Monday, August 3, 2009

Ván cờ sinh tử

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Lời vào truyện.
Có bao giờ chúng ta nghe từ miệng một vị thiền sư dạy Đạo cho môn sinh như thế này chưa:

“- Này chư tử! Thuở còn trai trẻ, làm kiếm khách áo trắng, ta ít khi rút kiếm ra khỏi bao, rút ra là phải chém. Hàng tục sĩ gọi ta là Kiếm vương.

Này chư tử! Thuở còn trai trẻ, làm giang hồ kỳ thủ, ta ít khi chơi cờ. Khi đã chơi, một quân cờ đặt xuống - trọng lượng một quả núi - sẽ kết thành định mệnh. Định mệnh không lập lại hai lần. Dòng sông đã chảy, vậy thì những quân cờ kế tục đi đến chung quyết. Không do dự. Không ngập ngừng. Người đời gọi ta là Kỳ vương.
Này chư tử! Kiếm vương ta cũng bỏ. Kỳ thủ ta cũng lìa, khoác tay nải, dép cỏ, nón mê lang thang học Đạo. Ba mươi năm chí thú tinh cần mới thấy được cửa vào. Mười năm lên núi sâu thiền tu, tịch mặc. Sở chướng đã trừ. Mê lầm đã tuyệt. Núi cũng là núi. Sông cũng là sông thôi. Kiếm vương kia thành Kiếm đạo. Kỳ vương kia thành Kỳ đạo. Tại sao như thế?

Này chư tử! Nay ta có mấy lời tâm huyết, như dao chém đá, như kiếm xuyên mây. Hãy nghe mà lập tâm lập hạnh. Đốt cháy kiến hoặc, dội tắt nghi tình, vào chốn ngũ trần mà thong dong tự tại.

Hãy nghe đây! Phàm người tu Phật, một niệm phóng đi, tác thành nghiệp báo. Vậy hãy như tay Kiếm vương kia, chớ có khinh suất mà ra chiêu, đừng cho ý tưởng tự do khởi động. Khi ngưng tụ sinh lực. Lúc buông xả nghỉ ngơi. Hãy xuất niệm như xuất kiếm.. Đã xuất là phải đạt.

Này chư tử! Phàm người tu Phật, phải tinh luyện tư duy, khổ hạnh tư duy. Một tư duy đặt trên đối tượng. Một tư duy dẫn dắt hành động. Phải như tên Kỳ thủ kia, một quân cờ đặt xuống, trọng lượng một quả núi. Dòng sông không chảy hai lần. Đừng do dự. Đừng ngập ngừng. Quân cờ đặt xuống là tác thành định mệnh, tác thành nhân quả, nghiệp báo.

Này chư tử! Hãy xuất cờ! Hãy xuất niệm! Hãy xuất kiếm! Bước tới! Không ngoảnh đầu! Không có sinh tử giữa dòng chảy trôi liên lỉ! Không có sau trước giữa vòng tròn vô thỉ, vô chung!”

Bài giảng kia đã từ một tu viện thâm u trên núi cao, đâm xuyên qua mấy đỉnh mây mù, băng tuyết, rơi xuống, cắm vào giữa lòng các đô thị. Người ta tỉnh giấc, bàng hoàng. Ngàn năm Phật giáo kinh điển, từ chương, thụ động, tiêu cực, đắm say bùa chú, hương khói vật vờ; chơût đứng dậy, vươn cao, nắm định mệnh mình bước đi như thớt voi lâm trận, hùng dũng ho to, cánh sát cánh, vai sát vai...; ánh lửa trí tuệ bùng lên, thổi sinh khí, đem cái đẹp, sức mạnh và tự do tối thượng cho con người.
Phật giáo từ thời Khâm Minh Thiên Hoàng, đến đây, hậu bán thế kỷ XV, sống lại, mang cơ thể mới, tinh thần mới, dẫn Nhật Bản đi vào thời đại phú cường. Công lao ấy có ai ngờ rằng, có sự đóng góp từ trí tuệ của một người: thiền sư Dai-so-kim! Ngài tịch năm 1491, nơi một am thất nhỏ ở Keti phía nam Tây hải đạo.
Truyện ngắn sau đây thuật lại một trường hợp dạy Đạo của người.

