Tuesday, June 2, 2009


QUÊN ĐI NGÀY THÁNG CŨ.
Hoàng Nguyên Linh
.
Tôi sinh ra là một người con gái con nhà nghèo. Bố tôi mất sớm lúc tôi chưa được 8 tuổi, mẹ tôi phải đi ở đợ cho một gia đình giầu có. Công việc hàng ngày của mẹ tôi là dọn dẹp nhà cửa, đi chợ và nấu ăn cho nhà bà Đạm, một thương gia, chồng chết, có 2 người con, một trai và một gái. Con gái bà tên Minh Thư bằng tuổi tôi, có lẽ vì lý do này mà bà Đạm đã mướn mẹ tôi để có người chơi với con gái bà. Con trai bà tên Thuấn hơn tôi 7 tuổi.
Tôi được đi học cùng với Minh Thư, chúng tôi chơi thân với nhau khiến bà Đạm rất vui mừng và đối xử tử tế với mẹ con tôi. Tôi được biết trước đây bà Đạm có mướn một người làm nhưng Minh Thư không thích chơi với người con gái nên đã bị cho nghỉ việc..
.
Thuấn thương em gái nên tôi được thương lây. Thuấn thường hay đưa chúng tôi đi chơi, đi coi hát và chỉ dẫn cho chúng tôi làm bài ở trường. Thuấn che chở cho tôi và bênh vực tôi mỗi khi bị những đứa trẻ khác bắt nạt. Có lần chơi ở sân tôi bị té ngã, Thuấn ôm tôi vào lòng và an ủi tôi: “Em bé ngoan đừng khóc nữa anh thương”. Tôi cảm động muốn trào nước mắt. Thuấn vuốt nhẹ mái tóc tôi và lau nước mắt cho tôi . Chàng bảo “ Ngân Khánh phải cười trông mới đẹp”. Được Thuấn khen đẹp tôi thích và cười với chàng. Thuấn ôm chặt tôi một lần nữa rồi mới buông ra. Tuy mới 12 tuổi nhưng tôi mơ hồ hình như có một cảm giác là lạ, hay hay. Tôi mong té ngã một lần nữa để được Thuấn ôm tôi và lau nước mắt cho tôi… Tôi buồn nhất là ngày Thuấn phải ở nội trú trong trường Đại học. Tôi bắt đầu nhớ Thuấn. Mỗi cuối tuần tôi đứng ở cửa đợi Thuấn về và cứ như thế năm này qua năm khác rồi chúng tôi đã yêu nhau lúc nào tôi cũng không biết. Khi tôi học xong bậc Trung học thì Thuấn tốt nghiệp bác sĩ y khoa. Tôi yêu Thuấn, một tình yêu chân thật, trọn vẹn chứ không bao giờ dám có ý định làm vợ Thuấn vì hai gia đình quá cách biệt, mặc dù Thuấn có nói với tôi là Thuấn sẽ cưới tôi làm vợ. Tôi tin tưởng ở Thuấn nhưng làm sao bà Đạm có thể chấp nhận mẹ tôi thông gia với bà. Tuy biết như thế nhưng chúng tôi vẫn yêu nhau say đắm và không thể rời xa nhau được.
.
