhiều hình làm kỷ niệm. Một tuần ở Đà Lạt là thời gian đẹp nhất tôi không bao giờ quên.

Chờ anh Vân rồ ga chiếc xe Vespa vọt đi, tôi mới chầm chậm dắt xe đạp rời khỏi nhà in với chút lưu luyến. Nơi đây đã là chổ ăn ở, làm việc của tôi hơn một năm qua. Ra tới đường lộ, tôi đạp xe chạy vù vù chỉ hai mươi phút sau về đến cư xá Cửu Long. Vào nhà, thấy anh chị Đấu ngồi ở phòng khách với vẻ buồn trên khuôn mặt, hiểu được sự ưu tư của anh chị, tôi khẻ nói :
- Anh. Chị. Em lo cho anh chị nên về thăm anh chị vài ngày.
Giọng anh Đấu rầu rầu :
- Ừ. Có em về chơi đỡ buồn. Tắm rửa gì đi em.
Chị Hương hỏi :
- Anh Hải Vân cho về hả. Ăn uống gì chưa ?
- Dạ. Em mới ăn cơm ở chợ. Mấy cháu đâu rồi chị ?
- Tụi nó đang ở trên gác. Mày lên chơi với tụi nó đi.
Tôi dạ rồi leo lên gác ngay. Tôi biết anh chị đang cần yên tịnh vì nhiều nỗi lo lắng. Chị Cúc Hương là con của má nuôi tôi hồi tôi còn nhỏ ở Phan Rang. Tôi thương chị như chị ruột. Anh Hồ Đấu, chồng chị Hương, là thiếu tá phục vụ tại Bộ tư lệnh Hải quân ở bến Bạch Đằng .

Trưa hôm sau, 29 tháng 4, vào giờ ăn cơm, anh Đấu cho biết, sáng sớm này Việt cộng đã bắn nhiều hỏa tiển và đạn pháo vào phi trường Tân Sơn Nhất, phá hủy nhiều phi cơ và gây cho đám dân tụ tập nơi đó chờ di tản rơi vào hổn loạn và bị thương nhiều người. Hiện giờ, Việt cộng đã vào tới khu Lăng Cha Cả, tuy có gặp sự kháng cự của quân ta, bị ta bắn cháy vài xe tăng T54, nhưng chẳng thắm gì với chúng. Cùng lúc, có nhiều cánh quân của Việt cộng từ nhiều hướng áp sát quanh thành phố. Nhiều người báo tin, tòa đại sứ Mỹ sẽ tổ chức di tản tất cả người Mỹ và những người làm việc cho Mỹ ngay trong ngày hôm nay. Tình thế đã tuyệt vọng.

Ăn trưa xong, tôi đi vòng vòng trong cư xá. Nhiều người thân của các sĩ quan tụ tập bàn tán thời sự. Họ nói có tin đồn Việt cộng đã chuẩn bị hàng vạn đạn pháo, hỏa tiển và sẽ rót vô thành phố Sài Gòn vào sáng sớm 30 tháng 4. Sài Gòn sẽ đổ nát, tan hoang, tử vong vô số. Lòng tôi lo lo. Người dân có tội gì phải chịu cảnh bi đát như thế ?! Đến xế chiều, tiếng trực thăng di tản người vần vũ trên bầu trời gần cư xá Cửu Long. Tôi ra giữa sân nhìn từng chiếc trực thăng bốc người từ hướng tòa đại sứ Mỹ bay ngang qua Bộ tư lệnh Hải quân rồi bay ra biển. Đồng thời, trực thăng từ biển bay đến tòa đại sứ. Xem mãi đến tối, vẫn cứ trực thăng bay ra, bay vào liên tục, chẳng biết bao giờ mới dứt, tôi vào nhà. Nhiều sĩ quan Hải quân trong cư xá Cửu Long dẫn gia quyến tay kéo va li, vai mang túi xách lũ lượt đi qua cầu để đến Bộ tư lệnh Hải quân ở bến Bạch Đằng. Bấy giờ khoảng 9 giờ tối. Tôi hỏi anh Đấu :
- Bộ tư lệnh Hải quân cho di tản hở anh ?
Anh Đấu lại rầu rầu trả lời :
- Chẳng Bộ tư lệnh nào cho phép cả. Nhưng có nhiều tướng, tá chỉ huy các quân binh chủng giờ này đã chạy tuốt ra hàng không mẫu hạm Mỹ ở ngoài khơi rồi. Khuya nay, vài tàu từ Bộ tư lệnh Hải quân sẽ nhổ neo vượt biển. Những người này qua đó để đi theo tàu.
- Sao anh chị không đi di tản ?
Anh Đấu nghiêm nét mặt :

- Quân đội chưa thật sự tan hàng. Ai đi thì đi, anh không đi. Anh có danh dự của một sĩ quan, không thể đào ngũ.
Chị Hương thì nói :
- Má chị và má anh Đấu còn ở Phan Rang. Anh chị đâu thể bỏ người thân mà ra đi. À, Quý, mày nên đi. Mày không còn ai thân thích nữa, ở lại làm gì ?
Anh Đấu cũng đốc vào :
- Phải đó, Quý. Em nên đi đi. Qua Mỹ có tương lai hơn. Ở lại với đám Việt cộng gian ác này thì cuộc đời em sẽ đen thui.
Tôi phân vân :
- Em chưa biết sao nữa. Để em suy nghĩ chút.

Tôi ra ngồi chồm hỗm ở hiên nhà. Nhiều loạt đạn nổ tạch tạch liên hồi ở bên kia sông Bạch Đằng. Không biết của Việt cộng hay quân mình bắn. Nhiều người trong cư xá vẫn lũ lượt đi qua cầu. Tôi nhớ lại thời ở trại Biệt kích Mỹ Bến Sỏi, tỉnh Tây Ninh, tôi thích được đi Mỹ khi có trung úy Bonny xin tôi làm con nuôi anh ổng ở Mỹ. Tiếc là chị Mùi không cho đi. Bây giờ, dịp may trước mắt, sao có thể không đi ?. Nghĩ tới, nghĩ lui một hồi, tôi vào nhà nói với anh chị Đấu :
- Thấy người ta đi nhiều quá, em nôn nao. Thôi thì em cũng đi.
Chị Hương nói ngay :
- Vậy vào trong lấy cơm ăn một bụng cho no, rồi đi.
Tôi dạ và đi vào bếp lục cơm, ăn vội vàng một chén. Trở ra phòng khách, thấy anh chị Đấu vẫn ngồi trầm lặng, không ai nói chuyện với ai. Cả mấy cháu nhỏ cũng ngồi im thin thít trước nỗi buồn của cha mẹ. Tôi ngồi xuống bên anh chị, lòng bịn rịn. Chị Hương hối :
- Đi lẹ đi mày. Chần chờ gì nữa.
- Đi đi Quý. Kẻo hụt chuyến tàu bây giờ. Anh Đấu vừa nói vừa vỗ vỗ tay lên vai tôi. Anh nói tiếp : - Qua Mỹ được rồi thì viết thư về cho má với chị Hương theo địa chỉ ở Phan Rang, chứ cái nhà này chắc không còn nữa. Thôi, đi lẹ đi em.

Tôi đến ôm các cháu rồi quay lại lí nhí nói với anh chị Đấu :
- Anh chị ở lại giữ gìn sức khỏe, nhiều may mắn.
Anh chị Đấu đứng lên tiễn tôi ra ngoài sân. Mắt tôi cay sè :
- Thưa anh chị, em đi.
Anh chị Đấu cùng nói :
- Em đi bình an.
Tôi dạ, dạ rồi lủi thủi theo đám người di tản đi qua cầu. Trên người tôi không có một hành lý gì mang theo. Đến Bộ tư lệnh Hải quân, một cảnh tượng hổn loạn hiện ra trước mắt tôi ở bến tàu. Cả mấy trăm người đang nhốn nháo tranh nhau lên tàu. Tiếng la hét của nhiều người hối thúc lẫn nhau, cùng những tiếng gọi cha, gọi mẹ, gọi anh, gọi chị, gọi em hòa lẫn với những tiếng khóc thét đau đớn của nhiều con nít bị cha mẹ kéo lê lên tàu, thêm tiếng bình bịch của trực thăng bay ngang, nghe lùng bùng cả hai tai tôi. Những người đi cùng lượt với tôi chạy ào ào nhập vào đám đông, cũng chen chúc, xô đẩy nhau không khoan nhượng. Trên tàu đã đầy người mà dòng người dưới bến vẫn tràn lên, tràn lên. Phía sau tôi có thêm mấy tốp người từ hướng trường Trưng Vương chạy vào bằng xe gắn máy. Vừa đến nơi, sợ hụt chuyến tàu, họ phóng khỏi xe ngay khi máy xe vẫn còn nổ, quăng đi tất cả va li, túi xách cho nhẹ người để chạy thật nhanh vào đám đông đó. Thấy cảnh hoảng loạn vậy, tôi lừng khừng đứng giữa bến tàu, không dứt khoát nên đi hay ở. Một lúc sau, có tiếng tàu hụ từng hồi báo hiệu chuẩn bị rời bến. Phản xạ tự nhiên khiến tôi chạy vù đến phía trước. Khi đã nhập vào đám đông thì tôi cũng giống như mọi người, cố sức nhào tới. Dù bị nhiều người xô qua phải, qua trái, lấn lui, tôi vẫn luồn lách được tới cầu thang tàu. Chỉ vài bước nữa tôi sẽ lên được trên boong tàu. Trong giờ phút quan trọng đó, bổng trong đầu tôi chớp lên những hình ảnh chị Mùi, ba, má, anh em ruột thịt của tôi. Tôi suy nghĩ thật nhanh trong đầu. Ở lại, biết đâu có ngày chị Mùi từ Campuchia về gặp mình. Còn có thể thỉnh thoảng đi thăm mộ ba, má, anh, em. Thêm chuyện tôi đã hứa với anh Hải Vân sẽ về nhà Khánh Hội. Nếu tôi tiếp tục ở với anh Vân, học giỏi nghề vẽ, đời sống chắc sẽ vui lắm. Qua Mỹ một mình, không có người thân, không có nghề nghiệp, biết sống làm sao ? Còn nụ hôn ngọt ngào của Diệu buổi chiều này nữa…Và, quê hương ! Hai tiếng “quê hương” thân yêu trong giờ phút này tự dưng nổi lên trong đầu tôi, len lỏi vào hồn tôi một thứ tình cảm gì thiết tha, êm đềm lắm khiến tôi thấy lưu luyến không thể xa lìa. Hình ảnh người thân và những suy nghĩ mông lung chớp chớp lên trong đầu khiến tôi không màng đến sự chen lấn nữa. Tôi bị đẩy dần ra phía sau. Cuối cùng, tôi tách khỏi đám đông, ra đứng ở xa xa nhìn cảnh mọi người vẫn đang cơn say men húc ngã nhau ở cầu thang để giành một chổ đứng trên tàu. Tôi cứ đứng như trời trồng giữa bến tàu, không biết đã bao lâu. Rồi tiếng tàu hụ kéo dài từng hồi và từ từ rời bến. Vài người rớt xuống sông kêu la thảm thiết. Còn lại mấy chục người không lên tàu được ngồi gục đầu buồn bã. Có vài người nằm lăn ra đất khóc sướt mướt. Họ khóc đã mất đi cái sinh lộ cho khát vọng được sống đời tự do nơi phương trời xa lạ. Riêng tôi, đáng lẽ đã dễ dàng có được cái sinh lộ đó, nhưng tôi lại bỏ lỡ cơ hội ! Nhiều năm sau, tôi vẫn luôn tự trách mình dại dột.