Thanh niên Ka-jo-ju sau khi thất vọng về đường công danh, tình yêu, sự nghiệp bèn tìm đến một tu viện trên non cao và thưa với Tu viện trưởng:

- Thưa ngài! Con đã thấy rõ bộ mặt thật của cuộc đời nên mong muốn giải thoát khỏi những đau khổ. Thế nhưng, con không có khả năng hành trì một thứ gì lâu dài. Không bao giờ con có thể sống nhiều năm trong thiền định, học tập, giới luật hay cái gì nghiêm túc tương tự như vậy. Con sẽ thối chí và rơi trở vào cuộc đời, dẫu biết rằng mình không còn chịu đựng được.. Quyên sinh là biện pháp hay nhất, có lẽ... Thưa ngài! Vậy thì còn có con đường nào ngắn nhất, dễ dàng nhất dành cho những kẻ như con hay không?

- Có chứ! Tu viện trưởng một thoáng lạ lùng nhìn người thanh niên rồi trả lời - nếu con trung thực! Nhưng hãy cho ta biết là con đã học những thứ gì? Sở tri ra sao? Có thể có những khả năng như thế nào? Thảng hoặc, con thường hay tập trung tâm ý nhiều nhất vào chuyện gì?

Ka-jo-ju có vẻ nghĩ ngợi, sau đó, y thở dài thườn thượt:

- Ôi! Thực sự thì không có thứ gì! Con chưa nghĩ là mình phải nên như thế này hoặc nên như thế nọ! Vả chăng, mục đích của sự học cũng chỉ đưa đến hư vô và phù phiếm! Công danh, sự nghiệp giữa cuộc đời này cũng chỉ là giấc mộng đầu hôm. Hiện giờ gia đình con lại khá giả nên con không cần phải làm việc. Riêng về sở thích thì... tuyệt, con thích đánh cờ nhất! Cả đời dường như tâm trí con chỉ tập trung vào đó thôi. Trong vài cuộc tranh giải gồm những kỳ thủ già dặn bốn phương, thỉnh thoảng con cũng giật được phần thưởng ưu hạng.

- Rất tốt! Tu viện trưởng gật đầu - chưa đến nỗi phải bỏ đi. Nhưng mà điều này mới thật là quan trọng, con có niềm tin nào nơi ta không chứ?
- Con đã chọn lựa.

- Thế nào?

- Ngài là Kiếm vương - Thanh niên Ka-jo-ju chợt nói lớn - lại là Kỳ vương nữa. Ngài đã dùng sức mạnh của đạo đức và trí tuệ để thu phục nơi tu viện này những con ngựa hung hăng nhất, những tay giang hồ kiêu ngạo và bạc hãnh nhất... Không cần phải nói rằng người ta tín phục ngài như thế nào, ngài Tu viện trưởng ạ!

- Hỡi con, này Ka-jo-ju! Ta muốn hiểu cường độ tín phục ấy ở nơi riêng con thôi.

Nghe gọi đúng tên mình, Ka-jo-ju rúng động cả châu thân. Bất giác, thanh niên đưa mắt nhìn Tu viện trưởng, và y cảm thấy một sức thu hút kỳ lạ không cưỡng được.

Ka-jo-ju gật:

- Tín phục. Con hoàn toàn tín phục.

Tu viện trưởng chậm rãi quay qua bảo thị giả:

- Vậy hãy cho gọi tu sĩ Mu-ju đến đây cùng với bàn cờ của y.

Người được gọi là một tu sĩ trẻ, rất trẻ, vóc người tầm thước, dáng dấp nho nhã, khuôn mặt sáng rỡ, tròn trặn đầy phúc hậu.

- Mu-ju con!

- Bạch thầy, con nghe.

- Bao nhiêu năm con theo ta để học Đạo. Con mời cơm, ta ăn. Ta gọi, con dạ. Ta giẫy cỏ, con cuốc đất... Tình thầy trò giữa chúng ta thật không có gì đáng phải phàn nàn cả chứ?

- Dạ, quả thế thật.

- Ta còn muốn hỏi rõ hơn nữa. Từ trước đến nay, con không hề mảy may nghi ngờ gì nơi ta đấy chứ?