Bà Đạm là một người đàn bà tốt nhưng rất cương quyết và thẳng thắn. Hình như bà đã biết được chuyện hai chúng tôi yêu nhau và chuyện Thuấn muốn cưới tôi làm vợ. Một hôm đợi Thuấn và Minh Thư đi vắng bà Đạm gọi hai mẹ con tôi lại và nói rất ôn tồn: “ Con gái chi Tư đã lớn nên ở đây bất tiện. Mặc dù tôi và hai con tôi rất quý hai mẹ con chị nhưng tôi vẫn phải cho chị nghỉ việc. Trai gái không nên để chúng nó gần nhau. Trong vòng một tuần chị tìm nơi khác để dọn ra. Tôi cho chị 6 tháng đủ tiền ăn ở, sau đó mẹ con chị có thể tự túc được. Tôi chỉ yêu cầu chị và cháu hứa với tôi một điều là không cho hai con tôi biết gì hết và không bao giờ được liên lạc với chúng nữa. Chị cứ sẵn sàng rồi đợi hôm nào hai con tôi không ở nhà thì dọn ra…”. Tôi quá bất ngờ và sửng sốt. Tim tôi ngừng đập, mặt tôi tái đi. Bà Đạm nhìn hai mẹ con tôi như ra lệnh. Tôi thấy bà thật nghiêm nghị. Gần 10 năm sống trong nhà bà, lần đầu tiên tôi thấy nơi bà đáng sợ như vậy. Mẹ tôi cũng sợ bà và nói trong nghẹn ngào: “ Tôi xin hứa và sẽ làm theo lời bà”. Bà Đạm gật đầu như để chấp nhận lời hứa của mẹ tôi. Bà nhìn sang phía tôi. Lúc này nước mắt tôi đã trào ra. Tôi nghĩ đến ngày phải xa Thuấn, xa Minh Thư, xa mái nhà thân yêu với bao kỷ niệm thời niên thiếu mà tôi đã quên đi tưởng như nhà mình. Không thấy tôi nói gì, mẹ tôi nắm chặt tay tôi và lắc nhẹ. Bà Đạm nhướng mắt lên ra lệnh. Tôi nói trong nghẹn ngào: “Cháu xin hứa sẽ làm theo lới bà .
.
Bốn hôm sau Thuấn và Minh Thư đi vắng, mẹ con tôi dọn ra khỏi nhà bà Đạm. Trước khi lên xe tôi nhìn ngôi nhà một lần cuối lòng không khỏi bùi ngùi. Nơi đây như một mái ấm gia đình trong thời niên thiếu, có bao nhiêu kỷ niệm, có mối tình đầu. Tôi bước đi nhưng đôi chân như hụt hẫng. Tôi thương tôi nhưng nhìn mẹ sụt sùi lau nước mắt tôi càng thương mẹ hơn. Thuấn ơi! Từ nay em sẽ phải xa anh, vĩnh viễn xa anh. Vì danh dự, vì giữ lời hứa với bà Đạm em không thể nào gặp lại anh được. Mối tình em với anh tưởng là thần tiên, bây giờ đây mỗi người một ngả. Anh biết gia đình em quá nghèo sao anh lại còn yêu em, sao anh lại muốn cưới em làm vợ để em phải xa anh… Đứng ở cửa tần ngần một lúc rồi mẹ con tôi lên xe để đến ở chung nhà với bà bán rau muống ngoàì chợ mà mẹ tôi đã quen vì hay mua rau của bà. Cuộc sống của mẹ con tôi hoàn toàn thay đổi. Bao nhiêu mộng đẹp của thời con gái đã tan theo mây khói. Tôi đang dự định thi vào một trường chuyên nghịêp nào đó để giúp đỡ mẹ tôi, nhưng không may chuyện xẩy ra quá bất ngờ, tôi không kịp xoay xở gì nữa. Tôi phải xin đi làm thư ký cho một hãng bào chế thuốc Tây. Nhìn những chuyên viên mặc áo trắng đi qua lại, tôi liên tưởng tới Thuấn trong bộ đồ bác sĩ y khoa, lòng tôi không khỏi xót xa. Tôi không bao giờ được gặp chàng nữa…
.