(hình: thảm cảnh ở biển Đông)


Ngày Tàn Cuộc Chiến
Tôi lại lủi thủi đi về nhà anh chị Hồ Đấu. Trời đã khuya lắm. Trực thăng vẫn bay qua, bay lại ở đằng xa. Tôi gõ cửa. Trong nhà im lìm. Chắc anh chị Đấu đã ngủ. Đứng lặng một hồi, tôi gõ tiếp vài lần nữa thì được chị Hương ra mở cửa. Thấy tôi, chị ngạc nhiên hỏi :
- Ủa ! Sao mày lại về ?
- Dạ…em… gần lên tàu thì hổng biết sao không muốn đi nữa.
Chị Hương nói với giọng gay gắt :
- Trời ! Bao nhiêu người muốn đi mà không được. Còn mày một thân, một mình lại bỏ đi cơ hội. Có phải mày điên không ?
Tôi cười giả lả :
- Dạ…lỡ rồi chị. Tàu đã rời bến.
Chị Hương dịu giọng :
- Thôi, vào ngủ đi.
- Dạ.
Tôi nằm trên ghế dài ở phòng khách, trằn trọc mãi. Tiếng phành phạch của trực thăng bốc người di tản vẫn vang động đều đều trong đêm đen cho đến rạng sáng. Tôi chợp mắt được một chút thì có tiếng nhiều bước chân trong nhà. Anh chị Đấu đã thức. Trời đã sáng tỏ. Cả nhà ăn sáng xong thì nghe trên radio có tiếng Tổng thống Dương văn Minh tuyên bố đơn phương ngừng bắn. Sau đó là tiếng chuẩn tướng Nguyễn hữu Hạnh yêu cầu binh sĩ chấp hành lệnh của Tổng thống. Thời khắc đó là 8 giờ rưởi sáng ngày 30 tháng 4. Tôi vội đạp xe chạy ào ào ra Thị Nghè để nghe ngóng tình hình. Nhớ đến nụ hôn dịu ngọt của Diệu chiều hôm qua, tôi ghé thăm cô. Nhà không có ai, cửa khóa bên ngoài. Tôi lại đạp xe dọc theo đường Hùng Vương, ra tới ngả tư Hàng Xanh thì nghe nhiều tiếng súng nổ ở phía cầu Sài Gòn. Đi lần về hướng cầu, đứng từ xa xa, tôi thấy lố nhố quân mình ở trên cầu. Có mấy chiếc xe tăng của bên mình đậu chắn giữa cầu. Nhiều người lính lom khom chạy tới, chạy lui khiêng người bị thương. Tiếng súng nổ tạch tạch liên hồi. Đạn pháo của hai bên nổ ầm ầm vang rền khu vực cầu. Khoảng nửa tiếng sau, quân ta rút lui về Hàng Xanh. Tôi hoảng hốt đạp xe chạy thục mạng về Thị Nghè. Tôi lại đến nhà Diệu. May quá, lần này có Diệu ra mở cửa. Nhìn khuôn mặt Diệu bơ phờ, hốc hác, tóc tai rũ rượi, quần áo trên người nhầu nát, rồi nhìn trong phòng khách có vài va li, túi xách, tôi ngạc nhiên hỏi :
- Diệu. Sao trông em thê thảm vậy ? Gia đình mới đi đâu về ?
Diệu ngồi phịch xuống ghế dài với dáng vẻ mệt mỏi, vừa ngáp vừa nói :
- Gia đình em mới từ tòa đại sứ Mỹ về. Cả bố mẹ và em, suốt đêm đến sáng phải vất vả chen lấn mà không tranh nổi với người khác để vào được tòa đại sứ. Người ta đông quá, xô đẩy mẹ con em té lên, té xuống. Còn mạng mà về lại nhà là may rồi. Em buồn quá.
Tôi ngồi xuống bên Diệu, an ủi :
- Đừng buồn nữa em. Số mạng khiến mình phải sống với cộng sản thì đành chịu vậy. Còn bố và mẹ đâu ?
- Về tới nhà là bố mẹ đi ngủ liền.
- Sao em không ngủ ?
- Thức trắng đêm em mất ngủ luôn. Nhưng chắc nói chuyện với anh chút rồi em cũng đi ngủ. Mà anh đi đâu vậy ?
- Anh chạy vòng vòng xem tình hình, với lại thấy nhớ em nên đến thăm.
Diệu mỉm cười :
- Xạo đi ! Anh mà nhớ em. Nhớ mấy cô ở nhà in thì có.
- Mấy cô đó có chồng hết rồi. Đụng vô là toi mạng. Anh còn ham sống lắm. Tôi cười cười nói đùa với Diệu rồi bắt qua chuyện chiến sự: - Vừa rồi anh ra khu Hàng Xanh thấy lính mình đánh nhau ác liệt với Việt cộng để giữ cầu Sài Gòn. Nhưng lính mình thua, bỏ chạy hết. Bây giờ chắc tụi cộng đang vào Thị Nghè mình đó.
Diệu lo lắng :
- Liêu chúng nó có làm gì nguy hiểm đến bố em không ? Bố em là công chức.
- Anh không biết nữa. Anh có người anh nuôi là thiếu tá Hải quân ở cư xá Cửu Long. Ảnh cũng đang lo lắng cho số phận người chiến bại.
Tôi vừa nói dứt câu thì nghe nhiều tiếng súng nổ liên tục.
Diệu hoảng hốt :
- Có đánh nhau nữa kìa anh. Tụi cộng vào Thị Nghè thật rồi.
Tiếng súng nổ rát hơn. Tôi vội đứng lên, đến cửa sổ, nhìn về phía cầu Thị Nghè. Tôi thấy một số lính mình ở trên cầu đang chỉa súng, nả đạn hàng loạt về phía đường Hùng Vương. Diệu hiếu kỳ cũng đến cửa sổ, đứng dựa vào người tôi, xem trận đánh. Cô thảng thốt kêu lên :
- Trời ơi ! Có mấy người lính trúng đạn kìa anh.
Vừa lúc đó, vài người lính khác bỏ chạy. Ổ kháng cự cuối cùng của quân ta để chặn bước tiến của Việt cộng bị bẻ gãy nhanh chóng. Ngay sau đó, mấy chiếc xe tăng Việt cộng với cờ xanh, đỏ, sao vàng chạy rầm rập qua cầu, tiến vào nội thành Sài Gòn. Lúc đó khoảng 10 giờ rưởi sáng. Diệu gục đầu lên vai tôi, mếu máo :
- Vậy là hết rồi anh !
Tôi dìu Diệu trở lại ghế. Cô nằm dài ra, im lặng nhìn tôi, mắt còn ngấn lệ. Tôi cũng ngồi im lặng nhìn cô. Trong giờ phút này, chẳng có chuyện gì để nói nữa. Chỉ có im lặng nhìn nhau là sự cảm thông tuyệt đối về nỗi buồn mất nước. Khoảng nửa tiếng sau, chợt nhớ đến anh chị Đấu, tôi đứng lên nói với Diệu :
- Thôi, em đi ngủ đi, cho khỏe. Anh phải về xem anh chị Đấu có chuyện gì không.
- Vâng. Em cũng mệt lắm rồi, nằm đây ngủ luôn. Anh đóng cửa lại giùm em.
Rời nhà Diệu, tôi đạp xe một mạch về nhà anh chị Đấu. Thấy anh Đấu đang ngồi buồn thiu một mình ở phòng khách, tôi nói ngay :
- Vừa rồi em tận mắt thấy quân mình đánh nhau với Việt cộng ở cầu Sài Gòn và cầu Thị Nghè. Mình thua rồi anh. Việt cộng đã tiến vào nội thành Sài Gòn.
Anh Đấu thở dài :
- Thế cuộc đã vậy, đành chịu !
Đúng 12 giờ trưa, trên radio vang vang tiếng của ông Dương văn Minh, Tổng thống cuối cùng của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Anh Đấu buồn bã nằm dài ra trên ghế, im lặng. Chị Hương rươm rướm nước mắt. Chiến tranh Việt Nam chính thức kết thúc trưa ngày 30 / 4 / 1975 trong sự tức tưởi, nghẹn ngào của toàn thể quân, dân miền Nam Việt Nam. Vào buổi tối, đài phát thanh Sài Gòn phát bài “Nối vòng tay lớn” của Trịnh công Sơn. Còn đài truyền hình Sài Gòn, suốt từ chiều đến khuya, phát hình liên tục các phim chiến đấu của quân Việt cộng, khoe khoang những thành tích chiến thắng của chúng. Thủ đô Sài Gòn đã thật sự đổi chủ. Ngày 30 / 4 / 1975, thời điểm lịch sử mang dấu ấn khắc ghi sâu đậm nỗi đau thương của một chế độ tự do, nhân bản bị sụp đổ vì sự bỏ rơi của đồng minh Mỹ, để có thêm một nửa lãnh thổ của nước Việt Nam hình cong chữ S phải mang vào cổ cái tròng xiềng xích của cộng sản độc tài, phi nhân, bạo tàn, vong bản..

Khát Vọng Tự Do

Ngày hôm sau, từ sáng đến trưa, nhiều vợ con của các sĩ quan cư xá Cửu Long đi lục lọi các nhà đã bỏ đi di tản. Họ khuân nhiều chiến lợi phẩm như bàn, ghế, đồ đạc lỉnh kỉnh mang về nhà. Có người lấy được xe Honda, xe đạp. Sau khi ăn cơm trưa, tôi từ giã anh chị Đấu để về Khánh Hội. Tôi đạp xe đi qua cầu đến Bộ tư lệnh Hải quân rồi vòng ra đường Cường Để, nơi có trường nam trung học Võ trường Toản và trường nữ trung học Trưng Vương. Giấy trắng đầy khắp đường lộ, bay bay theo từng cơn gió. Nhiều người dân đang đua nhau hôi của ở các văn phòng công, tư sở. Tôi đi tới đài truyền hình ở kế bên trường đại học Văn khoa. Dừng xe lại nhìn vào đài truyền hình, tôi thấy có vài bộ đội Việt cộng canh gác. Nơi đây có nhiều kỷ niệm vui trong ba năm qua khi tôi thường phụ giúp anh Hải Vân trang trí cảnh cho các show ca nhạc lớn của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng thời đó. Có nhiều chương trình ca nhạc nhỏ, anh Vân giao cho một mình tôi thực hiện cảnh trí. Tôi thở dài. Những ngày vui nơi đây sẽ không còn nữa ! Chợt nhớ đến Diệu, tôi đạp xe về hướng Thị Nghè. Vẫn là cảnh nhiều người dân đang hôi của và giấy trắng ngập đường bay bay trong gió. Qua khỏi cầu, tôi rợn mình khi thấy ở giữa đường có mấy xác lính nát bét vì bị xe tăng Việt cộng cán. Chưa có ai dọn xác giùm. Nhiều giày, vớ, quần, áo rằn ri của lính mình cởi bỏ, vương vãi cùng khắp trên đường Hùng Vương ra tới ngả tư Hàng Xanh. Tôi xót xa khi nhìn thấy những chứng tích đó của phía bại vong !. Cuộc chiến tranh nào cũng có lúc kết thúc. Nhưng kết thúc trong sự bại vong về phía mình thì bi thảm quá ! Đành phải cam chịu ! Tôi xúc cảm nghĩ ra vài câu thơ :

Khi cuộc chiến tàn, buồn vương đôi mắt
Nụ cười lịm tắt
Lệ đắng bờ môi
Máu anh em tôi, máu đồng bào tôi
Thấm đẫm quê hương này
Ngày hòa bình về, Tự Do biến mất
Chỉ còn xích xiềng trói chặc chân tay
Bao cảnh đời lây lất
Sống trong đọa đày, chất ngất đau thương !

Tôi quay xe chạy đến nhà Diệu. Nhà lại cửa đóng, then gài, khóa kỹ. Tôi gõ cửa và gọi Diệu ơi, Diệu ơi nhiều lần, vẫn không ai lên tiếng. Tôi nghĩ thầm, chẳng lẽ mới đây lại đi di tản nữa. Mà giờ phút này Việt cộng đã có mặt ở khắp nơi trong Sài Gòn, Gia Định, còn chổ nào để di tản ?! Trời cũng xế chiều, tôi đạp xe về nhà anh chị Vân ở Khánh Hội. Trên đại lộ Lê Lợi, vài xe Jeep chạy ào ào, chở nhiều thanh niên mặc đồ dân sự, đeo băng đỏ, chỉa súng M16 bắn chỉ thiên liên tục để thị uy với mọi người trên phố. Đó là những tên “cách mạng 30”, thừa lúc thời thế còn đang hổn quân, hổn quan, làm nhiều điều xằng bậy hiếp đáp dân lành. Về sau, chúng cũng bị Việt cộng cho đi “thanh niên xung phong” hết; làm lao động nặng như vét kinh, phá rừng, vác cây, cuốc đất ở các khu “kinh tế mới”.

Nhà ở Khánh Hội là nhà bác Tươi, má vợ anh Vân. Bác Tươi và các anh chị em vợ của anh Vân rất tốt với tôi, coi tôi như người thân trong gia đình. Hơn một năm qua ăn ở, làm việc tại nhà in Thị Nghè, nhưng mỗi cuối tuần tôi đều về nhà Khánh Hội tắm rửa, ăn cơm với gia đình bác Tươi và ngủ lại. Bây giờ về ở luôn, tôi được bác Tươi cho ở cùng phòng với Minh, con trai út của bác. Trong nhà hiện có sáu bộ đội Bắc Việt ngang nhiên vào “ở ké”. Anh nào cũng trẻ măng, khoảng 18 đến 20 tuổi. Mọi người trong gia đình đều phải giữ gìn lời ăn, tiếng nói, và phải giả vờ tỏ ra thân thiện với chúng. Tôi hỏi anh Vân chừng nào họ đi, anh nói không biết và dặn tôi đừng có nói gì bậy bạ mà mang vạ vào thân. Cũng may, một tuần sau thì các tên bộ đội này rút đi. Cả nhà thở phào nhẹ nhõm.

Thương xá Rex bao gồm khách sạn, nhà hàng, tiệm café, ba rạp chiếu bóng Rex và Mini Rex A, B, tọa lạc trên góc đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ, ngay đầu tháng 5 đã bị Việt cộng vào tiếp thu theo quy chế hợp doanh với ông bà Ưng Thi. Anh Vân được ông bà Ưng Thi nhận vào làm công việc trang trí cho cả thương xá. Hàng ngày, anh Vân chở tôi đi phụ anh công việc vẽ quảng cáo phim và làm các biểu ngữ treo trong thương xá. Ngày 7 tháng 5, nghe vài người nói Việt cộng tổ chức lễ mừng chiến thắng ở dinh Độc lập, nên sau khi làm xong mấy biểu ngữ, tôi xin anh Vân cho đi xem. Tôi mang theo máy chụp hình. Ra khỏi thương xá, tôi lại nghĩ, Việt cộng mừng chiến thắng thì kệ chúng, mình có gì vui mà đi xem. Thôi thì đi rảo phố xem cảnh người dân buôn bán trong chế độ mới. Phố xá vẫn tấp nập người mua bán. Nhiều toán lính Việt cộng đeo băng đỏ, vai mang súng Ak đi vòng vòng trên phố giữ an ninh. Tôi đi dọc theo đường Nguyễn Huệ, đến bến Bạch Đằng thì nghe một tiếng nổ ầm thật lớn ở bờ sông. Tôi chạy đến xem. Một cảnh thương tâm hiện ra trước mắt. Một người vừa tự sát bằng lựu đạn. Bên cạnh anh là tấm bảng có viết mấy hàng chữ : “Đả đảo cộng sản. Tôi là quân nhân, phản đối lệnh đầu hàng của Dương văn Minh. Tự do hay là chết”. Tôi vội lấy máy ảnh chụp lia lịa. Vừa chụp xong thì bổng nhiên có ai phía sau giựt ngay máy ảnh. Tôi quay lại. Hai anh lính Việt cộng đang chỉa súng vào người tôi.