- Phải nói ngược lại, bạch Thầy - giọng tu sĩ trẻ chợt như viên đá nặng ngàn cân - phải nói là con tín phục Thầy một cách tuyệt đối.

- Rất tốt! Vậy này Mu-ju! Ngay bây giờ ta yêu cầu ở nơi con sự tín phục “kim cương bất hoại” đó.

- Xin vâng.

Tu viện trưởng - chính là vị thiền sư Dai-so-kim - chợt đứng dậy, bước tới bức tường phía đông. Ở đó có treo một thanh kiếm cổ, vỏ nạm bạc khảm xà cừ, nhưng tuế nguyệt đã phủ lên đấy một lớp bụi đục. Gần nửa thế kỷ nay, ngài không đụng đến thanh kiếm ấy. Cái thời Kiếm vương trai tráng oanh liệt dường như mới hôm qua đây thôi. Ngài thò tay. Một tiếng động khẽ vang lên. Kiếm đã ra khỏi vỏ. Mũi kiếm sắc lạnh ngời ánh thép xanh biếc.

Thiền sư Dai-so-kim quay lại, đứng thẳng như một cỗi tùng gân guốc.

- Này Mu-ju! Ngài nói chậm rãi - con hãy chơi cờ với chàng thanh niên này. Và nghe đây! Nếu con thua, ta sẽ chém đầu con, nhưng ta hứa là con sẽ được tái sanh vào cõi phúc lạc. Nếu con thắng, ta sẽ chém đầu chàng thanh niên. Suốt đời anh ta mê mải ham thích trò chơi đó, nếu để thua thì chém đầu y chẳng oan tí nào.

Hai người lạnh toát sống lưng nhìn Tu viện trưởng; và trong thoáng giây đó, họ đều hiểu rằng ngài nói thật.

Thanh niên Ka-jo-ju đứng trân, bất động, loáng thoáng theo hơi gió buốt lạnh câu nói xa xưa của Kiếm Vương: “Ta ít khi rút kiếm ra khỏi bao, rút ra là phải chém!” Bất giác, thanh niên đưa tay sờ lên cổ mình, mồ hôi lấm tấm, gai lạnh. Tu sĩ Mu-ju chỉ thoáng một giây sợ hãi như tí gợn trên mặt hồ rồi mất. Trọn đời bằng vào đức tin tuyệt đối nơi đức thầy, nên việc giao phó định mệnh không phải là điều đáng suy nghĩ lâu.

Giữa thiền đường, lư trầm nghi ngút. Cơn gió lạnh lẽo lùa qua liếp cửa. Thiền sư Dai-so-kim ngồi xuống sau làn khói lung linh mờ ảo, tay nắm chặt đốc kiếm trịnh trọng với phong độ của một bậc tôn sư. Không khí đọng lại, trang nghiêm và tĩnh mịch đến ghê người.

Cả hai người hoàn toàn bị khiếp phục. Họ bắt đầu bước vào ván cờ sinh tử.
Ván cờ không còn là trò chơi nữa. Là cái gì nghiêm trọng nhất trên đời này. Ván cờ chính là cuộc đời. Ván cờ chính là sinh tử. Và cả hai hoàn toàn tập trung tâm ý vào đó không một mảy may dám xao lãng.

Chỉ vài nước khởi đầu, thanh niên đã sớm hiểu là mình đang đối đương với một địch thủ kỳ tài và già dặn.. Tu sĩ trẻ lại un đúc được đức trầm tĩnh của thiền môn. Đó là những yếu tố đáng ngại. Mồ hôi từ tráng chàng thanh niên chảy dài xuống ngực. Tu sĩ Mu-ju đã chiếm ưu thế mất rồi. Và như một lão ngựa tự tin, sung sức - chỉ cần sải từng bước đều đặn giữ khoảng cách đầu ngựa.

Chiến thắng chỉ còn là thời gian.

