Thursday, May 6, 2010

TÂM SỰ TUỔI GIÀ

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già... Chẳng dám nói hiểu hết mọi điều nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì sống mới thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày, mất một ngày,

Qua một ngày, vui một ngày,

Vui một ngày, lãi một ngày .

Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sống là mục tiêu cuối cùng của cuộc đời, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc và vui sướng là cảm giác và cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần bạn giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền, biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền đừng làm tôi tớ cho nó.

"Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú". Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với "ông sư khổ hạnh", hãy làm "con chim bay lượn". Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

Tiền bạc rồi sẽ là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình

Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn !

Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhìn một cái, hỏi vài câu là thấy đủ rồi !

Con tiều tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ !

Nhà cha mẹ là nhà con, nhà con không phải nhà cha mẹ !

Khác nhau là thế, người hiểu đời coi viêc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong chờ báo đáp.

Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sảng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta cũng yếu, có khi lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi

Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy.

Cái được, người ta chẳng hay để ý, cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quí trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát triển thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.

Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ người ta cũng nghỉ cả rồi, ai cũng thế cuối cùng trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian chẳng còn lại bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc gì muốn làm, thích làm, thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình.

Sống trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực thế nào cũng xong.

Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già. Tuổi không già mà tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.

Sống phải năng hoạt động, nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ, quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu. Mọi thứ đều nên "vừa phải ".

Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống...)

Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám bệnh)

Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.

Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh... đều là muộn.

Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hưởng lợi là bất cứ việc gì đều xem xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy có lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và tự tin, cuộc sống có hương có vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.

Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niêm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm lý và sinh lý, người già cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn khỏe mạnh.

"Hoàn toàn khỏe mạnh", đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp. Đạo đức khỏe mạnh và có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, ngừơi chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

Con người tồn tại trong xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cách sống lành mạnh.

Cuộc sống tuổi già nên đa tầng, đa nguyên, nhiều màu sắc. Có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có một nhóm bạn già. Tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc...

Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất, quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.

Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ lại chuyện xa xưa) ? Đến những năm cuối đời, ngừời ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân ga cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tìm lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân yêu, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại niềm vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già.

Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thể thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.

Sinh, lão, bệnh, tử, là qui luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng mà không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu chấm hết thật tròn.
Bài trên "Net" -Tác giả : không rõ

Wednesday, May 5, 2010


VINH DANH CỐ ĐẠI TƯỚNG ĐỖ CAO TRÍ
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
1929 - 1971
* * * *
Cái chết đột ngột của Tướng Đỗ Cao Trí vì tai nạn trực thăng ở phía Bắc Tây Ninh trên đường ra mặt trận sáng ngày 23-2-1971 là bước ngoặt của cuộc chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam.
Đại Tướng Đỗ Cao Trí là một tài năng kiệt xuất của Quân Lực VNCH. Thật hiếm có một tướng lãnh nào của chúng ta vừa có mưu lược vừa có dũng khí như Tướng Trí. Ông luôn chủ động đánh trúng địch vào chỗ bất ngờ nhứt và luôn xuất hiện ở điểm nóng nhứt trên chiến trường. Nếu Pháp có De Lattre De Tassigny, Mỹ có Patton, Đức có Rommel, thì VNCH chúng ta có Đỗ Cao Trí.


Tướng Đỗ Cao Trí xuất hiện giữa vùng lửa đạn
Là Đại Sứ VNCH ở Nam Triều Tiên, Ông tình nguyện xin trở về nước sau Tết Mậu Thân để ra trận ngày 5-8-68, Ông thay Trung Tướng Lê Nguyên Khang làm Tư Lệnh Quân Đoàn III kiêm Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Lúc bấy giờ quân địch ở khắp mọi nơi từ thành thị đến nông thôn. Quân chánh quy cộng sản Bắc Việt xuất hiện ngay trong các trung tâm thành phố lớn như Sài-Gòn, Chợ Lớn, Biên Hòa v.v... và Quân Đội Mỹ phải rút quân từng phần theo Kế Hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh của Tổng Thống Richard Nixon vì áp lực chống chiến tranh của nhân dân Mỹ.

Đại Tướng Đỗ Cao Trí với tài thao lược xuất chúng, chỉ trong một thời gian ngắn, vừa bình định xong lãnh thổ đem lại an ninh ở nông thôn, vừa mở các cuộc hành quân tấn công liên tục các Sư Đoàn Cộng Sản Bắc Việt: Công Trường 5, 7, 9, và các Trung Đoàn Địa Phương Việt Cộng ở các tỉnh Biên Hòa, Hậu Nghĩa, Bình Dương, Tây Ninh, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Long và Phước Long, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề buộc chúng phải rút chạy qua trú ẩn trên lãnh thổ Campuchia.

Kể từ tháng 3-1970, Ông đưa chiến tranh ra khỏi lãnh thổ Vùng 3 Chiến Thuật. Ngay sau đó, Ông mở cuộc "Hành Quân Toàn Thắng 42", phối hợp với Lực Lượng II Dã Chiến Hoa Kỳ, lần lượt bứng tận gốc các căn cứ của Quân Cộng Bắc Việt dọc theo bên kia biên giới Việt-Campuchia ở khu Mỏ Vẹt và Lưỡi Câu, đồng thời đẩy Cục "R" và các Sư Đoàn Cộng Sản Bắc Việt lên tận Đông Bắc Campuchia ở Đambe và Chlong.
Tướng Đỗ Cao Trí thuyết trình kế hoạch hành quân vượt biên Toàn Thắng

Chân Trời Tím
Nhạc Trần Thiện Thanh & Ngọc Hạ - Nguyên Khang hợp ca
Thừa thắng xông lên, ngày 18-2-1971, Ông trực thăng vận Chiến Đoàn 5 Biệt Động Quân cùng Ông xuống Chlong, đồng thời điều động LLXKQĐIII và Chiến Đoàn 333 Biệt Động Quân tấn công, chiếm và càn quét Đambe, buộc quân địch phải co về thế thủ.

Nhưng mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất trong cuộc "Hành Quân Toàn Thắng 1/71" này là Kratié, căn cứ chiến lược chủ yếu của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông nói nếu ta chiếm Kratié, chúng ta sẽ cắt đứt con đường tiếp vận huyết mạch chính từ Miền Bắc xuống tận vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ông dự định sử dụng Sư Đoàn Nhảy Dù trực thăng vận xuống Kratié, đồng thời LLXKQĐIII sẽ tấn công từ Chlong lên phía Bắc giao tiếp với Dù ở Kratié. Liên Đoàn 30 Công Binh được lệnh của Ông đã đưa đơn vị cầu vào Đambe chuẩn bị bắc cầu ở Chlong yểm trợ LLXKQĐIII vượt sông.