Mẹ tôi từ ngày dọn ra ngoài ở thì sức khỏe đã suy yếu nên không còn làm được gì nữa ngoài việc nấu ăn. Mẹ tôi nấu ăn ngon lắm. Nếu mẹ tôi còn trẻ bà đã mở một quán ăn. Gần 10 năm nấu ăn, cả nhà bà Đạm mọi người đều thích. Thuấn, con trai bà Đạm đã nói với mẹ : “ Con đã đi ăn tiệc ở nhiều nơi nhưng không ăn ở đâu ngon bằng ăn ở nhà do bà Tư nấu” . Nào là món gỏi gà bắp cải thêm chút rau răm, đậu phộng rang rắc lên trên . Rau muống xào tỏi hoặc xào với thịt bò, rồi món rau muống trộn với mắm tôm vắt chanh, thêm ít ngò gai, kinh giới và đậu phộng rang, có khi mẹ tôi cho thêm tép hay thịt thái nhỏ. Món nộm hoa chuối mẹ tôi gọi là nham hoa chuối cũng rất ngon. Cuối tuần mẹ tôi hay nấu bún riêu, bún ốc hoặc canh chua… món nào cũng đặc biệt. Nay mẹ con tôi đi rồi Thuấn không được ăn những món mà chàng thích nữa. Càng nghĩ tôi lại càng thương chàng. Anh ơi mẹ em đi rồi ai nấu cho anh ăn những món mà anh thích. Em đã học ở mẹ một vài món, dự định sẽ nấu cho anh ăn nhưng em chưa kịp làm thì đã phải xa anh. Xa anh em không được nói câu từ giã. Anh có trách em vô tình em cũng xin đành mang.
.
“Ngày đi lặng lẽ không từ giã .
Cất bước âm thầm thương nhớ thôi” ……
.
Hai câu thơ của NT đã áp dụng với tôi bây giờ thấy đúng làm sao. Nếu một ngày kia tình cờ gặp lại anh hay Minh Thư em sẽ phải trả lời ra sao. Em có được nói sự thật là vì chúng mình yêu nhau nên mẹ anh đuổi mẹ con em không? Đầu óc tôi rối loạn, tôi không tìm được câu tả lời. Chắc tôi không nói thế được. Tôi không oán trách gì bà Đạm, nếu là tôi liệu tôi có làm khác bà được không ? Bà Đạm là người đàn bà có thế lực, làm sao bà có thể thông gia với mẹ tôi, một tôi tớ trong nhà mà bạn bè, khách khứa ai cũng biết. Tuy buồn nhưng tôi cũng thông cảm với bà. Mẹ tôi cũng biết thân phận mình nên không hề oán trách bà Đạm. Đôi lúc tôi tự trách tôi, làm sao tôi dám với quá cao để giờ bị té đau, nhưng rồi tôi lại bênh vược cho chính tôi. Người con trai như Thuấn làm sao tôi không yêu được. Thuấn có đầy đủ mọi điều kiện, người con gái mới lớn như tôi sao không ngã lòng. Con tim có những lý do riêng của nó, người ta vẫn nói thế.
.
Nhưng nếu chỉ yêu nhau rồi xa nhau thì cũng là sự thường tình của thế nhân, hợp để rồi tan, Trên đời này có biết bao nhiêu mối tình chia ly bằng nước mắt. Nhưng tôi đã yếu đuối, không làm chủ được thân xác tôi và đã dâng hiến trọn vẹn đời con gái của tôi cho Thuấn. Hai tháng nay tôi không thấy có kinh nguyệt, cơ thể tôi bắt đầu thay đổi, ngực tôi căng phồng thêm, tôi bắt đầu lo sợ. Tôi đi thử nghiệm và được biết tôi đã mang thai. Tôi đắn đo nhưng rồi cũng phải thú nhận với mẹ. Mẹ tôi không la mắng như tôi nghĩ, bà chỉ khuyên tôi cố gắng giữ gìn sức khoẻ cho cái thai được tốt. Mẹ tôi cũng nghĩ như tôi là vì danh dự và giữ lời hứa nên không cho Thuấn biết tôi đã có thai với chàng. Tôi thấy mẹ tôi buồn, tôi hỏi là mẹ có trách vì tôi mà bà Đạm đuổi mẹ con tôi không thì mẹ tôi trả lời là bà không trách nhưng thương tôi, tội nghiệp cho tôi. Bà biết trai gái mà để sống chung với nhau trong nhà thì chuyện gì rồi cũng sẽ phải xẩy ra, nhưng bà chưa kịp khuyên bảo tôi.
.
Tôi mang thai được gần 9 tháng thì mẹ tôi qua đời. Buổi tối mẹ tôi nói bà bị nhức đầu, tôi lấy thuốc cho mẹ uống và nửa đêm thì mẹ tôi ra đi. Bà ra đi bình yên, lặng lẽ, buồn thảm như cuộc đời mẹ, Tôi không ngờ mẹ tôi chết dễ dàng quá. Tôi đau buồn và đã ngất xỉu đi, không còn biết gì nữa…
.