Ka-jo-ju quên ngoại cảnh, quên bản thân, quên cả việc sống chết. Ngay giây phút này - tình yêu, công danh, sự nghiệp, ưu hận - là những đám mây đen bị xua tan một cách nhanh chóng. Tâm trí Ka-jo-ju hoàn toàn chú mục vào cái đam mê duy nhất của đời mình. Phong độ, sinh lực, thiện xảo, sự thông minh dễ dàng trở lại với chàng. Thế là Ka-jo-ju khôn khéo gỡ từng thế một. Tuy nhiên, tu sĩ Mu-ju vẫn tranh tiên. Rất chậm, vững chãi, từng bước vây hãm thành trì, không một sơ hở tối thiểu để cho chàng thanh niên lập lại thế quân bình.

Đột nhiên, thanh niên Ka-jo-ju bỏ thủ, bỏ thành trì, hy sinh quân mã, tung những đòn chớp giật. Lớp chết, lớp khác xông lên với khí thế quyết tử. Lấy công làm thủ là chiến thuật bình thường, nhưng tự hy sinh quá đột ngột, liều lĩnh và táo bạo như vậy thì quả là Mu-ju mới thấy lần đầu. Đến lượt tu sĩ trẻ toát mồ hôi, từng giọt, từng giọt rỏ xuống bàn cờ. Ka-jo-ju chỉ chờ có thế. Chỉ cần một thoáng bối rối, lưỡng lự của đối thủ là y chém đông, chém tây những thế táo bạo - nhưng chỉ là hư chiêu - rồi rút về an toàn, bình chân như vại.

- Đệ tử vây Ngụy, cứu Triệu, hao tổn tâm cơ là chỉ mong cái thế bảo toàn - Ka-jo-ju thở phào nói - Thật ra, nếu đệ tử không thất vọng tình đời thì không đi những thế tuyệt mạng như vậy. Vì từ bi, vì trung hậu và chơn chất mà tiểu sư phụ mất thế thượng phong. Hiện giờ tiểu sư phụ dẫu hơn quân nhưng chuyện thắng bại khó biết phần ai.

Lợi dụng khi quân mã của tu sĩ đang tản mác đó đây, thanh niên kéo đôi pháo giăng về giữ trung quân. Binh lính và ngựa chặn ở ven sông. Một xa chợt đông, chợt tây, chợt tấn, chợt thoái xông xáo giữa chốn thiên binh vạn mã. Tu sĩ trẻ bắt đầu thấy mình yếu thế. Tự tin một thoáng lay động là phía tả tiền đã bị viên hổ tướng của địch phá vỡ. Lão ngựa già của đối phương được hai chốt hộ vệ chặt chẽ, hờm sẵn đã lâu, bây giờ hung hăng nhảy đến thí mạng. Thế là đôi pháo bất khuất kiên cường của tu sĩ bị loại khỏi vòng chiến.

Mu-ju đã rơi vào thế thủ. Thỉnh thoảng vẫn đánh trả những đòn đầy trầm tĩnh và nội lực nhưng thanh niên vẫn đón đỡ dễ dàng. Vào phút bất ngờ nhất, thanh niên Ka-jo-ju tung quân dự bị. Hai pháo giữ nhà đồng loạt vọt qua sông, tung đòn tối hậu.

Tu sĩ đã nguy cơ thập tử nhất sinh.

Thanh niên len lén đưa mắt nhìn vị sư. Đấy là một khuôn mặt trong sáng đầy trí tuệ do bao năm tinh cần giới luật. Ôi! Một chân dung thật đẹp ở trong một tinh thần cao khiết. Thanh niên nghĩ. Vị tu sĩ này từ hòa và đôn hậu hết mực, mang linh hồn trong sáng như viên bạch ngọc không tỳ vết nhiễm ô; đâu có hắc ám, bụi bặm, hiếu chiến, táo tợn và đa sát như ta? Ôi! Một nhân cách như vậy mà bị kết liễu cuộc đời thật uổng lắm thay! Ta là gì? Một kẻ du thủ du thực, vô tích sự, ăn bám mẹ cha và xã hội; nếp sống dơ dáy, hư hỏng, nội tâm đầy dẫy những ham muốn bất chánh và hèn hạ. Giá trị đời ta chỉ có thế thôi. Rơm rác còn có ích hơn ta.

Thanh niên nhè nhẹ thở dài. Và lòng từ bi khởi lên dịu dàng xâm chiếm lòng chàng. Ôi! Cuộc đời vô giá trị của ta nên hy sinh cho cuộc đời có giá trị.