Ngày 20-2-1971: Ông gặp tôi ở Chlong. Ông lắc đầu, mặt có vẻ buồn rầu lo lắng. Ông cho tôi hay là Sư Đoàn Nhảy Dù đã được Bộ Tổng Tham Mưu điều động ra Đông Hà (tham dự cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào), làm đảo lộn kế hoạch hành quân của Ông. Mặc dù vậy, Ông không bỏ ý định đánh Kratié. Ông ra lệnh cho tôi sẵn sàng. Ông định sẽ sắp xếp và điều động 1 trong 3 Sư Đoàn của Quân Đoàn III để thay thế Sư Đoàn Nhảy Dù trong giai đoạn tấn công tới này.

Chiều ngày 22-2-1971: Vào khoảng 18:00 giờ, Ông còn bay trên bầu trời Đambe-Chlong gọi tôi trên máy truyền tin hẹn gặp ngày mai tại căn cứ hành quân của tôi — Dambe. LLXKQDIII đã được không vận thả dù tái tiếp tế xong xuôi, hàng ngũ sắp xếp chỉnh tề chuẩn bị lên đường. Tôi biết sắp tới là những ngày chiến đấu quyết liệt nhất.

Sáng ngày 23-2-1971: Tôi và Đại Tá Lê Văn Nghĩa, Liên Đoàn Trưởng LĐ 30 Công Binh chờ đón Ông ở Đambe. Sau khi dự buổi thuyết trình sáng ở Bộ Tư Lệnh Hành Quân QĐ III tại Tây Ninh, như thường lệ, Ông lên trực thăng chỉ huy bay sang Campuchia. Trực thăng vừa cất cánh bay lên hướng Bắc được vài phút thì phát nổ. Tất cả đều tử vong. Ngoài đoàn tùy tùng gồm có Trung Tá Châu, Truyền Tin, Trung Tá Sỹ, Trung Tâm Hành Quân Quân Đoàn, Đại Úy Tuấn, Sĩ Quan Tùy Viên, còn có nhà báo Mỹ gốc Pháp nổi tiếng Francois Sully và Đại Úy Thành Pilot.

Tin Đại Tướng Đỗ Cao Trí tử trận làm xúc động dư luận trong nước và thế giới. Báo Times và Newsweek loan tin ca ngợi tài năng và lòng dũng cảm của Ông. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu truy thăng Ông lên Đại Tướng. Đại Tướng Creighton Abrams nghiêng mình trước linh cửu Ông.

Đại Tướng Đỗ Cao Trí sinh ngày 20-11-1929, ở Biên Hòa, tốt nghiệp Trường Võ Bị Coetquidan, Trường Nhảy Dù Pau ở Pháp năm 1949 và tốt nhiệp Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ ở Fort Leavenworth năm 1959. Ông sống được 42 tuổi. Ông là vị Tư Lệnh Nhảy Dù đầu tiên của QLVNCH. Lúc 34 tuổi, Ông là trung tướng trẻ nhất của Quân Lực chúng ta. Ông đã từng là Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Đoàn II kiêm Đại Biểu Chính Phủ ở Miền Trung và Cao Nguyên trong 2 năm 1963-64 khi còn rất trẻ, và nổi tiếng điều quân khiển tướng nghiêm minh tài giỏi. Ông vận dụng nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy một cách tuyệt vời. Những đơn vị nào do Ông chỉ huy cũng đều có kỷ luật, thiện chiến và lập nhiều chiến công to lớn. Quân cộng sản rất sợ Ông. Chúng tìm cách cho tay sai len lỏi trong hàng ngũ Quốc Gia dèm pha hạ bệ Ông, nhưng vô ích, Quân Lực chúng ta vẫn kính trọng Ông. Ông vẫn cùng với ba quân xông pha trận mạc bảo vệ Tổ Quốc.

Trong buổi lễ xuất quân đánh sang Campuchia của LĐ3KB tháng 1-1971, Đại Tướng tuyên bố là Ông sẽ sống và chết với ba quân trên chiến trường. Ông đã giữ đúng lời hứa. Ông đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho Quân Đội và Tổ Quốc.

Đại Tướng Đỗ Cao Trí là tấm gương chiến đấu sống động nhất cho tuổi trẻ Việt Nam. Ngày nay, sách báo thế giới tự do vẫn ca ngợi Ông là một Anh Hùng Dân Tộc của VNCH. Đại Tướng sống, chiến đấu và hy sinh đúng với danh ngôn của người xưa:


Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhân gian kiến bạc đầu.