Tôi bị áp giải về trụ sở an ninh quận nhất đang đặt tạm tại vũ trường Maxim’s gần bến Bạch Đằng. Có nhiều tội phạm khác đang đứng, ngồi lố nhố trong vũ trường. Hai anh lính Việt cộng chỉ tay vào tôi và nói với người chỉ huy :

- A trưởng. Tên này chắc là tình báo CIA. Nó chụp hình lính “ngụy”tự sát ở bờ sông.
- Nhốt nó lại, chờ đìều tra viên đến thẩm vấn nó.
Tôi chẳng biết A trưởng là chức vụ gì. Chắc lớn lắm. Sau này tôi mới biết chỉ là chức tiểu đội trưởng chỉ huy một tiểu đội. Tôi bị họ còng tay, đẩy vào một phòng nhỏ. Buổi chiều, tôi được cho ăn một chén cơm chan nước muối mở hành. Đến tối, điều tra viên vào phòng hỏi cung :
- Mày thành thật khai báo, sẽ được cách mạng khoan hồng. Mày làm việc cho tổ chức nào ?
- Tôi không có làm cho tổ chức nào cả.
- Mày không có sao lại chụp hình lính “ngụy” tự sát ?
- Tôi chỉ tình cờ đi ngang, thấy chuyện lạ nên vô tình chụp thôi.
Điều tra viên gằn giọng :
- Mày nói láo. Không ai dám chụp hình này cả. Chỉ có mày chụp. Nói. Tổ chức nào ? Ai chỉ huy mày ?
Tôi phải tỏ ra vẻ mặt thật thành khẩn :
- Tôi là dân lành, thực tình không biết tổ chức nào. Không có ai chỉ huy tôi cả.
- Mày ngoan cố ! Không khai rõ, tao cho điện giật chết ngay.
Tôi thấy sợ. Từ nhỏ đến lớn, đây là lần đầu tiên bị dính vào chuyện quân cơ. Trong thời thế nhiễu nhương này, Việt cộng muốn giết ai lại không được. Tôi càng cố tỏ ra thành khẩn hơn :
- Tôi xin thề, tôi hoàn toàn không biết gì hết để khai báo. Tôi là dân thường, vô tình chụp hình thôi.
Điều tra viên hét lớn :
- Mày nói láo. Mày là nhân viên CIA. Khai ngay. Chỉ huy mày là ai ? Đang ở đâu ?
- Tôi không có.
- Láo ! Láo ! Láo ! Cùng với những tiếng hét là mấy cú đấm liên tiếp như trời giáng vào mặt tôi khiến tôi thấy trời đất quay cuồng. Máu mủi tôi trào ra lênh láng. Điều tra viên hỏi tiếp : - Mày sợ chưa ? Tụi CIA trả mày bao nhiêu tiền ?
Tôi mếu máo :
- Anh có đánh tôi chết, tôi cũng không biết gì để khai.
- Mày ngoan cố ! Tao đánh mày chết luôn.

Tiếp liền câu nói là điều tra viên đấm thêm mấy cái vào mặt tôi và thoi liên tiếp vào bụng tôi. Tôi ngã nằm lăn lóc trên sàn nhà, ôm bụng quằn quại. Thấy tôi đã thấm đòn mà vẫn không khai gì, điều tra viên bỏ ra ngoài. Hôm sau, điều tra viên bắt tôi chui vào thùng phi, ngồi thụp xuống. Anh lấy cây sắt đánh mạnh vào thùng phi từng hồi khiến tôi muốn điếc hai lổ tai. Đầu tôi nghe bưng bưng như muốn nổ tung. Vừa đánh vào thùng phi, anh vừa hỏi cung. Vẫn là những câu hỏi hôm qua và tôi vẫn trả lời không biết gì. Mỗi khi chịu không nổi tiếng binh binh như tiếng sét đánh, tôi thò đầu lên khỏi thùng phi thì anh đấm vào mặt tôi ngay. Bị tra khảo một hồi, tôi ngất đi. Ngày hôm sau nữa, tôi lại bị tra khảo như thế và cũng bị ngất xỉu. Việt cộng thấy tôi thật tình không biết gì nên thả cho về nhà.

Nghe tôi kể lại chuyện bị bắt và bị tra khảo như vậy, anh Vân cho tôi uống thuốc bổ và ăn cháo gà cho khỏe. Anh Năm, đại úy Địa phương quân, anh em cột chèo với anh Vân, giã cua với rau gì đó rồi vắt ra nước cho tôi uống. Anh nói uống vậy sẽ tan máu bầm trong những chổ bị đánh. Nghỉ ngơi một tuần, tôi tiếp tục mỗi ngày đến thương xá Rex làm việc với anh Vân. Vài tháng sau, tôi đi học lớp 12 A trường trung học Hưng Đạo. Thời gian này, anh Năm và anh Hồ Đấu đã bị đi tù “cải tạo” cùng với cả trăm ngàn sĩ quan khác của chế độ cũ. Đời sống vừa học vừa làm rất bận, nên dù nhớ Diệu, tôi cũng không có dịp đi thăm cô. Một ngày cuối tháng 11, nhớ Diệu quá, tôi đạp xe đến xóm chợ Thị Nghè. Thật buồn ! Gia đình Diệu đã dời đi nơi khác. Đến ngày lễ giáng sinh, đang đứng trước cửa thương xá Rex ngắm người qua lại trên phố Lê Lợi, tôi chợt nhìn thấy Diệu được một thanh niên ôm eo đi ngang qua. Diệu đang nói cười vui vẻ với người bạn trai nên không thấy tôi. Diệu vẫn trẻ trung, xinh đẹp rực rỡ, và chắc vẫn đang sống theo nếp “hiện sinh” yêu cuồng sống vội của cô như ngày nào, dù chế độ có thay đổi. Tôi biết cô không phải là mẫu người để tôi yêu, nhưng nụ hôn đầu đời tôi có được do cô chủ động ban cho vẫn ám ảnh tôi mãi cho đến ngày có một hình bóng khác thế vào trong tim tôi.

Bạch, cô bạn học cùng lớp, 19 tuổi, không đẹp như Diệu nhưng có nét dễ thương, duyên dáng, tính dịu dàng, ít nói. Nhờ ngồi chung bàn, sát bên nhau, nên tôi và Bạch trở thành bạn ngay từ những ngày đầu nhập học. Qua Bạch, tôi quen thêm Thủy, Loan và Minh. Chúng tôi thành nhóm bạn chơi thân với nhau, thường rủ nhau đi ăn chè đậu, bò bía sau giờ học, hoặc tụ tập ở nhà Thủy để tâm sự chuyện đời của nhau và nghe Thủy chơi đàn guitar classic. Bạch, Thủy, Loan đều là con sĩ quan cấp tá chế độ cũ từ Quy Nhơn chạy vào Sài Gòn trong biến cố tháng tư đen. Các cô vẫn thường tâm sự, khát vọng của các cô bây giờ không phải là chuyện học hành lên cao trong chế độ mới này, mà là tìm kiếm con đường vượt biên để có được cuộc sống tự do ở Mỹ. Thời gian này, người Sài Gòn cũng hay bàn tán với nhau về chuyện vượt biên. Họ thường tụ tập ở các quán café vỉa hè, rỉ tai cho nhau nghe về những gia đình người quen đã đi thoát, hay gia đình nào bị công an bắt giữ lại, hoặc cho nhau biết về giá cả phải đóng bao nhiêu cây vàng mỗi người cho chủ tàu tổ chức chuyến đi. Họ truyền tai nhau về đời sống ở Mỹ, tự do, vui sướng lắm, vì nước Mỹ văn minh, giàu mạnh nhất thế giới. Qua Mỹ sẽ được chính phủ Mỹ cấp cho tiền và nhà ở, không lo thiếu thốn gì cả. Nghe họ nói chuyện, tôi càng thấy tiếc vì đã bỏ lỡ cơ hội được đi Mỹ “miễn phí” trong đêm 29 tháng 4 tại bến tàu.

Sau mấy tháng chơi thân với nhau, Minh cặp bồ với Thủy. Còn tôi, đến đầu năm 1976 thì quên hẳn Diệu để cảm thấy người lý tưởng tôi yêu là Bạch. Tôi thường làm thơ tặng cô và chép bài giùm cho cô. Nhưng tình yêu của tôi là tình đơn phương. Có lần, tôi hỏi dò cô :
- Lâu nay, Quý hay tặng thơ cho Bạch và chép bài giùm Bạch, Bạch đáp lại Quý thế nào nè.
Bạch ỡm ờ :
- Quý muốn gì Bạch cũng chìu theo hết.
Tôi hỏi tới :
- Quý muốn gì cũng được, thiệt không ?
Bạch mỉm cười :
- Thiệt !
Tôi xem đó là sự đón nhận của Bạch đối với tình yêu của tôi dành cho cô. Tôi mừng quá, muốn ôm cô ngay trong lớp, nhưng kịp kềm chế lại. Tôi định bụng giờ tan học sẽ mời cô đi ăn kem. Tôi tưởng tượng lúc đó sẽ được cô cho tôi nắm tay cùng đi phố, như trước đây tôi với Diệu. Nhưng khi tan học, cô đã nhanh chân lấy xe đạp đi mất tiêu. Đêm đó, tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Hình ảnh cô cứ chập chờn trong đầu tôi. Tình yêu trong tôi cứ lớn dần theo ngày tháng. Trên đường đi, khi ăn uống, lúc làm việc, tôi cứ nhớ đến cô. Nhóm bạn chúng tôi vẫn mỗi tuần cùng đi chơi hay gặp nhau tại nhà Thủy. Những lúc đó, Bạch đối với tôi nửa xa, nửa gần; vừa như đáp lại tình cảm của tôi, vừa như có một khoảng cách nào đó khiến tôi không thể mạnh dạn chính thức tỏ tình với cô. Có một chàng bên lớp 12 B, trưởng ban văn nghệ trường, cũng đang trồng cây si Bạch. Hắn quen cô nhờ cùng sinh hoạt với cô trong ban văn nghệ. Mỗi ngày, vào giờ ra chơi, hắn đến đứng ở cửa lớp nhìn cô chăm chăm. Một ngày cuối tuần trong tháng 5 / 1976, tôi, Minh và Loan đến thăm Thủy, vừa lúc thấy hắn chở Bạch trên chiếc Honda từ nhà Thủy chạy ra. Tôi vỡ mộng tình ! Tôi còn được gặp lại Bạch trong ngày thi tốt nghiệp lớp 12. Chúng tôi vẫn tỏ ra thân thiết và giúp nhau ôn bài trước giờ thi. Nhưng tôi hiểu, tình yêu đã xa tầm tay. Sau lần gặp đó là “nghìn trùng xa cách”. Cả Thủy, Loan và Diệu nữa, tôi cũng không có dịp nào gặp lại. Không biết cái ước mơ của Bạch, Thủy, Loan, Diệu mong được chắp cánh bay đến phương trời tự do có trở thành hiện thực không ? Có lần nhớ về các cô, tôi buồn buồn, khe khẽ hát hai câu nhạc Trịnh :
“ Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ.
Ôi, những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa…”
Rồi tôi bật cười. Rõ lẩn thẩn, có cô nào dành cho tôi tình yêu đâu mà “người tình” với “hẹn thề”
Từ khi Việt cộng chiếm miền Nam thì tất cả cơ sở thương mại lớn ở Sài Gòn đều bị chúng tiếp thu, biến thành quốc doanh, trở thành tài sản riêng của nhà nước. Nhiều thương gia uất ức nhảy lầu tự tử. Thương xá Rex, sau vài tháng hợp doanh cho có hình thức thì cũng bị chuyển qua quốc doanh. Không những chúng cướp đoạt các cơ sở thương mại lớn mà còn chiếm hữu ngang xương nhà dân nữa. Biệt thự của ông bà Ưng Thi bị Võ văn Kiệt chiếm lấy để ở. Thương xá Rex đổi tên :
Khách sạn Bến Thành, thuộc công ty Du lịch thành phố. Nhân viên cũ gọi là lưu dụng. Công nhân viên mới toàn con, cháu của Việt cộng, hay bộ đội chuyển ngành. Có nhiều con cháu của cán bộ đảng viên từ ngoài Bắc được đưa vào giữ các chức tổ trưởng. Nhờ suốt một năm phụ giúp anh Vân vẽ trang trí cho thương xá Rex nên sau khi tốt nghiệp Tú tài, tháng 6 / 1976, tôi được ký hợp đồng chính thức trở thành công nhân viên Khách sạn Bến Thành, cùng với anh Vân lo vẽ quảng cáo cho ba rạp chiếu bóng Rex và Mini Rex A, B. Tôi ăn ở luôn tại khách sạn. Đồng lương công nhân viên không đủ sống, bửa no, bửa đói. Cơ quan này, vừa kinh doanh với khách nội địa vừa chuyên tiếp các phái đoàn nước ngoài của khối cộng sản quốc tế, nên nhân viên nữ nhiều lắm. Cô nào cũng xinh đẹp như hoa xuân. Xui cho các cô, gặp phải ông chủ nhiệm từ rừng về rất háo sắc. Có lần, tôi thấy cô thư ký phòng chủ nhiệm, áo dài bị bung hết hàng nút, ôm ngực chạy ra ngoài. Vài cô bạn thân của tôi làm ở tổ nhà kho hay tổ vũ trường lên phòng vẽ thăm tôi, kể cho tôi biết đã bị chủ nhiệm sàm sỡ, sờ soạng tùm lum. Các cô chống cự thì bị ông đe dọa đuổi. Trong hoàn cảnh nhiều gia đình bị cưỡng ép đi “kinh tế mới”, muốn giữ được hộ khẩu tại thành phố phải có việc làm, nên các cô đành nhịn nhục. Giữa năm 1977, ngay trong cuộc họp toàn cơ quan, tôi mạnh dạn đứng ra phê bình chủ nhiệm về những hành vi không đứng đắn của ông. Thế là bị ông trả thù bằng cách tống cổ tôi đi “nghĩa vụ quân sự” vào ngày 31 / 7 / 1977.