Nghĩ thế xong, thanh niên khôn khéo tạo những sơ hở, chỉ những kỳ thủ trứ danh mới biết được. Một thế, hai thế. Vậy là quá đủ cho tu sĩ lấy lại quân bình rồi chiếm luôn ưu thế tấn công.

Thanh niên Ka-jo-ju biết mình sẽ thua, lát nữa thôi, nhưng chàng không đổ mồ hôi, không lạnh lưng, không lạnh gáy. Một an tĩnh mênh mông, thân thiết vây phủ tâm hồn chàng. Chưa bao giờ mà chàng chờ đợi cái thua - nghĩa là chờ đợi cái chết - một cách dịu dàng, trong sáng, bình lặng và thanh khiết như vậy.

Tu sĩ trẻ ngần ngại. Ngón tay vừa thò xuống quân cờ định mệnh, vội rút lui... Cũng vì lòng từ bi mà tu sĩ không nỡ hạ thủ.

Bàn cờ bất động giữa hai người.

Đối với những tay cờ ưu hạng, không có thế cuối cùng, Ka-jo-ju hiểu vậy, và vì đã nguyện hy sinh nên bỏ tay xuống...

Bỗng một làn khí lạnh lướt qua. Tu sĩ Mu-ju thoáng thấy thiền sư Dai-so-kim đứng dậy chập chờn sau làn khói hương. Và một tia chớp phủ chụp xuống đầu chàng thanh niên. Tu sĩ nhắm mắt lại, khẽ tuyên Phật hiệu...

Thiền đường lặng ngắt như tờ. Tu sĩ trẻ định thần mở mắt ra. Mắt y chợt tròn vo, kinh ngạc. Cái đầu với tóc tai rối bù của chàng thanh niên đã bị cạo nhẵn thín. Và giọng thiền sư Dai-so-kim trầm ấm, mồn một bên tai:

- Chỉ cần có hai điều, Ka-jo-ju con hỡi! Âúy là sự hoàn toàn tập trung tâm ý và lòng từ bi. Hai yếu tố quan trọng của Đạo Giác Ngộ. Thế mà hôm nay con đã học được cả hai. Con đã tập trung tâm ý có hiệu quả vào ván cờ. Sau đó vì lòng từ bi mà con nguyện hy sinh mạng sống mình. Thôi, hãy ở lại đây, áp dụng kỷ luật của chúng ta trong tinh thần đó. Giải thoát sẽ là kết quả đương nhiên như mũi tên đến tiêu điểm theo đường nhắm đúng.

Thanh niên Ka-jo-ju đưa tay lên sờ đầu mình, chàng mỉm cười.

.

TRỞ VỀ ĐÂU TRANG

Saturday, August 1, 2009

GIÓ BỤI, CÁT LẦM


* Nguyên Nhung
.

Ông là một ông HO, năm mươi tuổi đời, mười năm lính, mười năm tù, còn lại bao nhiêu là một quãng đời bình thường cho một con người bình thường. Mười năm lính ông sống hầu hết ở những chiến trường khói lửa với đồng đội, mấy lần đụng trận để lại thân thể ông vài vết thẹo nay đã mờ dần với thời gian. Tiếp theo mười năm tù ông cũng đói khát, đau khổ như bao nhiêu tù nhân chính trị khác, may là dạo ấy ông còn trẻ, sức khỏe tương đối dẻo dai, đói khát và nhiều cơn sốt rét kinh người chưa vật ngã được ông, để ông có ngày trở về như một bóng ma. . .

. Sau mười năm tù, ông trở về đoàn tụ với gia đình thì mọi thứ đã thay đổi cả. Thứ sách vở ông học ở nhà trường năm xửa, năm xưa không giúp ích gì cho ông lúc này, thứ kinh nghiệm mười năm ở lính lại càng tệ hại hơn, nó làm ông khốn đốn mười năm trong tù, rồi cho đến lúc này, vẫn sẵn sàng đẩy ông xuống vực thẳm nếu như " người ta " xét lại lập trường chính trị của ông.