Dân tộc Việt Nam mất đi một Lãnh Tụ Quân Sự vĩ đại, Quân Lực VNCH mất đi một Tướng Lãnh kiệt xuất. Còn tôi, tôi mất đi vị chỉ huy lỗi lạc chưa từng thấy và người bạn chiến đấu tâm đầu hợp ý nhất.
Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi
Virginia, 1/11/1995

~~~~~~~~~~~~ ~~~
Khi ông Thiệu đắc cử Tổng Thống nhiệm kỳ đầu thì đưa Tướng Trí về Quân Đoàn 3 thay Trung tướng Khang, do sự tiến cử của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Trước đó, Tướng Trí đang giữ chức Đại Sứ ở Đại Hàn.

Khi tướng Trí về nắm chức Tư Lịnh Quân Đoàn 3 thì tình cờ cả 3 vị Tư Lịnh Sư Đoàn của Quân Đoàn 3 đều xuất thân từ Khóa 3 Đà Lạt. Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Thịnh giữ chức Tư Lịnh Sư Đoàn 25, Thiếu Tướng Hiếu, Sư Đoàn 5 và Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ, Sư Đoàn 18. Trong 3 vị Tư Lịnh vừa kể thì Tướng Trí tỏ vẻ trọng dụng Tướng Hiếu nhứt vì Tướng Hiếu đã từng làm tham Mưu Trưởng cho Tướng Trí trước kia ở Quân Đoàn 1 và Quân Đoàn 2 vào năm 1963.

Thời gian Tướng Trí nắm chức Tư Lịnh quân Đoàn 3 là thời gian làm cho các Công Trường 5, 7, 9 của Việt Cộng điêu đứng nhứt. Tướng Trí đã chuyển từ thế thủ sang thế công, đẩy các đơn vị của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam qua bên kia biên giới. Các chiến khu Dương Minh Châu, mật khu Hố Bò bị cày nát, không còn là nơi ẩn an toàn cho Trung Ương Cục Miền Nam nữa.

Tôi có dịp theo Tướng Trí lên họp với Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Đội Cao Miên ở Nam Vang mấy lần để phối hợp hành quân. Lúc đó, Tướng In Tam của Cao Miên làm Thủ Tướng. Nghe nói Tướng In Tam xưa kia từng làm việc dưới quyền của Tướng Trí khi hai người còn ở trong Tiểu Đoàn Dù của Quân Đội Liên Hiệp Pháp. Có nhìn thấy thái độ nể nang của tướng lãnh Cao Miên đối với Tướng Trí mình mới thấy quả thật Tướng Trí là một tướng lãnh có nhiều uy tín. Mọi việc lớn nhỏ gì, Quân Đội Cao Miên đều phải hỏi qua ý kiến của Tướng Trí. Ngoài ra, không riêng gì Quân Đội Cao Miên mà cả đến các cố vấn Mỹ của Quân Đoàn 3 cũng đều tỏ vẻ thán phục khả năng điều binh khiển tướng của Tướng Trí. Tiếc thay, tướng tài thường yểu mạng. Âu cũng là vận nước mình gặp lúc không may!

Đại Tá Nguyễn Khuyến
San Jose, 16-10-98
Tướng Đỗ Cao Trí và Tôi
Nguyễn Trọng Hoàn
1.
Lý do tôi phải mào đầu dài dòng để kể câu chuyện này, như sau:
Sau khi Quân đội VNCH tan rã, cả nước Nam tan rã, chúng ta phải sống tha phương nơi đất khách quê người. Vì nơi dung thân là nước Mỹ, giầu có, nên tấm thân của mình, của gia đình mình, trông lên những người bản xứ thì chẳng bằng ai, nhưng trông xuống những đồng bào của mình đang còn ở quê nhà, thì quả một trời một vực! Tuy vậy, đối với một số người thì là một sự đổi đời, còn với nhưng người khác, niềm hoài vọng ngày trở về cố hương xa lắc cứ dần dần bị xói mòn, riêng những người lính trận chúng tôị Mời bạn đọc tiếp:

Bản thân tôi thì không ra gì, dở chàng dở đục, nhưng bạn bè tôi, nhìn ngang nhìn ngửa đứa nào cũng nổi tiếng. Ngày trước, chúng nổi tiếng trên chiến trường, qua Mỹ chúng nổi tiếng bằng cái nghề tay trái: Làm báo viết văn! Tôi thích mang những sở trường của họ ra khoe với những người lạ, làm cứ như những ưu điểm của họ có thể lấp trống giùm cho tôi những nhược điểm của bản thân.mình.
Đại tướng Đỗ Cao Trí lẽ dĩ nhiên không nằm trong trường hợp trên, vì nếu như bây giờ, ai người ta cũng có thể gọi bằng thằng, càng gọi khỏe càng lộ chất “Ông” trong người mình ra. Thì ngày xưa, cái móng tay của ông ấy tôi cũng không bằng, huống chi nói là bạn với bè?

Có điều, một vị tướng ngày xưa, thì thiếu gì thuộc ha...Tôi có may mắn là thuộc hạ của ông Đại tướng tài ba và nhiều tai tiếng nàỵ.

Sau tết Mậu Thân, Việt cộng ngậm ngùi suy ngẫm học thuyết quân sự cũ rích: Tiến công và nổi dậy! Đó là sở trường mà chúng gọi là tổng công kích. Công là đánh tới, Kích là bẩy lên, hay xúi giục ai nổi lên.

Thành phần chủ lực ở ngoài tấn công vào. Đám nằm vùng xúi dân nổi loạn. Khốn thay cho Việt cộng trong cuộc tấn công này, bộ đội chủ lực thì xâm nhập vào được nhưng chẳng có ma nào xúi được dân nổi lên cả, ngay cả những người dẫn đường cũng lặn luôn. Nên bọn cán ngố cứ như con dế bị ngắt mất cọng râu. Thế là làm mồi cho quân ta mà thôi!.

Nhân đây, tôi cũng xin mở một dấu hỏi to tướng, về âm mưu “Thay ngựa giữa dòng” của người Mỹ. Họ đã biết trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy của Việt cộng, nhưng họ lờ đi “Để xem mày (VNCH) có chống cự nổi không, còn sức chống, tao giúp tiếp, dở quá, bỏ luôn.”

Một bằng chứng là khoảng 26, 27 tháng Chạp là các cố vấn Mỹ ở các tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị biệt lập đã cuốn gói trở về “hậu phương” rồi!