Sau khi chiếm lấy các cơ sở thương mại lớn, đến năm 1978, Việt cộng tiến hành đánh “tư sản” đợt hai, chiếm giữ các cơ sở thương mại cở vừa. Nhiều nhà dân bị chúng cướp đoạt. Người dân Sài Gòn uất ức, rủ nhau đi vượt biên bằng đường biển hoặc đường rừng. Phong trào vượt biên tìm tự do của người Sài Gòn và cả miền Nam bắt đầu lên mạnh từ năm này. Dẫu biết bỏ nước ra đi là cả sự ngậm ngùi, cay đắng, lại phải chịu đựng những gian truân, nguy hiểm trên đường, có thể bỏ mạng trên biển.khơi ngàn trùng hay nơi rừng sâu nước độc, nhưng với sự thù ghét tận cùng chế độ cộng sản, và với khát vọng được sống cuộc đời mới vui sướng, hạnh phúc nơi miền đất tự do, nhân bản, người dân vẫn hàng hàng, lớp lớp ra đi.

Cuối năm 1978, đơn vị tôi bị đưa đi đánh Khmer Đỏ ở Campuchia. Trong năm này, tôi nghe tin vợ chồng anh chị Phượng, con thứ bảy của bác Tươi, bị chết trên đường vượt biên. Giữa năm 1979, sau khi chiếm được Nam Vang, đơn vị tôi chuyển về đóng quân ở Kampongcham. Tôi được cho về Sài Gòn nghỉ phép vài ngày. Có người bạn tên Quang rủ tôi đi vượt biên. Quang nói nhờ quen biết với chủ tàu nên chỉ cần nộp hai cây vàng cho chủ tàu là được cho đi. Như bao người dân, tôi đã quá chán ghét cái chế độ độc tài, gian ác của Việt cộng nên cũng thèm lắm cái đời sống tự do, dân chủ ở các nước Âu Mỹ. Nhưng đào đâu ra vàng bây giờ ?. Đành tiếp tục đời bộ đội. Tôi cũng rán học vài câu tiếng Miên, tìm hiểu đường đi, nước bước ở xứ Miên, để có dịp thì đi tìm tự do bằng đường bộ. Tháng 8 / 1980, tôi được cho xuất ngũ nhờ thi đậu vào trường đại học Tổng hợp, phân khoa Văn. Tôi được học tại trường đại học Văn khoa, theo chế độ nội trú, ăn ở miễn phí tại trường, mỗi tháng được cấp 18 đồng. Sau vài tháng học, tôi bị ban giám hiệu kêu lên văn phòng. Cô thư ký, đại diện ban giám hiệu, cho biết tôi là sinh viên xuất sắc về môn sử, nên ban giám hiệu bắt tôi phải chuyển qua học phân khoa Sử.
Tôi phản đối. Cô thư ký nói :

- Đây là quyết định của ban giám hiệu, anh không có quyền phản đối.
- Tại sao không ? Tôi thi khoa Văn, tôi có quyền học theo ngành mà tôi thi đậu.
- Nhưng ban giám hiệu cho biết, trong kỳ thi vào đại học của anh, điểm văn 7 điểm, còn điểm sử tới 8 điểm. Trong mấy tháng học qua, anh lúc nào cũng có điểm sử cao hơn điểm văn. Nên nhà trường muốn đào tạo anh thành cán bộ ngành sử.

Tôi không đồng ý với cô :
- Tôi có khiếu về sử thật, nhưng tôi rất yêu thích thơ, văn. Tôi muốn học văn để có thể trở thành nhà báo, nhà văn sau này
Cô thư ký lên lớp :
- Anh dại quá. Học văn thì không viết được sử. Nhưng nếu anh học sử, sau bốn năm, anh là cán bộ sử, được mọi ưu đãi của nhà nước. Ngoài việc trở thành sử gia, anh vẫn có thể làm thơ, viết văn.
Tôi vẫn cương quyết :
- Tôi không chấp nhận sự cưỡng ép vô lý này. Có chế độ nào lại không cho người dân học hành theo ý muốn ? Tôi phải học văn.
Cô thư ký gay gắt :
- Nếu anh không chịu thì anh bị đuổi học.
Tôi nổi nóng :
- Đuổi thì đuổi !
Thế là tôi bị tống cổ ra khỏi trường đại học ! Bấy giờ là cuối tháng 11 / 1980.
Tôi có buồn nhưng tự an ủi : Nhà trường bây giờ là bộ phận của nhà nước cộng sản. Chống lại họ thì phải chịu lấy hậu quả. Nếu có tiếp tục học, cũng bị họ nhồi nhét đầy óc ba mớ lý luận chính trị rác rưởi và triết thuyết Mác lê nin không tưởng của chúng, vài năm sau cũng trở thành tay sai cho chúng đè đầu, cởi cổ dân lành. Làm sao có thể sống nổi với cái chế độ cộng sản phi nhân, vô luân này ?! Cái chế độ gì mà trong tiến hành cách mạng thì đầy sự thù hằn, khắc nghiệt, đấu tố, chôn sống người; trong tiến hành chiến tranh thì tàn bạo, ác độc, vô lương, giết hại vô số đồng bào ruột thịt; trong thống nhất thì tròng lên cả nước cái ách độc tài, chuyên chế, cướp đoạt tất cả tài sản người dân, bắt bỏ tù cả trăm ngàn sĩ quan, văn nghệ sĩ, tu sĩ, cưỡng ép người dân đi “kinh tế mới”, bắt buộc toàn dân sống trong cơ cực, thiếu thốn, nhịn đói, nhịn khát để xây dựng cái thiên đàng cộng sản ảo tưởng của chúng !. Bằng mọi cách tôi phải có được một cuộc sống tự do. Tự do tri, ngôn, hành theo chủ thể của mình. Sống, làm việc và học hành theo ý thích của mình. Tôi phải tự chắp cho mình đôi cánh bay đi tìm một đời sống tự do nơi phương trời viễn xứ. Ỡ Mỹ, Âu, Úc, hay ở bất cứ nơi nào cũng được, miễn không có cộng sản. Không có vàng để vượt biên đường biển thì đi đường bộ. Nhờ học được vài câu tiếng Miên và đã thuộc lộ trình đi qua Miên đến Thái, tôi có thể một mình ra đi. Tôi nhớ đến câu viết của người chiến binh chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã tự sát trên bến sông Bạch Đằng :
“Tự do hay là Chết”. Vâng ! Tự Do Hay Là Chết !
Vậy là tôi lên đường.

- Ghi dấu 30 năm rời xa quê hương : 1980 – 2010

HUYÊN CHƯƠNG QUÝ ( Lý Nguyễn Thiên Quý )

huyenchuongquy@yahoo.com

Friday, January 29, 2010

Chien Tranh & Hoa Binh 04 - Chieu Hanh Quan

TRỞ VÊ ĐẦU TRANG


Quê Hương và Chủ Nghĩa
(Gửi tuổi trẻ Việt Nam)
Một bài thơ viết từ SAIGON ..............
( tác gỉa : Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh.)
Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh sinh năm 1958 ở Bạc Liêu, hiện sống tại Sài Gòn. Tác giả của nhiều tập thơ như Ðêm mặt trời mọc, Khí hậu đồ vật và Của căn cước ẩn dụ, và Ê, tao đây. Thơ của ông đã được nhiều tác giả dịch ra tiếng Anh. Trong bài phỏng vấn dành cho nhà văn Vi Ký, nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh nhận xét về đảng Cộng Sản: “Ðảng Cộng sản thắng Tây và Mỹ bằng máu của dân tộc, bằng vũ khí của Nga và Tàu, rồi nộp “độc lập dân tộc” cho cộng sản Tàu và Nga. Ai chỉ ra tình trạng thế chấp và bán đứng đó đều bị cho là phản động. Kẻ phản động có thể gây tai họa cho Ðảng nhưng lại là phúc của dân. Những ai vì Ðảng sẽ kết án kẻ phản động, còn những ai vì con người thì sẽ hoan hô kẻ phản động. Hãy nhớ câu nói lịch sử của ông Nguyễn Văn Thiệu: “Ðừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”.

Quê Hương và Chủ Nghĩa
(Gửi tuổi trẻ Việt Nam)

Em hãy ngồi xuống đây
Anh kể câu chuyện này
Trên cánh đồng cỏ cháy
Ngậm ngùi như khói bay
Con ngựa già một đời
Chưa thấy được ngày vui
Mắt mỏi mòn trông đợi
Những mầm cỏ xanh tươi.
Đã bao nhiêu năm rồi
Hướng nhìn về xa xôi
Tâm tư đau nhức nhối
Cuộc đời vẫn nổi trôi
Em nhìn về tương lai
Cố dấu tiếng thở dài
Mắt dường như ngấn lệ
Có phải vì khói cay?
Em thấy đó, trên đường đi không đến,
Quê hương đau, chồn cáo vẫn nghêng ngang
Những con thú người nhảy múa kiêu căng
Ngửa mặt hú một bài ca chủ nghiã.
Ngôn ngữ văn nô, đỉnh cao trí tuệ,

Chủ nghiã dạy em, thù hận hờn căm
Chủ nghiã dạy em, độc ác bất nhân
Chủ nghiã dạy em, lọc lừa xảo trá
Chủ nghiã dạy em, dối gian trăm ngả
Chủ nghiã dạy em, bội phản vong ân
Chủ nghiã dạy em, giết chết lương tâm
Chủ nghiã dạy em, vô thần đấu tố
Chủ nghiã mù, rước voi dày mả Tổ
Chủ nghiã ngu, thờ đồ tể ngoại bang
Chủ nghiã bưng bô, xây dựng thiên đàng
Chủ nghiã lừa em, những con bò sữa
Chủ nghiã bất lương, ma cô nhà chứa
Chủ nghiã tú bà, dụ dỗ thơ ngây
Chủ nghiã cò mồi, vơ vét luôn tay
Chủ nghiã cai thầu, bán buôn Tổ-Quốc
Chủ nghiã lưỡi câu, móc mồi dân tộc
Chủ nghiã bịp lừa, bánh vẽ tự do
Chủ nghiã cá ươn, tư tưởng vong nô
Chủ nghiã chết đi, Quê Hương vẫn sống
Ai nhân danh hạnh phúc
Thứ hạnh phúc ngục tù
Ai nhân danh dân chủ
Thứ dân chủ si ngu
Ai nhân danh chân lý
Thứ chân lý đui mù
Bao nhiêu năm, ai nhân danh chủ nghiã,
Tự-Do xích xiềng, Dân-Chủ dối gian
Mác-Lênin, đâu phải người Việt Nam!
Sự thật đó có làm em đau nhói ?
Vẫn chập chờn lượn bay bầy quạ đói
Chồn cáo kia có rình rập trước sau

Ngẩng mặt cao và đừng sợ đớn đau
Đứng lên em bằng tâm hồn biển động.
Em đứng lên như đại dương dậy sóng
Tiếng sét thần tuổi trẻ nổ ầm vang
Những tượng hình, chủ nghiã, phải tiêu tan
Cây Dân-Chủ bừng lên ngàn sức sống,
Em bây giờ khôn lớn
Mắt rực lửa yêu thương,
Biết đâu là sự thật
Em tìm thấy con đường.
Tự-Do sẽ nở hoa
Trên quê hương khốn khó
Anh như con ngựa già
Vẫn cúi đầu kiên nhẫn
Đốt những đám cỏ khô
Dọn đường cho em đi làm lịch sử

Nguyễn Quốc Chánh
Saigon

TRỞ VỀ ĐÂU TRANG

Thursday, January 28, 2010

NĂM DẦN NÓI CHUYỆN CỌP

Trung Đạo


Trong bức tranh nhập nhòe tối sáng của rừng rậm kinh tế toàn cầu chưa ngã ngũ ra sao, thấp thoáng đã thấy bóng Cọp hai mắt xanh lè xuất hiện. Lại một năm Dần sắp đến, năm Canh Dần, không biết mang lại lành dữ thế nào. Trong năm qua, biết bao nhiêu tai biến đã xảy ra cho nhân loại, từ kinh tế xụp đổ, hàng trăm triệu người thất nghiệp, bao nhiêu gia đình mất nhà mất cửa, đến thiên tai bão lụt, động đất, sóng thần, cúm heo, khủng bố, chiến tranh, đàn áp tranh đấu dân chủ khắp nơi từ Đông sang Tây.. Cọp tới, mang thêm tin dữ cho nhân loại, hay vẫn tiếp tục đem lại những chuyện buồn phiền, bất hạnh cho trái đất này.