Ông cay đắng khi nhìn vợ, nhìn con theo những chuyến buôn đường dài, bọn tài xế, lơ xe chọc ghẹo những câu nham nhở, vợ con ông đã phải mắt trước mắt sau, năn nỉ lũ " thuế vụ " khám xét dọc đường buông tha cho mớ hàng lậu dấu trong cốp xe, dưới những dãy ghế ngồi của hành khách. Cái gì cũng là " lậu " cả, một bịch gạo, mấy ký mỡ heo, bọc tôm khô mang làm quà cho bà con cũng được khám xét cẩn thận. Ông cứ tưởng hàng " lậu" là phải thứ gì ghê gớm lắm, hóa ra những thứ ghê gớm ấy đã có loại con buôn có thế lực, chứ đâu đến lượt vợ con ông.

Thằng con kế theo đám thanh niên trong xóm đi đào vàng, tận trong rừng sâu thăm thẳm. Vàng chưa thấy đâu, nhưng cứ suốt ngày hùng hục đào đất sâu như mấy cái lỗ huyệt chồng lên nhau, bất chấp nguy hiểm là đất có thể đổ xuống, tự mình đào lỗ chôn mình là vậy. Chưa hết, giá có được tý vàng lẫn với đất, đem sàng sẩy thì lại lo đứa khác cướp mất, đâm chém nhau vì tý vàng vụn, không biết chết lúc nào.

Ông cũng đã đảo qua khu chợ trời, thôi thì " thượng vàng, hạ cám ". Ai có tiền được ngồi sạp mát mẻ thì đóng thuế hộc xì bơ, người nào ít vốn, lang thang thất thểu xách cái quần, cái áo đi đầu chợ, cuối chợ, gặp đám quản lý thị trường bỏ chạy như ma đuổi, chạy thừa sống thiếu chết. Ngôn ngữ của chợ trời thì dồi dào màu sắc trào lộng lẫn lọc lừa, người ta lừa bịp lẫn nhau có nghệ thuật hẳn hoi, đại đa số dân không có công ăn việc làm quy tụ cả ở đây,mánh mung, lừa đảo, đau đớn cũng ở cả nơi này. Chỉ một lần đảo qua để tìm cách sống, lúc về ông cứ gây gấy như lên cơn sốt. Nhìn chị đàn bà cỡ vợ ông cầm chiếc dao lam, giơ chiếc quần lên để cạo những sợi lông vải tưa ra ở chiếc quần cũ, rồi bằng một nghệ thuật tuyệt chiêu, sau một đường ủi phẳng, chiếc quần láng coóng như mới, cái gì người ta cũng tân trang được cả, để đánh lừa những kẻ ngu ngơ. Mảnh đời ông nay đã cũ, vậy mà ông chịu không làm sao sửa được, không sơn phết được để lấp đi những buồn chán, ủ ê sau cuộc đổi đời.

Thôi thì làm cái gì nhàng nhàng sống qua ngày vậy. Có những người chỉ sống bằng gánh hàng rong, nấu xôi, nấu chè mà cũng kiếm được bữa ăn. Có người sống bằng nghề bán bánh chưng, bánh giò, kẹo kéo, nghề này phải đi rạc cẳng, cái ấy không hề gì, nhưng khó nhất là phải rao. Chị hàng chè rao hàng lảnh lót, kĩu kịt gánh gánh chè đi vào hẻm mỗi buổi xế, chị rao ngọt như đường, lũ trẻ con thèm ngọt bu xung quanh. Thấy dễ mà ông chịu không làm được. Đêm khuya, ông quan sát một người đàn ông bán bánh giò, ông ta lủi thủi đẩy chiếc xe vào con ngõ tối tăm, lởm chởm, cái giọng khàn khàn đứt hơi của một người đã già ngay từ lúc chưa già sao thê thảm thế. Mỗi lần nghe tiếng rao của người bán bánh giò trong đêm khuya, ông lại tưởng như tiếng của chính mình đang dãy dụa trong lồng ngực héo với buồng phổi khô, nước mắt ông trào ra lúc nào chẳng biết.