Thế rồi, thiên bất dung gian, kẻ gian đại bạị. Ngay sau đó, trong khi ông Hồ mang cái hận ngàn thu ấy xuống âm ty địa phủ thì đám cán bộ mang tàn quân lết bên Căm Bốt để cùng nhau hát bài: “Dậy mà đi!”

Tôi tham gia cuộc hành quân Toàn-thắng của Sư đoàn 25 BB, mục đích để tiêu diệt nốt đám tàn quân ấy! Chiến đoàn tôi mang tên 333 từ hướng mật khu Ba Thu, đánh xuôi xuống vùng Mõm Chó, Chi Phụ Bravet rồi theo quốc lộ 1 thọc thẳng lên Svayrieng (Xoài Riêng). Trận này, diễn tiến như thế nào, tôi sẽ kể sau.

2.
Mẫu giáo:
Tôi có một thói quen: mỗi khi sắp tham dự vào một cuộc hành quân xa, tôi thường xin về Sài Gòn một thoáng để thăm mẹ. Phần nghĩ đến một thời gian dài sắp tới phải nhá cái khẩu phần C chết tiệt. Phải về với mẹ để được ăn một món gì cho khoái khẩu. Phần vì tôi luôn đeo đẳng cái cảm giác, sự sống của những người lính trận chỉ đếm bằng từng ngày một... “Mình không về gặp bả, ngộ có gì...”. Tôi lại không bao giờ dám nói với mẹ là mình sắp đi xa: "Con hành quân ở vùng ven biên ấy mà, tạt về thăm đẻ một chút thôi rồi con phải đi liền!"

“Một chút” của tôi thường bị kéo dài bởi nồi canh cua rau đay nấu với mướp hương hoặc những miếng thịt heo cháy cạnh mà chỉ tự tay mẹ làm thì mới vừa miệng tôi thôị…

Lần này, chính cậu “Tà loọc” đã làm hại tôi:

- Bà có hộp dầu ông hổ nào không, con xin cho Trung úy
một hộp? Ở Miên nghe nói mùa này là mùa gió chướng, Trung úy lại chỉ hợp với loại dầu này!
Mẹ tôi ngừng têm trầu:
- Lại đi đánh nhau tận bên Miên cơ à?
Tôi thấy mẹ tôi lấy khăn lau nước mắt. Ăn cơm xong, mẹ ra đi văng ngồi nhai trầu, giọng bà như muốn khóc:
- Đánh nhau như vậy đủ rồi, hay để đẻ nói với chú Hạ (thông gia nhà tôi), nói với bác Thuần xin cho con về văn phòng?
Biết sẽ phải nghe điệp khúc ấy, tôi đứng dậy vươn vai, lấy chiếc áo trận, vừa mặc vừa nói như hát vọng cổ:
- Mẹ ơi! Mai kia mốt nọ yên giặc con cũng trở... Dzề!.
Mẹ tôi chì chiết:
- Con người ta, cha mẹ bảo sao nghe vậy, chúng nó ăn trắng mặc trơn, nhơn nhơn ăn học... Còn cái thứ con nhà nàỵ… Ngu như bò!
Mẹ tôi đưa hộp dầu ông hổ cho chú lính, mẹ nói:
- Ở Miên họ hay dùng bùa ngải lắm đấy! Lại hay “thư” nữa đấy! Có người bụng cứ trướng lên, mổ ra một đống toàn răng với tóc không đấy nghe con! Con gái của họ, không phải như gái bên mình, đá gà đá vịt vào rồi không thích thì bỏ đâu đấy! Đừng dại nghe con..

Khác với những lần trước, mẹ tôi đưa tôi ra tận cổng, hành động này của mẹ khiến tôi vừa xúc động vừa lo lắng. Mẹ tôi chỉ vào chiếc balô căng đầy mà chú lính đang để vào băng sau xe jeep:
- Mẹ có cho mang theo cho con một cỗ bài chắn, đóng quân ở đâu, trong lúc rảnh rỗi, thày trò rủ nhau đánh cờ con cho vui, nhớ đừng đi lang thang nghe con.

Hai mẹ con đang bịn rịn thì Hương phóng xe tới. Mặt cô đỏ au. Mẹ tôi giữ ý, chỉ Hương:
- Thôi cô cậu giã từ rồi lên đường cho sớm, mẹ vào..
Hương cầm lấy hai cánh tay tôi, chân dậm dậm xuống đất:
- Em vừa lên hậu cứ kiếm anh, anh sắp đi Miên hả?
Tôi cười:
- Việc binh cốt ở thần tốc và bất ngờ, anh chưa xuất phát mà ngã ba Ông Tạ đã biết, Hàng Xanh đã biết thì còn đánh đấm cái mẹ gì nữa?
Hương đưa ngón tay dí vào môi tôi:
- Sao lại nói tục với em? Hôm nọ hứa cái gì nào. Em có tin mừng mới phải lên báo cho anh chứ bộ!
Tôi sướng run lên, tôi biết ngay cái tin đó là gì rồi, nhưng cũng giả vờ hỏi:
- Tin gì vậy ?
Nàng lại ghé sát vào má tôi, mái tóc có mùi bồ kết làm tôi
ngây ngất:

- Em “ Có” rồi. Hú vía, hú vía! Mà này, anh qua bên Miên, ăn bánh trả tiền nhé! Con gái Miên ghê lắm đấy!
3.
Ngày N.
Lần đầu tiên từ khi tôi ra trường, tôi được “đối đáp” với một vị Tướng, mà lại là vị tướng nổi danh mới oách chứ:
Trung tướng Đỗ Cao Trí ngoái cổ lại hàng ghế phía sau hỏi to:
- Ông nào là Đại đội trưởng Trinh sát đâu ?
Tôi đứng bật dậy như lò xo bung:
- Có mặt.
- Nãy giờ ông có nghe kỹ diễn tiến của ngày N và N+1 không?
- Nghe rõ!
Ông Tướng đứng dậy, đưa tay ra hiệu cho Đại tá Lều Thọ Cường, Chiến đoàn trưởng chiến đoàn 333, đưa que chỉ bảng cho ông. Bây giờ tôi mới nhìn thấy rất rõ ngoại mạo một ông Tướng khét tiếng nàỵ. Vầng trán cao xám ngoét, đôi mắt sáng, đỏ au như mắt cá chầy (Người ta bảo con mắt ổng có cô hồn đấy! Nhất tướng công thành vạn cốt khô mà!). Phần từ đầu tới thắt lưng, tướng pháp không chê vào đâu được, nhưng từ thắt lưng xuống tới đôi giầy “ Máp”, giống như củ khoai lang cắt đôi, dựng ngược, từ từ teo tóp... Tôi bỗng rùng mình, chua chát nghĩ đến chiếc bóng chênh vênh của Kinh Kha bên dòng Dịch Thủy:

Gió hiu hiu sông Dịch lạnh lùng ghệ
Tráng sĩ một đi không trở về!

Tướng Trí xòe nguyên bàn tay mum múp trên tấm bản đồ không ảnh, kéo một đường dài từ Gò Dầu Hạ, dọc theo quốc lộ 1 lên tận Svayrieng:

(Ôi! Những ai từng “đi” nhận lệnh hành quân, còn nhớ chăng cái cảm giác xương sống lành lạnh, mỗi khi thấy ông đơn vị trưởng của mình xòe tay trên một tấm bản đồ 1.25.000 trong đó một ô vuông nhỏ xíu nhưng ngoài thực tế là một cánh đồng bạt ngàn, đi mù con mắt mà vẫn không tới?).