CỌP là một loài MÈO cao lớn, mặt mày và lưng có vằn vện trông rất dữ tợn, một loại linh miêu chuyên ăn thịt sống, ở trong rừng nhiệt đới, răng bén, vuốt nhọn, sức mạnh như bão táp, được mô tả như có linh tính nghe được và hiểu được tiếng nói, động tịnh của con người nếu sống lâu. Cọp có nhiều tên khác nhau như Hổ, Hùm, ông Ba Mươi. Như mèo, Cọp có nhiều giống, kích tấc và màu sắc khác nhau, cọp vằn, cọp trắng, cọp vàng, cọp đen. Cọp Ấn độ, Trung hoa, cọp các nước Đông nam Á, cọp Phi châu, cọp Nam Mỹ..Cọp sống theo đơn vị tiểu gia đình vợ chồng con cái, đến khi con cái lớn đủ sức tự săn mồi lấy thì tự tách ra riêng. Thức ăn của Cọp là các loại thú nhỏ trong rừng như hươu nai, heo dê rừng, trâu bò rừng, khỉ, thỏ, sóc, chim rắn.,. Như người, Cọp hay sống quanh quẩn gần các ao hồ để uống nước cho tiện, cũng như để có nhiều cơ hội kiếm mồi hơn, vì các loài thú hay xuống đó uống nước, khỏi phải đi xa tìm thức ăn..

Ở Phi châu, cọp hay rượt các bầy ngựa vằn, bò rừng, linh dương, trâu rừng chạy thành đàn trên rừng cỏ savanna để ăn thịt. Mục tiêu dễ tấn công nhất là các chú babies yếu đuối đi lạc cha mẹ trong chuyến du hành dời chỗ ở. Khi vồ được con thú chậm chân, Cọp luôn ngoạm ngay cổ, cắn cho chết trước khi tha về cho vợ con xâu xé đánh chén, liếm láp. Khi kẹt thức ăn vào mùa đông, vì các thú nhỏ di chuyển về các vùng xa ấm áp, hay trốn mất hết vào hang động, cọp hay rủ một vài bạn bè cọp khác theo rình rập các voi con đi xa cha mẹ để xúm lại chồm lên tấn công, xé xác rồi tha các mảnh vụn chui vô bụi ăn. Có khi mò về các làng mạc dân chúng ở ban đêm để bắt trâu bò,heo gà, đôi khi tấn công cả con người. Nếu dân hay được, chỉ cần nổi lửa hay gõ chiêng trống ầm ỹ sẽ đuổi cọp rất dễ, vì chúng vốn sợ tiếng ồn. Những tiều phu đốn củi, kiếm mật, hay dân đi hái rau, đào củ trong rừng ở Trung hoa và Việt nam lâu lâu cũng hay bị cọp rình rập phục kích ăn thịt.

Cọp có nhược điểm hay giựt mình phóng chạy mất nếu có tiếng động ầm ỹ ở sau lưng, nên khi ai trong rừng thấy đuôi và bóng dáng cọp trước mặt phải bình tĩnh la hét thật to cho cọp phóng chạy rồi từ từ tìm chỗ nấp, hay leo lên cây cao .Cọp cực chẳng đã hết thú mới bắt người ăn thịt chứ thợ săn thì luôn tìm cách gài bẫy để bắt giết cọp, không phải để trừ hậu hoạn cho con người, mà vì cọp là món hàng quí hiếm có giá trị trên thị trường quốc tế. Bộ lông cọp và đầu cọp được mua với giá rất đắt để trang hoàng phòng khách các nhà triệu phú quan quyền, làm thảm và treo tường gây ấn tượng. Xương thịt cọp dùng để trị bệnh. Xương cọp nấu nhừ làm thành Cao hổ cốt, tánh nóng, trị nhiều chứng bệnh nan y trong khi sừng nai nấu thành Cao ban long rất mát, uống bổ máu, hồng hào da thịt. Râu ria cọp, đặc biệt ướp với măng tre, làm nảy sinh ra một loại trùng đôc cực độc, uống vào chết ngay lập tức, dùng tẩm tên độc săn bắn hay đầu độc người.

Trong tử vi, đàn bà tuổi Dần có tiếng là cao số, hay trắc trở đường chồng con. Đàn ông tuổi Sửu tuổi Mùi tuổi Hợi ít ai dám lấy vì sợ bị “Cọp” ăn thịt, hay đúng ra là bị vợ ăn hiếp, hay chết yểu trước vợ. Thực ra đàn bà tuổi Dần, nhất là CANH DẦN, hay có sao CÔ thần, Quả tú đóng ở Mệnh, nên thường lấy chồng trễ, gia đạo vợ chồng hay lục đục, hoặc ở góa sớm. Do đó mà dân gian hay có thành kiến với đàn bà tuổi Dần.

Trong dân gian, có nhiều truyện ly kỳ về loài cọp tinh khôn lưu truyền, bắt nguồn từ các làng bản cao nguyên nước ta, nhiều lắm tôi không nhớ hết. Trong chuyện thần thoại “thằng Cuội Cây đa”, có một đoạn liên quan dến Cọp. Cọp là thày thuốc đông y giỏi biết dùng dược thảo. Cuội một hôm khám phá được một hang cọp có 4 con cọp mới biết đi. Nó bẻ hết cẳng chân các con cọp để trừ hậu họa thì nghe tiếng cọp mẹ về, vội vàng leo lên cây nấp. Nó thấy cọp mẹ chạy đi tìm một thứ lá về nhai đắp cho các cẳng bị gãy, mấy hôm sau thì các cẳng chân liền lại, bèn rình đi theo cọp mẹ coi hái lá ấy ở đâu. Nhờ đó mà Cuội trở thành thày thuốc bất đắc dĩ nổi tiếng. Sau đó, để khỏi mắt công vô rừng kiếm lá đó, Cuội lấy hẳn một nhánh đem về trồng xuống ngay trước nhà, chăm bón thường xuyên, dấu không cho ai biết. Cây lớn dần thành cây thuốc cao xum xuê cho đến một ngày người vợ không biết, đi tiểu bậy vào gốc cây. Cây từ từ bay lên vừa kịp lúc Cuội chạy về ôm chặt lấy bay theo lên trời. Từ đó nhìn lên cung Trăng ta thấy có bóng Cuội ngồi bên cây đa. Nhắc tới chuyện gì liên quan đến Cọp, ai cũng nói khẽ, có khi kêu là Ông BA Mươi, sợ con vật linh thiêng đâu đó trong rừng nghe được mình nói xấu, sẽ tìm cách trả thù người kể.

Bởi vậy, trẻ con chúng ta ngày xưa, đứa nào cũng sợ cọp, cho nên người lớn mỗi lần dỗ con nít nín khóc, hay đem Cọp ra dọa là có kết quả ngay. Các bậc anh hùng bất khuất chống Pháp trước đây như Hoàng Hoa Thám, đóng chốt ở Yên thế, được quân Pháp nể sợ như Cọp, cũng được ví như Hùm beo, đặt tên là “ Hùm thiêng Yên thế”. Các danh họa Trung quốc thời xưa thường hay vẽ tranh Cọp oai hùng nhe răng giương móng để diễn tả chí lớn bất khuất của các bậc anh hùng. Treo tranh cọp trong nhà, do đó, ngoài ý nghĩa trang hoàng, đôi khi còn kín đáo nói lên hoài bão và tâm nguyện của chủ nhân. Ngày nay, danh hiệu Cọp được gán cho những quốc gia Á châu có nền kinh tế tăng trưởng mau lẹ như Singapore, Đài loan,Trung quốc, Nam Hàn…

Nhưng có một chuyện Cọp bị coi như kém thông minh hơn loài người. Đó là trong Quốc văn giáo khoa thư dưới thời thủ tướng Trần trọng Kim, nói về Trí khôn con người. Một nông dân đang cày ruộng ngoài nắng, luôn miệng hò hét nạt nộ, quất roi vào mông con trâu kéo cày đi trước. Một chú Cọp lấy làm lạ, chờ lúc vắng mặt người nhà nông, lại gần hỏi Trâu:

Ngươi to lớn sức khỏe hơn con người, sao lại chịu để cho nó hành hạ đánh đập như thế?
Trâu trả lời:
-Người tuy nhỏ bé, nhưng mà nó có trí khôn.
Cọp lấy làm lạ, tò mò muốn xem cái trí khôn nó như thế nào mà con người chinh phục được con trâu, bèn lại gần anh nhà nông để hỏi cho ra. Anh nhà nông thấy cọp thì tá hỏa tam tinh tính bỏ chạy, nhưng giả vờ làm gan ngồi nán lại xem cọp muốn gì.
-Này, con người kia, trí khôn của ngươi để đâu, lấy ra cho ta xem.
Người nghe lấy làm lạ, nhưng nghĩ ngay ra một kế:
-Trí khôn ta để ở nhà, làm sao cho ngươi xem được.
-Ngươi mau chạy về mang ra cho ta coi.
Người nhìn con trâu đang nằm nhai cỏ nghỉ ngơi dưới bóng cây gần đó, nói:
-Tôi về rồi ông ăn thịt con trâu của tôi làm sao?
-Không, ta thề không ăn thịt trâu ngươi đâu.
-Làm sao tôi tin ông được? Hay là để tôi cột ông vào gốc cây này cho chắc ăn, chịu không?
Cọp bằng lòng để người cột chặt vào thân cây. Cột xong, anh nhà nông mới lấy gậy quất lấy quất để vào mình cọp đến chết mà rằng:
-Đây chính là trí khôn của ta, ngươi hài lòng chưa?
Trong dân gian, cọp nổi bật ở tánh tình hung dữ, độc ác, phá làng phá xóm, ăn thịt heo gà trâu bò người dân nuôi. Điều đó bàng bạc trong ca dao tục ngữ loài người. Muốn tả người tham ăn, ăn nhiều, người ta hay mỉa mai: “Ăn như cọp” hay “dữ như cọp”. Lấy vợ tuổi Dần, ai cũng lo sợ, sợ cô dâu ăn hiếp chàng rễ. Đàn bà hung dữ hay ghen, cũng bị gọi là “cọp cái”. Tất cả chúng ta thời còn bé, ai mà không say mê những phim TARZAN sống trong rừng rậm với cọp beo,cá sấu và khỉ. Cọp cũng bị giới làm phim Holywood coi như thú dữ, ác độc, cần được Tarzan giết để cứu người lành trong khi Voi và Khỉ được xem như bạn thân của loài người, chuyên môn đi giải cứu nạn nhân, được khán giả mừng rỡ vỗ tay reo hò hoan hô .

Tuy nhiên, ít ai nhớ rằng Cọp cũng có bản chất Thiện tiềm tàng bên trong, bằng chứng ca dao tục ngữ ta có câu “Hùm dữ không nỡ ăn thịt con”. Rồi như chuyện con cọp nào bên Tàu ngày xưa, vì lỡ ăn thịt anh con trai một làm nghề tiều phu nuôi bà mẹ già, mà tuần nào cũng giết một con thú tha bỏ trước nhà bà mẹ để bà sinh sống cho đến khi bà qua đời, rồi lại biết tới trước mộ bà già làm lễ vái lạy cho tròn đạ làm nghĩa tử. Ở chùa Trà Can, núi Chà Bang phía Nam Phanrang, thày trù trì ,lúc còn sinh tiền, cũng kể chuyện con cọp núi tới nghe kinh kệ hàng ngày và quỳ trước chùa xin qui y, rồi ăn toàn lá cây cho đến khi qua đời. Chuyện nghe khó tin, nhưng không phải là không có, nếu biết rằng trong Luật nhân quả nhà Phật, chuyện Người làm ác xuống đầu thai làm vật và Vật đầu thai lên làm người là thường. Cũng như nếu con người có số ở tù mọt gông, thì Cọp cũng có số bị (hay được) ở trong các Sở thú suốt đời, chẳng khác gì ở tù chung thân. Những con cọp được nuôi trong Sở thú, có lẽ dễ đầu thai lên làm Người hơn Cọp sống trong rừng, vì nhẹ Nghiệp, không phải hàng ngày gầm thét, tức giận, sát sanh xé xác thú vật để nuôi thân, mà lại dường như có vẻ tu theo hạnh nhẫn nhục, tri túc. Cho nhiều ăn nhiều, cho ít ăn it, không kêu ca gào thét. Cọp còn được nuôi và huấn luyện để làm xiếc, sống gần con người hàng ngày, nghe hiểu tiếng người, nhưng tất nhiên lúc nào cũng phải cảnh giác coi chừng, vì dù sao cọp cũng chỉ là loài thú, không hấp thụ văn hóa đạo đức như con người văn minh được.