Không làm gì được để giúp đỡ vợ con, ông khổ tâm lắm. Mấy vết thương từ những ngày chinh chiến thỉnh thoảng vẫn đau thắt cả lưng, còn lồng ngực lâu lâu lại ê ẩm vì lần đi lao động bị cây đập vào ngực. Hôm ấy tý nữa là ông mù, nếu như không né kịp, nếu cái ngực không đưa ra để hứng lấy. Tuổi thanh niên còn hăng sức, ông gánh hằng trăm gánh nước tưới rau có nhằm nhò gì, vậy mà bây giờ già, con người ông rã rời tất cả, từ tinh thần đến thể xác, muốn phục hồi lại cần phải có thời gian, có khi hết đời chưa làm được.

Ở nhà, rảnh rang ông ra sân trồng tý rau, tý hoa cho đỡ buồn, rồi ra bờ sông câu cá chờ thời. Thời đâu chẳng thấy, chỉ mong là đỡ phải nghĩ ngợi. Quái lạ, không muốn nghĩ cũng không được. Lâu lâu, câu được con cá đáng lẽ ông phải vui thì ông lại buồn, ông thấy mình như thân phận cá, lúc tưởng được rong chơi đầu ghềnh, cuối sóng thì lại mắc nạn " cá lớn nuốt cá bé ", lúc đói muốn tìm cái ăn thì mắc ngay vào cái bẫy của đời, thế là toi mạng. Ông cứ thả cần câu rồi ngồi bó gối, dõi mắt vào một cõi trời không. Ông chả màng gì cá, ông cũng như cá, cá cũng như ông, bẫy nhau làm gì cho mang tội.

Không biết tại sao đứa con gái lớn đi buôn lại " phễnh " bụng ra, trước sau gì " đi đêm cũng có ngày gặp ma". Chết nỗi thằng ấy lại là người ơn của vợ con ông, nó điều hành ngoài bến xe, chuyên môn gởi hàng cho con bé đi buôn, lũ tài xế, lơ xe không anh nào dám đụng đến móng chân con bé. Vậy mà nó lại đụng được, con bé đẹp như tranh thế kia đứa nào thấy lại chẳng khoái. Những ngày vợ đi hàng, con bé ở nhà là thằng kia đến chơi, hai đứa rù rì cả buổi trong căn phòng đóng kín cửa, ông có hầm hừ, đằng hắng gì cũng mặc. Mấy lần ông khuyên bảo con, dạy dỗ nó thì đều bị nó dạy ngược lại, như những gáo nước lạnh tạt vào mặt :"Bố cứ lo cho bố, đời của ai nấy lo, bố không nuôi nổi bố thì cũng đừng lo cho ai ". Ôi, cuộc đời khốn nạn, khi biết được con hư vì cái thằng " phải gió ", vợ ông dằn vặt ông, nhiếc móc ông, làm như ông là nguyên nhân làm con cái hư hỏng. Sau thì chúng nó cũng lấy nhau, nhưng có ai hiểu được cái khổ của một người chồng, người cha bất lực trước những tai ương xảy đến trong gia đình. Lắm lúc ông thầm nghĩ, sao không chết quách đi cho xong ," con thà coi như là hạt bụi, vợ thà coi như chiếc lá bay ".

Hai đứa bé đang đi học là sướng nhất, ngoài môn chính trị thì tất cả các môn khác đều là phụ. Đứa con út làm văn mà nghe như các khẩu hiệu được ráp vào với nhau kêu rôm rốp, ông xem bài của con, vừa buồn cười lại vừa muốn khóc. Hỏng, như thế này là hỏng, nhưng biết làm sao bây giờ. Còn thơ thẩn văn chương thì kinh lắm, ông hãi nhất cái bài " Chống giặc hạn " mà con bé phải học để làm bài thi, có mấy câu thơ đọc đến rùng mình : " ...

Trời làm hạn hán thì người trị ngay,

Trị đêm rồi lại trị ngày,

Sao cho giặc hạn biết tay của người...

" Nghe con học thơ ông mướt mồ hôi trán, thế này thì còn dạy dỗ gì nữa, mà dạy dỗ lúc này như " mở miệng mắc quai", chưa biết chừng mai mốt nó dám trị lại ông, vì tội dám bảo ban những điều đi ngược lại với đường học tập của cả nước.