- Ông Chuyên, cho các mục tiêu vừa thuyết trình, giạt ra xa quốc lộ 1 chừng một cây số...
Bỗng ông ngừng lại:
- Ông Cường, thằng Tiểu đoàn 1 của ông đến đâu rồi?
Đại tá Cường, rập hai chân lại trong một cử chỉ vừa nghiêm trang, vừa như lấp ló có tin vui:
- Thưa Trung tướng, thằng 1 của tôi vừa làm chủ Chi-Phụ.
- Tốt, như thế này nhá: Ông Cường cho Bộ chỉ huy Chiến đoàn của ông, dời từ đây lên Chi-Phụ. Tôi nhắc các ông từ bây giờ bọn cố vấn Mỹ không theo mình vào Miên nữa đâu đấy!
Ông nhìn mấy cố vấn Mỹ, rồi bảo người thông dịch viên:
- Dịch nguyên văn cho “chúng nó” nghe câu này: “Phải tập đánh độc lập đi, dựa mãi vào mãi thằng Mỹ mai kia mốt nọ, chúng qua cổng rút cầu thì sao?”
Ông lại xòe bàn tay ra, dùng ngón trỏ và ngón giữa căng theo quốc lộ 1, rồi ông dùng que chỉ bảng chỉ ngay vào mặt Thiếu tướng Nguyễn Xuân Thịnh, Tư lệnh sư đoàn 25, gốc pháo binh:
- Ông Thịnh, từ đây lên Xoài Riêng còn trong tầm bắn tác xạ của Tiểu đoàn 252 Pháo binh không?
Tôi thích thú nhìn tướng Thịnh, ông Tướng có mấy sợi lông tài trên nốt ruồi đen, trên khuôn mặt to đen lạnh lùng như ông thần đất, mà mọi khi chúng tôi rất hãi, cũng
phải đứng bật lên:
- Thưa, tới!
Bất ngờ tướng Trí chỉ ngay vào tôi:
- Trung úy Hoàn, mở sổ tay ra.

Tôi rụng rời… Trong cái nóng hầm hập của phòng hành quân tạm, mọi người đổ dồn về phía tôi, một sĩ quan có cấp bậc nhỏ nhất, lại được tướng Trí nhớ tên. Tôi đỏ mặt, tính háo danh, và sự sung sướng lấn át hết cảm giác sợ hãi. Tự tin hơn là tôi đã chuẩn bị một quyển sổ tay, mà những sĩ quan nào, hơn một lần bị “ông Tướng sổ tay” hạch hỏi vì: “Là cấp chỉ huy mà không có quyển các-nê đờ-nốt là một sĩ quan tồi....”. Tôi cầm quyển sổ tay. A! Có một điểm đầu tiên rồi đấy!
Tôi thấy Tướng Trí cười:
- Quân số hành quân của ông bao nhiêu ?
- Trình Trung tướng: 102. Sĩ quan 9. Hạ Sĩ quan 15, binh sĩ...
Tướng Trí hét lên:
- Sao nhiều thế, sao sĩ quan nhiều thế, hạ sĩ quan ít thế? Bịa hả?
Đại tá Cường đỡ cho tôi:
- Thi hành khẩu lệnh của Trung tướng trước đây, quân số các đơn vị Trinh sát phải luôn luôn bổ sung đầy đủ. Sĩ quan nhiều vì trong Trung đội viễn thám, mỗi Toán viễn thám phải có một sĩ quan trưởng toán. .
Tướng Trí ngắt lời:
- Tôi biết rồi.
Rồi ông lại dùng que thuyết trình chỉ xuống phía dưới, giọng ông chắc nịch:
- Tất cả mở sổ tay ra.
Như cái máy, Tướng, Tá phía dưới đồng loạt để tay lên túi áo trận.
Tướng Trí đọc chính tả:
- Viết đi: Sức mạnh của một đơn vị bộ binh chiến đấu (phẩy) không phải ở lớp Sĩ quan chuyên chỉ tay năm ngón (phẩy) mà nằm trong lớp Hạ sĩ quan cốt cán (chấm) Tóm lại, bộ binh là hoàng hậu của chiến trường (phẩy) mà chiến trường thắng hay bại tùy thuộc vào cấp bậc từ Hạ sĩ nhất đến Thượng sĩ nhất, viết rõ chưa? ( Chấm hết).
Rồi ông lại chỉ vào mặt tôi:
- Trung Úy lên đây.
Con người nhỏ con kia sao toát ra cái uy quyền lạ kỳ. Tôi đã vào sinh ra tử nhiều lần nhưng chưa bao giờ tôi lúng túng đến như thế. Tôi ríu tíu đỡ cây que chỉ bảng:
- Trung úy chỉ cho tôi xem đâu là Quốc lộ 1. Tốt. Đâu là cây cầu chính vào thành phố. Tốt... Trung úy có thể chiếm thành phố này chỉ với một mình đại đội của Trung úy được không?
Cả sống lưng của tôi như bị điện giật... Một đại đội Trinh sát với một nhúm người như thế này, làm sao đây?
Tính háo danh của tôi lại bật dậy:
- Được, thưa Trung Tướng.

- Tốt, thế mới là trinh sát chứ! Như thế này nhá. Ông Cường cho...
... Máu háo thắng cùng niềm kiêu hãnh cứ dâng lên từng đợt trong con người phàm của tôi cho đến khi tôi tập họp đại đội dưới một thửa ruộng khô vừa xong mùa gặt. Tôi huênh hoang khoe:
- Đích thân Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn vừa chỉ thị, một mình Đại đội ta sẽ chiếm Tòa thị sảnh Svâyriêng!
Từ sĩ quan cho tới lính mặt mày nhớn nhác. Có nhiều người nhẩy lên vì thích thú. Có người giơ cao khẩu M16 hét lên:
- Chơi luôn!
Có vài nét mặt đăm chiêu của sĩ quan, tôi lờ đi, nói lớn, ngất ngất hào khí:
- Mọi người có nửa tiếng để sắp xếp lại quân trang quân dụng, bỏ lại hết thực phẩm, quân trang nặng nề. Tóm lại chỉ mang súng đạn cá nhân. Hai Trung đội trưởng trinh sát và Trung đội trưởng viễn thám ra đây nhận lệnh.

Lệnh có gì đâu, nhưng nghe xong, mặt ai cũng như chàm đổ... Sau đấy khoảng hơn một tiếng. Hơn 10 chiếc xe vận tải dân sự từ Gò Dầu Hạ trở về Miên, bị chúng tôi trưng dụng. Trung đội trưởng kè súng vào hông người tài xế Miên, còn lính nằm ở phía sau. Đạn lên nòng, xe cứ thế mà chạy trên quốc lộ phía bên Miên. Ngày ấy, cứ vài cây số lại có một cái bàn đặt ngay quốc lộ để đơn vị Miên nào đóng gần quốc lộ thâu tiền mãi lộ!

Đoàn xe của Đại đội cứ thế mà chạy, qua trạm, chạy luôn, khiến những người lính Miên trên các trạm ấy xả súng vào đoàn xe, cũng may không có ai bị thương.