Trong lịch sử Việt Nam, đời nhà Lý, có vua Lý Thần Tông mắc bệnh lạ, hóa thành hổ, đúng ra là mình mẩy mọc lông, da đỏ sần ngứa, la hết kêu rống như cọp. Bấy giờ có một nhà sư tài danh lẫy lừng là Nguyễn Minh Không, được coi là thần y, đã chữa được bệnh cho vua, về sau được phong làm Quốc sư, được cấp nhà ở, miễn cả thuế má. Khi ông mất, rất nhiều đền chùa được dựng lên để thờ phụng. Tương truyền lúc còn đang học đạo, trong khi dạo chơi ở khu rừng, Thiền Sư Đạo Hạnh giả hóa hổ dọa, Nguyễn minh Không nói: “Nếu Thầy muốn vậy, sau này chắc sẽ phải chịu quả báo như thế.” Từ Đạo Hạnh hối hận: “Xưa kia đức Thế Tôn tạo quả viên thành còn chịu báo kim sương, mã mạch, huống chi ta sinh thời mạt pháp đâu có thể tránh được, đời sau sẽ làm quốc chủ và sẽ chịu báo này, ông với ta có nhân duyên Thầy trò lúc đó sẽ cứu ta.” Sau khi Thiền sư Đạo Hạnh hóa, đầu thai là Dương Hoán, được Vua Nhân Tông yêu quý lập làm Hoàng Thái tử và kế vị ngai vàng tức Lý Thần Tông hoàng đế. Lên ngôi không được bao lâu, tháng 3 năm 1136 Vua Lý Thần Tông bệnh nặng, lông lá mọc khắp cơ thể, gầm thét như hổ suốt ngày, các danh y tài giỏi được triệu đến chữa bệnh nhưng không thuyên giảm. Tức thì trong dân gian, trẻ con ca rằng:

"Muốn trị bệnh Thiên tử
Phải có Nguyễn Minh Không".

Vua bèn sai sứ tìm khắp dân gian mới gặp được Sư. Khi Sư đến, Tôn túc thạc đức các phương đang ở trên điện làm phép, thấy Sư ăn mặc quê mùa, họ khinh khí không đáp lễ. Sư đến, đem theo một cái đinh lớn, dài hơn 5 tấc, đóng vào cột điện, lên tiếng nói: "Ai có thể nhổ cái đinh đó ra thì trước đáng được tôn trọng". Nói thế ba lần, chẳng ai dám làm. Sư lại lấy hai ngón tay trái, cầm vào thì đinh theo chúng mà ra. Mọi người đều khiếp phục. Khi gặp vua, Sư lớn tiếng nói: "Ðấng đại trượng phu, giàu sang bốn bể, há lại làm ra những điều cuồng loạn đấy ư?" Vua rất run sợ, Sư sai lấy một vạc lớn đựng nước nấu sôi tới cả trăm lần, dùng tay quậy lên khoảng bốn lần, rồi tắm vua trong đó. Bệnh liền bớt ngay. Sau khi khỏi bệnh, cảm phục tài năng, Vua Lý Thần Tông phong Ngài là Quốc sư, tha thuế dịch cho vài trăm hộ.

Hiện nay, ngoại trừ ở Phi châu, giống cọp đã khan hiếm gần như tuyệt chủng vì nạn săn bắn bừa bãi của người dân sống ven rừng. Cọp cái sanh mỗi lứa từ hai đến bốn con, nhưng nuôi cho đến lớn khôn, còn sống được một con đã là may lắm, qua bao nhiêu năm chịu đựng khí hậu giá buốt, đói khát và bệnh tật bên cạnh cha mẹ trong rừng sâu, chưa kể bị loài người gài bẫy, bắn giết hãm hại. Cọp ăn thịt, nên dễ bị sâu răng, đau đớn, nhức nhối âm thầm chịu đựng mà không có nha sĩ nhổ răng, lâu lâu đạp phải hầm chông, bẫy sắt tẫm thuốc độc, đui què sứt mẻ chịu chết, không có thuốc men bác sĩ săn sóc, rất ư là đáng thương hơn đáng ghét.. Cái thuyết ngày xưa cho rằng Trời sanh cọp beo sư tử để quân bình luật thiên nhiên, để giết bớt loài thú ăn cỏ hươu nai dê thỏ ăn hết rau cỏ của loài người, xem ra không còn đứng vững nữa. Với súng đạn, bom lửa tinh vi chế tạo ngày nay, hươu nai dê thỏ còn chưa đủ cho con người ăn thịt, con người còn phải chăn nuôi ấp nở thêm súc vật để bán, để ăn, có đâu đến tay cọp beo trên rừng. Cọp và sư tử, rồi đây sẽ là những con vật chỉ còn thấy trong xi nê, Tivi, sách vở trước khi trở thành con thú huyền thoại nằm trong sách vạn vật của các thế hệ con cháu mai sau. Thật đáng thương thay cho các loài chúng sanh nghiệp nặng phải mang đội lốt thú trong khi con người tiến hóa quá nhanh trong mọi lãnh vực văn minh .

Trước thềm năm mới năm Canh Dần, cầu mong cho nhân loại dẹp bớt lòng tham lam
sân hận giữa các dân tộc với nhau, hãy giã từ chế tạo vũ khí, ngưng bỏ chiến tranh, không còn đe dọa hăm he nhau nữa, mà cố gắng cùng sống chung hòa bình trên trái đất ngày càng khan hiếm nước uống, tài nguyên, đừng để xảy ra đại chiến thứ ba, phải đi đến chỗ có ngày tuyệt chủng như loài Sơn miêu nói trên.

PHC









LÀM THINH
(Tiểu Tử )

Cái làng nhỏ đó nằm gần biển Manche, cách thành phố Etretat (miền bắc nước Pháp ) độ 10 km. Trong làng có chừng năm chục nóc gia nằm chùm nhum lại thành một khu, trừ một cái nhà nằm rời xa một mình về phía biển. Người trong làng gọi cái nhà đó là " nhà ông Lê ".

Cách đây mấy năm, ông Lê - người Việt Nam độ 40 tuổi - từ Paris ra đây mua lại cái nhà đó để làm nhà nghỉ mát. Mùa hè và các ngày lễ lớn, ông đưa vợ con - vợ người Pháp và hai con trai chín mười tuổi - ra đây đổi gió và lâu lâu ông cho bạn bè mượn năm bảy hôm. Ông có mướn một người trong làng - tên Jean Marie - trông nom nhà cửa và cắt tỉa vườn tược cây trái.

Mới đầu, người trong làng cứ tưởng ông Lê là người Tàu. Cho nên, họ hơi dè dặt. Chừng biết ổng là người Việt Nam, họ cởi mở hơn, thân thiện hơn. Làm như, đối với họ, người Tàu là người ngoại quốc xa lạ, còn người Việt Nam thì ít nhiều gì cũng đã từng được xem là người .. trong nhà ! Họ càng có cảm tình với ông Lê khi biết rằng ổng qua Pháp học từ hồi mười lăm tuổi, rằng ổng tốt nghiệp trường Arts et Métiers, rằng ổng làm chức lớn trong cơ quan Nhà Nước .v.v .. Họ hay nói với nhau:"Vợ chồng ông Lê thật dễ thương".

Vùng này cao hơn mặt biển hai ba chục thước mà cuộc đất lại không lài lài xuống lần khi ra gần biển như ở những nơi khác, nên không có bãi. Ở đây, biển đâm thẳng vô bờ, loại bờ đá dựng thiên nhiên sừng sững như một bức tường cao thật cao. Những ngày biển động, sóng đập vào chân tường đá nghe ầm ầm. Vì nhà ông Lê nằm cách bờ đá dựng không xa, nên vào những ngày đó, từ trong nhà nghe âm vang tiếng sóng giống như những tiếng thở dài ..

Hè năm đó, ông Lê và gia đình ra đây nghỉ mát chỉ có ba tuần thay vì một tháng như thường lệ. Ông nói với ông Jean Marie - người quản gia - rằng phải trở về Paris để đón cha mẹ từ Việt Nam qua. Ông Jean Marie hỏi ông có định đưa ông bà cụ ra đây chơi không thì ông Lê trả lời rằng không, bởi vì ông bà cụ mới xuất ngoại lần đầu tiên nên phải đợi một thời gian cho quen với khí hậu phong thổ.

Vậy mà chỉ mươi ngày sau, thấy ông Lê chở ra đây một ông già tóc trắng với hai va-ly hành trang. Người quản gia nghĩ:"Chắc định ở lâu nên mới mang hành trang nhiều như vậy". Ông Lê giới thiệu:"Đây là cha tôi. Còn đây là Jean Marie, quản gia". Sau đó, ông nói:"Trong thời gian cha tôi ở đây, tôi xin nhờ bà Jean Marie lo dùm việc nấu nướng giặt giũ giống như những lúc gia đình tôi ra đây nghỉ mát. Có điều là cha tôi không thể đi chợ ở Etretat như chúng tôi vẫn làm lâu nay, nên tôi nhờ ông bà lo giùm luôn vụ này. Đổi lại, tôi sẽ tăng tiền thù lao của hai ông bà lên mười phần trăm. Tôi xin ông bà chấp nhận cho".

Sau khi gọi điện thoại về nhà bàn tính với vợ, ông Jean Marie bằng lòng. Tiếp theo đó, ông Lê trao cho ông Jean Marie một số tiền và nói:"Đây, tôi gởi ông bà một tháng tiền chợ. Tôi dự trù dư dả phòng khi cha tôi cần mua những gì khác, nhưng nếu thấy thiếu thì điện thoại cho tôi hay để tôi gởi ra thêm. Mỗi cuối tháng, tôi sẽ gởi tiền để gối đầu cho tháng kế tiếp, ông bà yên tâm". Ông Jean Marie hỏi:"Còn bà cụ đâu ? Sao không cùng ra đây với ông cụ ?". Ông Lê trả lời như không trả lời:" Mẹ tôi ở Paris". Rồi sau khi nói mấy lời cám ơn ông Jean Marie, ông bắt tay từ giã người quản gia và ông già tóc trắng để trở về Paris, vội vã như không muốn vấn vương gì nữa !
Thấy ông Lê đối xử với ông già tóc bạc như là một người quen thường, ông Jean Marie vừa ngạc nhiên vừa bất nhẫn, bởi vì ông nhận thấy rõ ràng ông già tóc bạc đó và ông Lê thật sự giống nhau như hai cha con ..

Ông già ở trong nhà ông Lê như một cái bóng. Ông không xem tê-lê, không nghe ra-đi-ô. Ông cứ ngồi ở xa-lông hút thuốc liên miên, mắt nhìn thẳng ra cửa kiếng hướng về phía biển, giống như đang coi một cái gì ở ngoài đó. Ở ngoài đó không có gì hết ! Không có một cái cây, không có một lùm bụi. Cỏ dại cũng không mọc cao. Mặt đất trống trơn chạy thẳng ra bờ đá dựng. Từ chỗ ông ngồi, nhìn ra chỉ thấy đất và trời. Lâu lâu, vài con hải âu bay phớt ngang, và lâu lâu trên nền trời trong xanh của mùa hè, một sợi mây đi lạc .. Chỉ có bao nhiêu đó, vậy mà ông cứ ngồi nhìn, nhìn đăm đăm ..
Mới đầu, ông bà Jean Marie cứ tưởng rằng ông già không biết nói tiếng Pháp. Nhưng sau mấy lần hỏi han thấy ông trả lời trôi chảy mạch lạc, ông bà mới yên tâm. Có điều là hỏi thì ông mới trả lời chớ không thấy bao giờ tự ông gợi chuyện. Suốt ngày, ông làm thinh. Cần dùng gì thì ông viết ít chữ rồi gắn trên mặt tủ lạnh. Ông bà Jean Marie thấy vậy cũng ráng giữ ý không làm tiếng động khi quét dọn hay đi ra đi vào. Nhiều khi, họ có cảm tưởng như trong nhà không có ai hết ! Chỉ có mùi khói thuốc là nhắc đến sự hiện diện của ông già ..
Ông già đó tên Lê Tư. Hồi thời trước - cái thời mà miền nam Việt Nam chưa biết mùi cộng sản - ông Tư là một nhà thầu xây cất rất có bề thế ở Sàigòn. Ông giao du rộng, lại "biết cách giao du", thêm giỏi tính toán sắp xếp nên ông trúng thầu nhiều công trình lớn của Nhà Nuớc và của các công ty ngoại quốc. Do đó, càng ngày ông càng nổi tiếng và sự nghiệp thì cứ nhân lên gấp năm gấp mười. Dù vậy, ông không bao giờ chối bỏ cái gốc hàn vi của ông và rất tự hào đã bắt đầu bằng hai bàn tay trắng.