Ông câm như hến cho xong, ngày có hai bữa cơm cũng là nhờ vợ con luồn cúi đủ mọi hạng người chẳng ra gì để kiếm miếng cơm cho cả nhà. Ông suýt tự tử mấy lần, may sao đúng lúc ấy người ta bàn ra tán vào chuyện cho những người thâm niên tù tội đi Mỹ, nếu không có chương trình HO, có lẽ ông đã đi xuống tận cùng của hỏa ngục.

Ôi! Cái ngày ngồi trên máy bay ra khỏi Việt Nam ông mới chắc mình thoát, dù vẫn còn chút vấn vương với quê cha, đất tổ. Đứa con gái lấy chồng ở lại, còn ba đứa theo bố mẹ đi Mỹ. Những ngày đầu tiên đến xứ người, ông lù khù như gà mắc mưa, thấy gì cũng ngại, nhưng cũng phải làm oai để lên tinh thần cho con cái. Chẳng phải lo, đám trẻ hòa nhập nhanh hơn ông tưởng, thằng con trai ngày nào mới hai mươi tuổi đã biết phì phà điếu thuốc, ngồi tư lự như một triết gia thả từng vòng khói bên ly cà phê đen, qua đây cũng biết tìm một việc làm để sắm xe cộ. Hai đứa con gái lớn bổng lên, suốt ngày cứ săm soi quần áo, gương lược. Ông ngại lắm, đám con ông lớn lên trong đói khổ, thiếu thốn, không biết có chống nổi những ham muốn, cám dỗ của xứ người, không biết sau này ra sao, chứ trong bụng ông lúc nào cũng băn khoăn vì tương lai của lũ trẻ.

Vợ ông thực tế hơn, làm sao có công ăn, việc làm là " OK ", điều ấy cũng không lạ, là vì phải trải qua một quãng dời dài vật lộn với miếng cơm manh áo, vật chất đã trở nên một vấn đề bức thiết để người ta không còn nghĩ đến điều gì khác hơn. Không biết tự lúc nào, tư tưởng giữa ông và vợ ông đã khác biệt hẳn nhau, ông được xếp vào hạng người hoang tưởng, lỗi thời, xưa như trái đất, trong khi vợ con ông tiếp nhận ào ạt cuộc sống văn minh, vật chất xứ người nhanh hơn phi thuyền bay lên mặt trăng, không đo lường được nó như con dao hai lưỡi làm băng hoại nền tảng gia đình.

Ông buồn, buồn quá. Mỗi người như một bờ, một cõi, riêng ông lặng lẽ với ốc đảo của lòng mình. Không biết thổ lộ cùng ai, người biết chuyện không nói làm gì, kẻ không hiểu bảo ông lắm chuyện, "được voi, đòi tiên ", sướng không chịu chỉ muốn khổ.

Có tiếng Anh lõm bõm, ông kiếm được việc làm, gác dan cho một khu thương xá. Gọi là gác cho oai chứ thực ra là đi vòng vòng nhặt rác, sắp xếp mấy thứ lỉnh kỉnh, nhưng như vậy cũng còn an ủi hơn là ngồi nhà hưởng tý trợ cấp của chính phủ.

Một sáng kia, ông dậy sớm đi làm. Mưa, mưa không lớn lắm nhưng trơn ướt mặt đường, ông lái chiếc xe tàng ra khỏi nhà, không hiểu sao khi lên đến freeway, ông thấy chóng mặt, lảo đảo tay lái, chiếc xe húc mạnh vào bờ tường bẹp dúm, đầu ông đập mạnh vào tấm kính đằng trước, máu tuôn như suối. Ông ngất đi, thấy mình trôi tuồn tuột vào một đường hầm hun hút màu đen, rồi như được oà vỡ ra ở một thế giới khác. Ông thấy mình trở về một miền đất lạ, có thể là miền đất quê hương nơi xảy ra những trận đánh năm xưa, nhưng không có hận thù, không máu lửa, chỉ có nụ cười rạng rỡ trên môi những đồng đội cũ. Ông hoà nhập vào giòng người xôn xao đó, đi về một nơi bình yên, với một cõi lòng thanh thản.

NGUYÊN NHUNG (Vietnam Library Network )

trở vê đâu trang


Ukraine's Got Talent (Trở về đâu trang)

Tai ssao anh bịt miệng tôi - Như Mai(Trở vê đầu trang)