Tôi ngồi ngay xe thứ 2, xe trước tôi là Toán viễn thám 1 của Chuẩn úy Cừu. Bỗng tôi thấy đoàn xe chạy chậm lại, cái dốc cầu vào thị xã cong cong làm tôi không quan sát được chiếc xe phía trước.
Có tiếng thằng Một:
- Hải Điểu, đây Một.
Tôi chụp máy:
- Tôi nghe đây!

Tiếng của Cừu gấp gáp:
- Trình Thẩm quyền trên đường tụi Miên giăng concertina nhiều quá, có cả mấy con ngựa gỗ nữa . .
Một tràng súng xé không gian, tiếp theo là những tràng súng khác thi nhau vãi vào đoàn xe.
Tôi hét to trong máy:
- Cho xuống xe ngay, xung phong! Cả đại đội sẽ yểm trợ cho ông, chiếm ngay cái bốt canh kia kìa!
Một chiếc trực thăng xà ngay xuống, tôi thấy rõ Tướng Trí đội nón đỏ đang quần quần ngay trên cái đồn tôi vừa ra lệnh cho Cừu chiếm. Chiếc trực thăng đảo một vòng rồi bay lơ lửng ngay trên đồn Miên. Tôi vừa hô xung phong vừa kinh ngạc nhìn lên thấy Tướng Trí đã ngồi vào vị trí của người xạ thủ đại liên. Ông xoay họng súng vào phía lô cốt, một tay khoát khoát như cổ động cho đám quân dưới đất. Có tiếng hét của Cừu:
- Tụi nó bắn lên máy bay của ông Tướng kìa.
Một khẩu đại liên phòng không từ một cái đồn nhỏ bên
phải cầu đang khạc hung hãn lên hông bên kia của chiếc máy bay. Chiếc trực thăng chao nghiêng.
Tôi kéo trung sĩ Thuận trong toán Viễn thám, chỉ tay về hướng ổ đại bác phòng không:
- Cậu dẫn toán men theo bên này cầu, diệt phứt cái lô cốt kia đi cho tôi.
Thuận nhận lệnh, anh dẫn toán chạy lên, vừa dùng súng M79 hướng mũi trực xạ, một tiếng nổ làm bật tung khẩu súng phòng không, đồng thời biến mất những tên lính Miên, xạ thủ của khẩu phòng không ấỵ .

Chiếc trực thăng chở Tướng Trí lại vòng tới, lần này ông lại bay thấp hơn, ông biến thành xạ thủ của chiếc “gunship”, chĩa những lằn đạn về phía đồn chính.

Bỗng mọi người dưới đất xanh mặt khi chiếc máy bay rung lên, như con rồng chuyển mình, bốc lên cao. Một cái nón đỏ, đúng là nón của ông Tướng bay vụt ra, xoay vòng vòng như chiếc lá rồi bay vút về phía cây cầu. . .

Những người lính trinh sát vừa hò hét vừa tiến lên, đen kịt thành cầu, những tiếng la phát ra từ những trái tim nóng hổi:
- VN, VN!
Tôi kéo chú hiệu thính viên lao tới, hai mắt tôi rưng rưng… Thuận hớn hở chạy về phía tôi giơ cao chiếc mũ đỏ có ba ngôi sao gắn chéo. Người ta bảo nóng giận thì mất khôn, nhưng vui mừng quá cũng mất khôn luôn, với lại tính háo danh nằm sẵn trong tôi, nó sai bàn tay tôi, ném cái mũ sắt đang đội, lấy cái nón đỏ đội vào đầu. Lại nghĩ: “Có ngày “mày” cũng được “nằm” vào đầu tao thôi!”.

Tôi vừa đắc chí vừa chạy tới, chạy một quãng thì hiệu thính viên đưa cho tôi chiếc combiné:
- Mặt Trời gặp Trung úy.
Tôi nghe tiếng Tướng Trí.
- Đừng bắn, đừng bắn nữa, chúng nó từ chân cầu đang phất cờ trắng kia kìa.

Một hàng dài lính Miên, có cả đàn bà, con nít đang cầm những mảnh khăn trắng giơ cao trên đầu. Tôi vừa ra lệnh ngừng bắn thì hiệu thính viên lại đưa ống nghe cho tôi. Tiếng tướng Trí:
- Tốt lắm, để một toán nhỏ lại giữ đầu cầu thôi, còn cậu tiếp tục đi.

Như những con gà chọi đang say đấu, chúng tôi lao cả đoàn xe về phía trung tâm thành phố. Dưới đường người ta vẫn thong thả đi lại, những người lính Miên vẫn đeo súng lơ ngơ ngắm phố. Chắc không có một ai hiểu việc gì đang sắp xẩy ra với ho.. Tiếng Cừu báo qua máy:
- Trình Thẩm quyền mục tiêu kia rồi.
“Băng ga lo” hoành tráng, nơi tôi phải chiếm, đang ẩn mình dưới những tàn cây cổ thụ, mục tiêu diễm lệ của tôi kia rồi!
Xe của Cừu húc đổ ngay con ngưạ gỗ, tiếp theo xe của tôi và các xe sau trờ tới. . .
Cừu đưa khẩu colt vào ngay ngực tên lính gác, qua một người lính gốc Miên thông dịch.
- Văn phòng Tỉnh trưởng đâu ?
Tên lính đưa tay chỉ về phía cổng lớn nơi có hai con ngựa đá rất to. Cả đại đội lại lao về phía đó. Chẳng có đội hình gì cả. Khi Ban chỉ huy của tôi chạy vào trong đại sảnh thì một cảnh tượng vừa tức cười, vừa thống khoái hiện ra trước mặt: Trung úy đại đội phó Trần Như Xuyên đang ghìm khẩu súng M16 về hướng những người mặc toàn lễ phục đang chắp tay lậy như tế sao!
Té ra tại đây đang diễn ra buổi đại tiệc!
Tiếng người thông dịch:
- Trong các ông, ai là Tỉnh trưởng?
Một người chắp tay xá xá. Bỗng có tiếng lao xao phía sau tôi. Có người lính hét to:
- Sao sẹt! Sao sẹt kìa!
- Vào hàng, Phắc!

Tướng Trí xông thẳng đến tôi, ông đến trước tôi khoảng ba bước, ông rập hai chân vào nhau rồi đứng nghiêm chào tôi. Tất cả quan quân mặt ai cũng xanh như tầu lá! Chết mẹ tôi rồi! Cái nón đỏ có hàng lon Trung tướng tôi đang đội trên đầu, chỉ đem cho tôi cái thích thú phù du, nhưng sẽ là một thảm họa khôn lường cho tôi.

Tôi vừa sợ hãi vừa xấu hổ, đưa tay lên đầu, giật ngay cái mũ xuống rồi bằng hai tay, trịnh trọng đưa trả nón, y như kẻ bại trận dâng cây kiếm quy hàng.

Tướng Trí, chìa cả hai tay lấy chiềc nón đỏ... Mọi người chờ cơn thịnh nộ của ông Tướng Sấm Sét...
Ông cúi xuống gỡ ba ngôi sao ra cười hiền từ:
- Giữ giùm cậu ba ngôi sao này, còn tặng cậu cái mũ làm kỷ niệm, làm kỷ niệm thôi nhé! Coi chừng quân cảnh bắt về tội tiếm phục quân hiệu đấy.
Mặt tôi nóng ran lên như người lên cơn sốt.

Tướng Trí đến ngay trước viên Tỉnh trưởng Miên, tính võ biền cố hữu của ông biến mất và y như một chánh khách chuyên nghiệp, ông giơ tay, bắt tay viên Tỉnh trưởng. Ông nói một tràng tiếng Pháp, tôi nghe lõm bõm, hình như ông ra lệnh cho viên Tỉnh trưởng phải kêu gọi các lực lượng dưới quyền quy hàng, bằng cách ra lệnh cho các đơn vị ấy, tháo hết các cơ bẩm của các loại súng rồi cho chở lên các bộ chỉ huy liên hê... Rồi y như ông chủ, chính tay ông khui whisky:

- Vào đây, Đại đội trinh sát vào đây, các chú khá lắm, “moi” phải khao các “toi” một chầu mới được. Tôi bước ra trước, nhưng ông làm tôi quê hết sức khi ông hỏi lớn:
- Chú lính nào ít thâm niên nhất, cấp bậc nhỏ nhất vào đây.
Rồi cũng y như khi lúc xung phong, chẳng kể quan lính, mạnh ai nấy ùa tới vây quanh ông y như một người thân. Chính tay ông rót cho mỗi người một ly ruợu nhỏ.
Bỗng tướng Trí lấy tay đập vào trán:
- Chú nào bắn trái M79 trúng ổ đại liên cứu “moi” thế?
Tôi chỉ vào viên Trung sĩ viễn thám:
- Trình Trung tướng, Toán phó viễn thám, Trung sĩ Thuận!
- Thấy “moi” nói có đúng không? Nhớ đấy! Hạ sĩ quan mới là lực lượng nòng cốt của quân đội!
Ông rút trong túi ra quyển sổ tay, nhìn chăm chăm vào bảng tên của Thuận, ghi xong ông hất hàm hỏi:
- Trung sĩ nhất bao lâu rồi?
Thuận hớn hở trả lời:
- Thưa Trung tướng, gần hai năm.
Tướng Trí nghiêm nghị:
- Cho cậu lên Thượng sĩ.
Rồi ông quay lại phía tôi, nhắc lại điệp khúc:
- Phải nằm lòng, Hạ sĩ quan mới là nòng cốt...
Lần này không thấy ông bắt ai ghi vào sổ tay cả.
4.
Cô gái Miên.
Sau khi chiếm xong dinh Tỉnh trưởng, Đại đội Trinh sát của tôi, được lệnh kéo trở ngược lại Bravét, một thị trấn nằm giữa Chi-Phu và Svrâyriêng, vừa đóng chốt, vừa giữ an ninh cho một toán công binh chiến đấu làm cầu. Đây là một cây cầu nhỏ nhưng rất quan trọng về mặt chiến lược đã bị quân lính của Si-Ha-Núc phá sập khi họ rút lui về Nam Vang. . .

Buổi chiều, tôi dẫn các Trung đội trưởng đi tìm chỗ đóng quân. Đến cây cầu đang xây, tôi nói với Đại đội phó Xuyên:
- Cái thằng Trưởng toán công binh này, giờ này không đến nhận lệnh đóng quân là làm sao? Chúng nó làm gì mà túm quanh căn nhà sàn kia thế? Thôi ta vào đấy xem sao ?
Vừa thấy chúng tôi đến. Toán người đứng xung quanh nhà sàn bỗng bỏ chạy. Biết có việc gì không ổn, toán sĩ quan đi theo tôi chạy đến. Tôi vừa bước lên chân cầu thang đã nghe thấy tiếng quát của Xuyên:
- Sĩ quan mà khốn nạn vậy à ?
Trước mặt tôi là một người con gái Miên thân thể lõa lồ, nằm tênh hênh, bất động giữa sàn nhà, một toán 5, 6 người lính đang lui cui mặc đồ. Tôi hoa mắt lên vì giận, khẩu súng colt 45 run run chĩa vào một người, có lẽ là sĩ quan đang nghênh ngang đứng trước Xuyên:
- Ông cấp bậc gì?
- Chuẩn úy!
- Mấy người hiếp dâm người phụ nữ này?
- Bẩy người.
- Tại sao ông làm cái việc vô lại này?
- Xa vợ lâu ngày, kẹt quá ông ơi!
Bỗng tôi nghe thấy người phụ nữ rên:
- “ Miên tê! Miên tê” ( Trời ơi, trời ơi).

Cô cong người lên, thở hắt ra, hai bàn chân rung rung, rồi xụi lơ. Hành động cuối cùng của một sinh vật trước khi lìa đời. Cơn giận như một nồi áp suất quá tải, bật tung, tôi nã luôn hai phát vào đôi chân đang giạng ra như thách thức của viên sĩ quan, mà ngay chiều hôm ấy, tôi biết anh ta là em của một ông Chuẩn tướng Chỉ huy trưởng của một Cục... ( Ng Van Chức, cục công binh ?? )

5.
Phúc hữu trùng lai!
Sáu tháng sau, tôi dời Đại đội trinh sát để sang Tiểu đoàn 2, người ta bảo, đi kèm với một sự may mắn thường là một tai nạn. . . .
Hai viên đạn súng colt hôm ấy, có một viên trúng bắp vế của viên sĩ quan nọ, và viên đạn này đã đưa tôi đến cái ngưỡng cửa của Quân lao Gò Vấp. Tôi sẽ phải về trình diện phòng dự thẩm 1 ở bến Bạch Đằng, nơi có một ông Đại tá tên X. chẳng tha một ai khi phải trình diện ông ta...

Đại tá Lều Thọ Cường bắt tay tôi như bắt tay một thuộc cấp lần chót. Tôi leo lên trực thăng, rồi nhìn xuống bến phà Neak-Luông. Nơi đóng quân của đơn vị tôi, nước sông cuồn cuộn đục ngầu, phẫn nô.. . . Bỗng lòng tôi chùng hẳn xuống. Tại sao cuộc đời lại có thể bất công thế nhỉ??... Tôi vừa xuống máy bay tại sân bay Trảng Lớn, thì gặp máy bay của Trung tướng Đỗ Cao Trí cùng sĩ quan tham mưu của ông cũng vừa đáp xuống. Tôi đang tính né qua cái hunger để tránh mặt ông thì có một Đại tá cầm tấm bản đồ vẫy tôi:
- Đại úy, đến trình diện Trung tướng.
Tướng Trí hỏi tôi:
- Cậu đi phép hả ?
Tôi chưa kịp trả lời thì ông đã móc quyển sổ tay ra.
Nhưng tôi vội nói:
- Trình Trung tướng, tôi không về phép.
Tướng Trí tròn mắt:
- Dù hả, oai nhỉ, dù bằng máy bay cơ à?
Giọng tôi bi ai:
- Trình Trung tướng lần này tôi về Sài Gòn để ra Tòa án binh!