Ông thường nói:" Hồi tôi từ Đà Nẵng vô Sàigòn, tôi chỉ có một chiếc xe đạp cũ và cái nghề thợ hồ. Ban ngày đạp xe đi làm, ban đêm đạp xe đi học thêm ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp và hội Việt Mỹ. Hồi thời đó, quanh năm suốt tháng , tôi chỉ biết có thắt lưng buộc bụng, ăn uống kham khổ, để dành tiền gởi về cho cha mẹ ở Đà Nẵng và để đóng các học phí. Vậy mà tôi vẫn không ngã lòng. Lúc nào trong đầu tôi cũng nghĩ rằng phải cố gắng vươn lên, bởi vì không ai giúp mình bằng mình hết. Nhờ vậy mà bảy tám năm sau, tôi đã có một cơ sở vững chắc để cạnh tranh với các nhà thầu khác. Rồi thì xây cất hết công trình này đến công trình khác, có khi hai ba công trình cùng một lúc, cơ sở cứ lớn lần lớn lần để trở thành bề thế như ngày hôm nay. Nghe tôi nói tôi bắt đầu sự nghiệp bằng con số không chẳng có mấy ai tin hết ".
Khi đã khá giả, ông mới cưới vợ. Ông hay nói đùa:" Tình phải có tiền đi theo nó mới vững. Giống như bê-tông phải có cốt sắt nó mới bền !"
Ông bà Lê Tư chỉ sanh có một người con trai đặt tên Lê Tuấn. Năm Tuấn được mười lăm tuổi, ông gởi con qua Pháp học. Ông muốn nó học ngành kiều lộ để sau này trở về nối nghiệp ông. Ông nói :"Việt Nam mình cạnh tranh không nổi với hãng thầu ngoại quốc bởi vì mình có binh mà thiếu tướng". Và ông hy vọng trong tương lai, con ông sẽ thực hiện những công trình vĩ đại, vượt trội hẳn những gì ông đã làm. Để cho ông được nở mặt.
Cái tương lai đó bỗng tắt ngúm chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày 30 tháng tư, 1975 ..

Trước cái ngày đen tối đó, một người như ông Lê Tư dư sức để di tản dễ dàng. Vậy mà không thấy ông nhúc nhích. Ông cứ điềm nhiên hút thuốc, uống trà, xem truyền hình, nghe ra-đi-ô. Giống như một kẻ bàng quan. Bà Lê Tư thì cứ đi ra đi vô, hết gọi điện thoại cho bà bạn này đến gọi cho bà bạn khác. Rồi thúc giục ông đi di tản. Bà nói :
- Trời ơi ! Mấy bả đi hết rồi kìa !
Ông cười :
- Thì ai sợ cứ đi. Bà yên tâm. Tôi bảo đảm không có sao hết. Nói thiệt với bà, "họ" đã liên lạc với tôi cách đây hơn tháng, nói rõ rằng họ cần dùng những người như tôi để xây dựng lại đất nước. Cho nên, bà thấy tôi không ? Tôi bình chân như vại !

Điều mà ông không nói cho bà biết là từ bao lâu nay, ông vẫn đều đặn gởi tiền giúp cách mạng qua ngả thằng cháu - cũng gốc liên khu năm như ông - đang hoạt động ở mấy tỉnh miền Đông. Chính người cháu đó đã cho người về gặp ông để giải thích rõ ràng chủ trương đường lối của cách mạng. Nhờ vậy, ông mới vững tâm tin tưởng.

Đâu dè, sau khi cách mạng "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", cách mạng quay về đánh tư sản. Ông Lê Tư cũng "bị" mời đi "làm việc" như mọi người. Ông có xuất trình giấy chứng minh của liên khu bảy, là vùng ông đã giúp đỡ, nhưng lá "bùa" đó không linh ! Ông cũng có nghĩ đến thằng cháu cách mạng, nhưng bây giờ ông không biết nó ở đâu để gọi nó đến làm chứng. Vì vậy, ông vẫn bị mời tới mời lui để "làm việc". Mỗi lần làm việc, họ quay ông như .. con dế ! Đến nỗi về sau, mệt mỏi quá, chán chường quá, thấy nói gì cũng vô ích, nên ông bèn làm thinh, mặc cho họ muốn nói gì thì nói, hỏi gì thì hỏi. Rồi đến lần "làm việc" cuối cùng , ông cũng làm thinh ký tên trên xấp giấy tờ họ đưa ra, ông ký mà không thèm đọc qua một chữ ! Lần đó, ông bước ra khỏi cơ quan, có cảm tưởng như đang sống trong một thế giới khác, một thế giới .. lộn ngược ! Ông không còn khái niệm không gian thời gian. Ông chỉ biết rằng sau cái phút ký tên đó, ông trắng tay. Và ông còn nghe trong đầu câu nói ơn nghĩa "nhờ ông đã sớm giác ngộ cách mạng nên không phải đi cải tạo". Ông lái xe về nhà như một người máy. Ông đâu biết rằng trong cuộc " đổi đời vĩ đại " này, con người đâu còn sống bằng lý trí : con người chỉ sống bằng bản năng thôi !

Về đến trước cổng nhà, bỗng nhiên ông Lê Tư nhận thức rằng tất cả những gì trực thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ đang đợi ông ở nhà ..

Xưa nay, mọi việc trong gia đình đều do ông quyết định. Bà Lê Tư luôn luôn làm theo ý của ông, không bao giờ thắc mắc. Bởi vì bà hoàn toàn tin tưởng vào người chồng mà lúc nào bà cũng cảm phục như một thần tượng. Bà nói :"Từ bàn tay trắng dựng nên sự nghiệp đồ sộ như vầy, không phải ai làm cũng được !". Và bà thường ví chồng bà như một cây cau vững chắc để bà bám vào đó như một giây trầu .. Vậy mà bây giờ .. bây giờ .. Ông Lê Tư không biết ví mình như cái gì nữa. Cách mạng mà ông đã giúp từ ngày ông dựng nghiệp, hôm nay nhân danh gì gì đó, đã biến ông thành con số không. Dễ dàng như người ta cầm nùi giẻ bôi hết những hàng chữ phấn trên một bảng đen, bôi mà không cần biết những hàng chữ đó viết những gì ! Chỉ trong có một khoảnh khắc, ông chẳng còn gì hết và bản thân ông cũng không là gì hết ! Ông đã trở thành một "thứ gì" đó không có tên, một sản phẩm của cách mạng mà sách vở xưa nay chưa thấy có định nghĩa !

Ông bước vào nhà mà cảm thấy mình lêu bêu như bọt nước, không làm chủ được gì hết, kể cả làm chủ chính bản thân mình ! Cái biệt thự có hồ tắm vườn hoa, có năm ngăn bảy nắp, mà ngày xưa ông đã xây cất cho tương xứng với địa vị xã hội của ông .. bây giờ bỗng trở nên ngạo nghễ, vô duyên.

Nhà vắng teo. Một số gia nhân đã xin nghỉ việc từ những ngày sôi động, số còn lại đã được cho nghỉ ngay sau ngày 30 tháng tư. Bà Lê Tư chắc đang làm gì ở dãy nhà sau nên ông không nghe tiếng động. Ông đốt điếu thuốc rồi ngồi xuống phô-tơi nhìn thẳng ra vườn. Ông nhìn mà không thấy gì hết ! Yên lặng ..

Tiếng bà Lê Tư làm ông giựt mình : - Sao ông ? Họ đòi gì nữa vậy ? - Họ đâu có đòi. Họ lấy. - Lấy gì ? - Lấy hết tài sản của mình.
Giọng bà bỗng cao lên một nấc : - Lấy hết tài sản ? Ông nhìn bà rồi trả lời bằng cái gật đầu. Giọng của bà lại cao thêm một nấc :
- Gì lạ vậy ? Tự nhiên rồi đòi lấy tài sản của người ta. Đó là ăn cướp chớ đâu phải lấy ! Rồi ông trả lời làm sao ?
Ông thở mấy hơi thuốc, rồi mới nói : - Thì tôi giao hết lại cho họ chớ còn làm sao ? - Bà chỉ kêu lên được một tiếng "Trời" rồi ngồi phịch xuống ghế, mắt nhìn thẳng ra vườn. Bà nhìn mà cũng không thấy gì hết ! Yên lặng ..

Một lúc sau, ông nói, giọng thật trầm tĩnh : - Bà nghĩ coi. Bây giờ họ là kẻ chiến thắng. Quyền sanh sát nằm hết trong tay, họ muốn nói gì làm gì mà không được. - Còn luật pháp để đâu ? - Luật pháp của ai ?
Bà làm thinh. Một lúc sau, bà nói : - Hôm trước ông nói họ đã móc nối với ông để ông ở lại giúp họ xây dựng gì gì đó. Sao bây giờ họ lột hết của ông vậy ?

Ông làm thinh. Khói thuốc trong miệng bỗng trở nên thật đắng. Ông nghe thèm một hớp trà hay một hớp nước lạnh, hay bất cứ một chất lỏng nào cũng được .. để ông nuốt xuống " cái gì đó" đang nghẹn ngang ở cổ. Ông dụi điếu thuốc rồi đi lại bar ở góc xa-lông rót một ly nhỏ Porto uống ực một cái, giống như người ta bị mắc xương. Xong ông trở lại phô-tơi ngồi xuống, đốt điếu thuốc. Chất rượu đang nồng trên mũi, nhưng sao khói thuốc vẫn còn nghe thật đắng !
Giọng bà Lê Tư có vẻ trách móc : - Chớ phải ông nghe lời tôi đi di tản như thiên hạ thì đâu có sao. - Đi di tản cũng mất hết chớ hơn gì. - Sao mất hết được ? Ông quen lớn nhiều mà không hốt được một mớ đem đi theo à ? Có nhiều người còn gởi được bàn ghế và vô số đồ cổ nữa. Như anh X., như anh T., như ông tướng Z .. toàn là bạn thân của ông không.
Ông làm thinh. Bà vẫn nói, càng nói giọng càng gay gắt : - Thà rằng mình đi, cái gì không đem theo được là mình bỏ. Tụi nó có lấy, cũng là lấy những gì mình bỏ. Chớ còn bây giờ, tụi nó bóp họng ông để lấy, bộ ông không thấy tức sao ?
Ông làm thinh. Ngừng một lúc như để suy nghĩ, rồi bà nói một câu giống như bà đóng sập cánh cửa sắt để nhốt ông trong một nhà tù : - Chẳng bằng ông muốn ở lại để giúp cách mạng chớ gì ? Phải không ?
Ông nuốt nước miếng mấy lần, rồi tiếp tục làm thinh. Bây giờ, ông thật sự thấy mình như bọt nước trôi lêu bêu, không bám được vào đâu hết ..
Chiều bữa đó, cách mạng đưa đến mười mấy thanh niên trai gái và một toán bảo vệ cầm súng để làm công tác kiểm kê. Họ bắt mở hết các hộc, các kệ, các tủ .. để họ đem ra đếm từng món, không bỏ sót một nơi nào hết, một món nào hết. Đêm, họ ngủ lại trong nhà ông Lê Tư để sáng sớm hôm sau họ tiếp tục. Xong công tác kiểm kê, người cán bộ chỉ huy chỉ định một nhóm bốn người ở lại để canh giữ những gì đã kiểm kê, sợ ông bà Lê Tư .. ăn cắp mang đi ! Gã còn nói như ra lịnh :
- Từ hôm nay trở đi, anh chị phải dọn ra nhà sau để ở, không được bước lên đây nữa. Anh chị cũng không được quyền sử dụng chiếc ô-tô bây giờ thuộc diện quản lý của Nhà Nước. Khi ra vào nhà, anh chị phải dùng cái cổng hậu, không được đi bằng cổng chánh. Rõ chớ ?
Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư cũng làm thinh. Nhưng hai sự làm thinh đó không cùng một ý nghĩa : ông làm thinh vì biết rằng có nói gì cũng vô ích còn bà làm thinh là vì bà hận ông vô cùng !

.. Từ ngày dọn xuống ở trong một nhà phụ - có ba dãy nhà phụ trước đây dùng cho gia nhân - và từ ngày biết rằng văn phòng, các kho vật liệu, kho dụng cụ cơ giới, biệt thự ở Núi Lớn Vũng Tàu, các chương mục ở ngân hàng .. v.v. đã hoàn toàn nằm trong tay Nhà Nước, bà Lê Tư ít nói chuyện với ông. Nhưng hầu như ngày nào bà cũng ngồi nói một mình, nói trổng, cố tình nói lớn tiếng để cho ông "phải" nghe. Bà cứ lải nhải với giọng trách móc chanh chua, hết chuyện tin lời cách mạng, đến chuyện mất hết của cải, rồi bắt qua chuyện di tản, chuyện ở "chui rút" trong nhà của bếp của bồi .. Còn ông thì cứ làm thinh ngồi nghe, nghe riết mà tóc của ông càng ngày càng bạc trắng !

Thời gian đi qua .. Một hôm bà bỗng nói với ông : - Tôi đã nhờ người quen trong toà đại sứ liên lạc được với thằng Tuấn ở Paris. Nó sẽ lo giấy tờ cho mình qua bển.

Bây giờ, mọi sự đều do bà quyết định, ông chỉ làm thinh đi theo. Bây giờ, người chồng " thần tượng" của thời trước chỉ còn là một cái bóng ! Bây giờ, bà mới là thân cây cau, còn ông , ông chỉ là một thứ giây trầu .. Đúng là một sự "đổi đời vĩ đại" !