- A! Cái vụ cậu nện cái thằng sĩ quan hiếp dâm chứ gì. Sao không bắn què cả hai chân nó luôn cho rồi? Quân đoàn đã có văn thư gửi Nha quân pháp về vụ này rồi! Khỏi, khỏi, cho cậu về thăm cha mẹ, thăm bồ bịch 48 tiếng rồi trở lại mặt trận giết giặc cho tốt.
Không để tôi cám ơn, ông bỏ đi ngay.

Tôi đứng như trời trồng, giữa trùng vây của bụi, khói và nóng, thế mà người tôi mát lạnh, nhẹ tênh, tôi có cảm giác như đang đi vào cổng nhà Hương.
Có giàn hoa thiên lý ngan ngát.
Có nếp nhăn áo lụa vàng dậy muộn.
Có hương bồ kết thoang thoảng quyện theo bước chân chim...

6.
Người đi, đi mãi…
Một tháng sau, Tiểu đoàn tôi đang hành quân tại Kăm Pông Trapeck, vùng biên giới phía Đông Nam căn cứ Thiện Ngôn, trên một ngọn đồi trọc, một người lính hiệu thính viên chỉ về phía Trảng Lớn la to:
- Một em gẫy cánh rồi!
Tôi ngoảnh lại, một khối đỏ như một quả cầu, đang ôm một chiếc trực thăng xoay vòng vòng rồi đâm nhào xuống đất. Ngay tối hôm ấy, tôi được biết chiếc máy bay ấy đã chở cố Đại tướng Đỗ Cao Trí về miền đất không bao giờ có tiếng súng trận nữa.
Tôi bước ra ngoài lều vải, chòm sao Hiệp sĩ đêm nay có cái đầu bị mây đen che khuất, có thanh gươm mờ nhạt, nhấp nháy như muốn khóc.
NGUYỄN TRỌNG HOÀN

Phat-Quang Nguyen ing.
TRO VE DAU TRang
Phi vụ lịch sử 35 năm trước của chiếc Bird Dog (L-19)
Tuesday, May 04, 2010

WESTMINSTER (VN) - Trong bài “USS Midway kỷ niệm 35 năm Operation Frequent Wind” trên báo Người Việt, ngày Thứ Hai 3 tháng 5, bức hình tài liệu về chiếc máy bay do phi công Lý Bửng đáp xuống sân mẫu hạm, do sơ xuất, tòa soạn đã ghi sai chú thích là “trực thăng”.

Thật ra đó là một máy bay cánh thẳng không có trang bị đặc biệt để đáp trên phi đạo chiều dài không quá 600 feet của mẫu hạm, và việc đáp thành công được coi là một thành tích lịch sử trong Hải quân Hoa Kỳ.
Phi công Lý Bửng trả lời phỏng vấn báo chí ngoại quốc ngay sau khi đáp chiếc 'Bird Dog' xuống hàng không mẫu hạm USS Midway. (Hình: USS Midway Museum)

Chiếc máy bay do Thiếu tá Không quân Việt Nam Cộng Hòa Lý Bửng lái là máy bay quan sát một động cơ cánh quạt do hãng Cessna chế tạo, được quen gọi với danh số lúc đầu là L-19, và từ 1962 đổi thành O-1, có biệt danh là Bird Dog. (L= Liaison, liên lạc – O=Observation, quan sát).

L-19 được dùng với nhiệm vụ chính là thám sát chiến trường từ trên không để loan báo tình hình cho bộ binh, hoặc hướng dẫn pháo binh tác xạ hay máy bay oanh kích. Không quân và Lục quân Hoa Kỳ sử dụng L-19/O-1 suốt ¼ thế kỷ, đến 1974 thì được thay thế hoàn toàn bằng loại O-2 có hai đuôi và một động cơ cánh quạt ở phía sau thân chính.

L-19/O-1 là loại máy bay nhỏ, chiều dài 7.85 mét, sải cánh 10.97 mét; một động cơ cánh quạt 213 mã lực, hai ghế ngồi cho phi công ở phía trước và quan sát viên phía sau. Trọng lượng máy bay không là 732 kg và trọng lượng tối đa để có thể cất cánh 1,089 kg, có nghĩa là sức chở không quá 300 kg. Trong chuyến di tản, phi công Lý Bửng đã chở theo bà vợ và 5 đứa con, với tầm vóc nhỏ bé của người Việt Nam, tổng cộng trọng lượng của 7 người có thể chưa quá 300 kg nhưng dồn ép trong phòng lái chật hẹp chỉ đủ cho hai phi công là chuyện lạ thường.

Chiều 29 tháng 4 năm 1975, máy bay cất cánh từ Côn Sơn với nhiên liệu chỉ có thể bay trong 1 giờ. Nhìn thấy USS Midway nhưng không có tần số liên lạc vô tuyến, phi công Lý Bửng lái máy bay xuống thấp đi ngang mẫu hạm và mở cửa sổ bên, ném xuống một miếng giấy ghi vắn tắt tình trạng của 7 nhân mạng và xin dẹp khoảng trống để có thể đáp xuống. Phó Đề đốc Hạm trưởng Larry Chambers chấp thuận, nhưng lúc đó trên sàn tàu đậu đầy những trực thăng từ trong đất liền đã đến trước đó và ông quyết định cho đẩy xuống biển một số trực thăng UH-1 trị giá 10 triệu dollars mỗi chiềc.

Chiếc 'Bird Dog' sau khi đáp xuống USS Midway. (Hình: USS Midway Museum)


Các máy bay của Hải quân để có thể đáp trên mẫu hạm đều cần có một dụng cụ đặc biệt ở đuôi, khi đáp xuống bật ra để móc vào những giây cáp giăng ngang sân tàu và sợi giây cáp hoàn lực sẽ giữ máy bay lại. Chiếc O-1 Birdog không có trang bị ấy nhưng Lý Bửng đã khéo léo điều khiển cho máy bay hạ cánh với vận tốc tối thiểu và khi đã đặt bánh xuống sân tàu tự hãm lại được sau một đoạn ngắn, giữa sự hoan hô nồng nhiệt của các thủy thủ và mọi người chứng kiến.

Chiếc máy bay Cessna O-1 Birdog hiện nay được lưu giữ ở viện Bảo tàng Hàng không Hải quân tại căn cứ không hải quân Pensacola, Florida. Ngày 30 tháng 4 năm 2010, mẫu hạm USS Midway – nay là bảo tàng viện nổi neo tại cảng San Diego, đã làm lễ kỷ niệm 35 năm cuộc di tản khỏi Sài Gòn và khai mạc khu triển lãm vĩnh viễn về chiến dịch Frequent Wind mà chiến hạm này đã tham gia. Một mô hình của chiếc Bird Dog với kích thước lớn như thật được treo ở phòng lớn giữa khu triển lãm. (HC)

Tro ve dau trang