Ít lâu sau, chính bà đã chạy chọt đút lót để có xuất cảnh cho hai vợ chồng bay qua Paris, vào giữa mùa hè năm đó. .. Ông Lê, người con trai của ông bà Lê Tư, đến đón ông bà ở phi trường Charles De Gaulle. Gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Ông Lê Tư có cảm tưởng như mình vừa sống lại. Ông ôm con siết mạnh, rồi buông ra để nhìn. Lòng tràn sung sướng, ông vừa cung tay đấm nhẹ lên vai con, vừa chửi đổng :" Cha mày !". Rồi tiếp :" Ba tưởng không còn gặp lại con nữa chớ !" Trong một khoảnh khắc, ông tìm lại được lời nói và cử chỉ của một con người bình thường, con người của thời trước tháng tư 1975 ..

Trên đường về nhà, ông Lê vừa lái xe vừa hỏi về những chuyện đã xảy ra ở Việt Nam trong những ngày sôi động của tháng tư, nhứt là ở đoạn "mấy thằng Mỹ kéo nhau chạy sút quần". Nghe lời nói và giọng điệu của con, ông Lê Tư cảm thấy có "cái gì không ổn", nhưng ông nghĩ :" Có lẽ tại nó ở bên nây lâu quá nên nó nói tiếng Việt không biết chọn lời". Rồi ông kể lại những điều mắt thấy tai nghe. Người con lâu lâu khoái chí, vỗ tay lên tay lái, gục gặc đầu :" Cho tụi nó chết!"

Bỗng người con hỏi : - Còn mấy thằng tướng ngụy ?
Câu hỏi đó như một ánh sáng bật lên trong bóng tối để ông nhìn thấy rõ sự thật: không phải con ông không nói rành tiếng Việt mà là con ông nghiêng về phía bên kia, cái phía đã lật lọng, ăn cháo đá bát, cái phía đã lấy hết tài sản của ông một cách ngang nhiên trắng trợn ! Trời đất chung quanh bỗng như sụp xuống ! Tuy nhiên ông vẫn trả lời:
- Mấy người đó thì ba không biết. - Tụi nó chạy ra đảo Guam hết. Thằng chủ chạy thì thằng tớ phải chạy theo chớ dám ở lại đâu. Tưởng ba biết gì kể lại nghe chơi chớ ở bên nây báo chí tê-lê nói đầy đủ. Trên tê-lê thấy nhiều thằng tướng ngơ ngác như bầy gà nuốt giây thun !
Người con nói xong cười lên khoái trá. Ông Lê Tư nghe giận phừng lên mặt ! Ông đưa tay định xáng cho thằng con một cái, nhưng ông kềm lại kịp. Ông bỏ tay xuống mà nghe ngực mình tức ran. Tự nhiên, ông ứa nước mắt. Từ phút đó, ông làm thinh. Thấy như vậy, tưởng cha bị mệt vì cuộc hành trình quá dài nên ông Lê cũng không hỏi tiếp.
Bà Lê Tư ngồi ở băng sau, không chen vô một lời. Bà cảm thấy rồi đây sẽ không thể nào ở chung với một thằng con như vậy được. Bà đã tưởng đi ra khỏi xứ để khỏi phải thấy hằng ngày những chuyện trái tai gai mắt, nào ngờ qua đây gặp thằng con không biết học ở đâu mà ăn nói giống "tụi nó" y chang ! Nhưng không sao. Rồi bà sẽ mua nhà ở riêng. Bà dư sức. Với số hột xoàn mà bà đã cất giấu sau 1975 và bây giờ đang nằm an toàn trong cái giỏ mây hai đáy bà ôm trong lòng, bà dư sức. Cho dù bà phải cưu mang suốt phần đời còn lại ông chồng mà bà đã không còn coi là thần tượng nữa, từ lâu ..

Về đến nhà - ở Neuilly Sur Seine, khu nhà giàu - ông Lê giới thiệu vợ con rồi đưa cha mẹ lên phòng trên lầu, nói : - Ba má nghỉ một chút rồi xuống ăn trưa. Bữa ăn được dọn lên từng món theo phong cách tây phương. Vợ ông Lê hỏi han lễ độ và kín đáo chăm sóc ông bà Lê Tư. Hai thằng con ông Lê - giống mẹ hơn giống cha nên ít thấy lai Việt - không biết một tiếng Việt. Chúng ăn nhanh nhanh. Xong món thứ nhì, chúng không đợi món kế tiếp, vội vã rút lên phòng. Suốt bữa ăn, câu chuyện chỉ vây quanh mấy món ăn nấu theo tây, bởi vì ông Lê khoe có bà bếp giỏi. Bà bếp, người Pháp, có bước ra chào ông bà Lê Tư ..
Nhờ vậy, không khí trong bữa ăn không đến nỗi nào tẻ lạnh. Sau bữa ăn, vợ ông Lê vì tế nhị, muốn để cho chồng và cha mẹ nói chuyện riêng với nhau, nên xin phép lên lầu. Bà dặn chồng : - Anh không nên nói chuyện nhiều. Ba má chắc cần phải ngủ vì sai giờ giấc. Mình còn nhiều thì giờ mà .. Khi bước qua xa-lông để uống cà phê, ông Lê hỏi :
- Ba má định qua đây ở chơi bao lâu ? Ông Lê Tư châu mày, nhìn bà. Bà trả lời : - Ba má định qua ở luôn chớ đâu phải ở chơi. Người con ngạc nhiên : - Ủa ? Sao lại ở luôn ? Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên đầu trên cổ mình hết. Tất cả đều thuộc về mình, không còn sợ thằng ác ôn nào cướp giựt nữa. Như vậy mà ba má định bỏ xứ qua đây ở luôn. Thiệt là vô lý !
-
Hồi nãy, trên xe về đây, ông Lê Tư còn nghĩ rằng thằng con ông chỉ nghiêng về phía bên kia. Bây giờ thì quá rõ ràng : nó đã đứng hẳn về phía bên đó. Ông nghe lòng quặn thắt : chẳng những cách mạng đã cướp hết tài sản của ông, mà tụi nó còn cướp luôn thằng con duy nhứt của ông, cướp từ hồi nào rồi ..
-
Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư hơi mất bình tĩnh: - Tại con không biết. Tụi nó lấy hết tài sản của ba má rồi còn đuổi xuống ở căn nhà của bồi, rồi lại bắt không được đi cổng chánh phải đi cổng hậu. Bây giờ tụi nó sợ mình không chấp hành chỉ thị nên kéo kẽm gai cô lập căn nhà ba má ở. Con nghĩ coi sống làm sao ? - Buổi đầu lúc nào chẳng có chuyện sai sót. Rồi cách mạng sẽ trả lại hết cho ba má, yên tâm đi ! Điều mà con muốn nói là chưa chi mà ba má đã muốn bỏ xứ ra đi giống như bè lũ đĩ điếm trộm cắp tháo chạy mấy ngày trước giải phóng .. làm con thấy không hãnh diện chút nào hết !
-
Câu nói chưa dứt, ông Lê Tư đã đứng phắt dậy, làm thinh đi thẳng lên lầu. Bà Lê Tư cũng nối gót, nhưng bước chân bà nặng chình chịch. Đứa con máu mủ mà bà mới ôm hun thắm thiết hồi nãy trên phi trường, bây giờ bỗng giống như người xa lạ. Bà cảm thấy hụt hẫng đến độ bà không biết phải làm gì, nói gì. Đến giữa cầu thang, kềm không được, bà ôm mặt khóc tức tưởi ..
-
Suốt buổi chiều, ông Lê Tư ngồi trong phòng làm thinh hút thuốc. Ông không nghe buồn ngủ, ông chỉ nghe mệt - thật mệt và chán chường - thật chán chường. Ông bắt gặp lại tâm trạng của ông vào những ngày cuối cùng của thời ông bị cách mạng quay hằng bữa để ông kê khai tài sản một cách "đầy đủ và trung thực" !
Bà Lê Tư cũng không ngủ. Bà điện thoại để liên lạc mấy bà bạn đã định cư ở Pháp, nhứt là ở vùng phụ cận Paris. Rồi bà hẹn hò .. Sung sướng như thấy chân trời đang mở rộng.
-
Sau bữa ăn tối, đợi bà Lê và hai con lên lầu, bà Lê Tư nói : - Chị bác sĩ A. sáng mai lại rước má về nhà chỉ chơi vài bữa. Sau đó, có lẽ sẽ qua nhà bà dược sĩ L . Ở đây, má có nhiều bạn bè lắm, con đừng lo cho má. Con chỉ cần lo cho ba thôi.

Ông Lê Tư nhìn thẳng mặt con, giọng nghiêm trang : - Ba nói thật : ba với con không hạp nhau. Ba không thể ở chung với con được. Ba xin con cho ba ở một nơi nào khác, ở một mình cũng không sao.
-
Ông nói "xin con cho ba" , đó là sự thật. Bởi vì bây giờ ông hoàn toàn trắng tay. Xưa nay, tiền dư ra, ông cho bà một phần để mua hột xoàn, còn bao nhiêu ông chuyển hết qua chương mục của người con .. Ông Lê ngồi làm thinh, không biết ông đang nghĩ gì. Cũng là làm thinh, nhưng sự làm thinh của ông khó hiểu hơn sự làm thinh của ông bà Lê Tư !
-
Vậy rồi sáng hôm sau, bà bác sĩ A lái xe lại rước bà Lê Tư. Tiếp theo là ông Lê chở người cha ra ở cái nhà nghỉ mát ở gần bờ đá dựng. Suốt cuộc hành trình dài mấy tiếng đồng hồ, hai cha con không nói với nhau một lời !
-
Từ ngày ra đây ở, ông Lê Tư cảm thấy cuộc đời mình như đang đi vào một ngõ bí. Không sống được với cách mạng, đã đành. Còn lại bà vợ thì bây giờ bả coi mình như cục bứu trên lưng. Rồi đến thằng con, đối với mình, nó còn lạ hơn người xa lạ ! Cứ nghĩ quẩn nghĩ quanh như vậy hết ngày này qua ngày khác mà con người ông sa sút thấy rõ. Bây giờ, ông ốm nhom. Đi đứng đã phải chống ba-toon và đêm đêm cứ phải nằm trằn trọc tới khuya lơ mới dỗ được giấc ngủ. Thấy tội nghiệp, ông bà Jean Marie hay thừa dịp đưa nước trà hay cà phê để ngồi lại gợi chuyện vẩn vơ. Họ cũng ngạc nhiên tự hỏi sao không thấy ai gọi điện thoại hỏi thăm ông già này hết. Làm như ông không có mặt trong cuộc đời này ... Cho nên họ tận tình chăm sóc ông từng chút. Đến nỗi, về đêm, bà Jean Marie thường đợi ông lên giường nằm đàng hoàng mới tắt đèn đóng cửa đi về nhà ! Ông Lê Tư rất cảm kích nên lâu lâu ông phá lệ làm thinh để nói hai tiếng "cám ơn", nhẹ như hơi thở ..
Một hôm, ông Lê Tư bỗng thèm nhìn mặt biển, cái biển mà từ hôm ra đây - đã gần hai tháng - ông chỉ nghe tiếng của nó rì rào ngoài kia thôi. Ông bèn chống ba-toon bước từng bước run run đi lần ra hướng đó. Cứ đi vài bước là ông phải dừng lại một lúc để thở, nhưng ông vẫn cố bước đi ..

Bây giờ thì ông đã đứng trên mép bờ đá dựng. Dưới chân ông, rất sâu phía dưới, là biển. Biển xanh dờn, kéo dài ra chân trời. Trời nước mênh mông. Gió muối và mùi thơm thơm của rong rêu nhắc ông nhớ cái biệt thự ở mỏm núi lớn Vũng Tàu. Ông đã xây cất biệt thự đó để làm nơi tiếp tân nên có một sân gạch thật rộng hướng về phía biển. Ông hay đứng ở đó nhìn chân trời như ông đang đứng nhìn chân trời bây giờ. Cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang. Hồi đó, lúc nào ông cũng thấy chân trời đang mở rộng cho ông, cái hồi mà ông làm chuyện gì cũng thành đạt. Bây giờ, cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang nhưng sao ông không thấy nó mở rộng cho ông một chút nào hết ! Ông chỉ thấy toàn là bế tắc. Chân trời là đường chấm dứt một cái gì : trời cao nghiêng xuống đến đó là hết, biển rộng vươn dài đến đó cũng là hết ! Giống như cuộc đời của ông bây giờ của cải: hết ! Vợ con : hết ! Sức khoẻ của ông rồi cũng sẽ hết ! Hết ! Hết !
Bỗng, ông Lê Tư liệng mạnh cây ba-toon xuống biển, giống như ông dứt khoát không cần dùng đến nó nữa. Rồi ông hít một hơi dài, nhắm mắt bước thẳng vào khoảng không trước mặt, giống như bước qua một làn ranh tưởng tượng.
-
Từ bây giờ, ông Lê Tư làm thinh vĩnh viễn ..
-
Chiều hôm đó, ông Jean Marie gọi điện thoại về Paris. Không có người bắt máy, nhưng có máy nhắn tin nên ông nhắn : "A lô ! Tôi là Jean Marie. Tôi xin báo tin buồn: ông cụ đã từ trần. Ông đi dạo gần tường đá dựng chẳng may rơi xuống biển. Nhà chức trách đã vớt được xác đem về nhà xác bịnh viện Etretat. Yêu cầu ông bà ra gấp. Vợ chồng tôi xin chia buồn. Thành thật chia buồn .."

Không biết, khi hay tin, vợ con ông có nhỏ cho ông một giọt nước mắt ?

TIỂU TỬ (BAI CHUYEN sưu tầm)