Sau năm ngày ở trong bệnh vịên, tôi tỉnh lại và đã nhận thức được. Sờ tay lên bụng thấy bụng đã xẹp xuống biết là tôi đã sinh nhưng không biết đứa bé giờ ra sao. Đợi người y tá đến gần tôi hỏi thăm về con tôi. Người y tá trả lời: “ Bác sĩ thấy không có hy vọng cứu sống cô nên đã mổ để lấy cháu bé ra. Cháu rất khỏe mạnh. Không biết cô có đủ sức để nuôi nấng con không. Cháu là con gái, mặt mày sáng sủa lắm. Rất mừng cô bình phục trở lại, đó cũng là nhờ 3 vị bác sĩ đã tận tình chữa trị, các vị ấy tử tế với cô lắm, coi cô như người nhà …”. Một giờ sau người y tá mang con đến đưa tôi bế và nói : “Cho cháu ở đây với cô một lúc rồi tôi đưa cháu trở lại phòng để cô nghỉ vì vết mổ chưa lành”. Nhìn thấy con, tôi hết sức vui mừng, sao tôi thấy nó thân thương gần gũi quá. Có nhà văn đã nói: “ Đứa con là tác phẩm vĩ đại nhất trong số những tác phẩm mà tôi có”. Nhưng vừa vui tôi chợt buồn ngay. Tôi chỉ có một thân một mình làm sao có thể nuôi được con. Tôi lại phải đi ở đợ như mẹ tôi ngày xưa. Nhưng mẹ tôi còn có người mướn chứ tôi đứa con còn đỏ hoẻn ai chịu cho làm. Hay tôi nhờ người báo cho Thuấn biết. Tôi vội xua đuổi ý nghĩ này, vì tự trọng, vì danh dự của hai mẹ con, tôi không thể liên lạc với gia đình bà Đạm được nữa. Người y tá đến mang con tôi trở lại phòng dưỡng nhi, nước mắt tôi trào ra.

Tôi khai ở bệnh viện là chồng tôi đi lính chết bây giờ chỉ có mình tôi, không có thân nhân, không bạn bè, mẹ tôi mới chết hôm tôi vào đây. Hoàn cảnh của tôi đa số các nhân viên đều biết, họ nói chuyện với nhau tôi nghe được: “Cô ta còn trẻ và xinh đẹp quá, tội nghiệp chồng bị chết sớm”. Mấy hôm sau ông chủ sự phòng hành chánh của bệnh viện đến bên tôi và nói: “ Tôi xin lỗi đã đi vào đời tư của cô và có thể làm cô buồn, nhưng trong hồ sơ tôi thấy hoàn cảnh cô thật khó khăn. Chúng tôi rất aí ngại không biết khi xuất viện cô ở đâu và làm sao nuôi được con, lúc đó cô cũng phải đem cho hoặc bỏ vào viện mồ côi và người nhận nuôi con cô không biết họ thế nào, có được tốt không, rồi lại tội nghiệp đứa bé… Tôi có quen hai ông bà này rất giầu và tử tế, họ lấy nhau trên 16 năm mà không có con, đang có ý định tìm nuôi một đứa con nuôi, nếu cô đồng ý cho họ nuôi tôi sẽ nói với người ta. Cô suy nghĩ rồi cho tôi biết”. Tôi quá đau buồn, mới gặp con vài lần giờ sắp phải xa nhau. Ông chủ sự nói đúng, tôi không đủ phương tiện để nuôi con. Biết bao người hoàn cảnh như tôi đã phải bỏ con ngoài đường, bỏ vào cổng chùa, viện mồ côi… Nếu con tôi có được người tử tế nuôi cũng là điều may cho nó. Đi ở với người ta cuộc đời nó có thể khá hơn là ở với tôi. Tôi đã làm khổ con tôi rồi, nó không có tội gì để phải khổ thêm nữa. Tôi không thể ích kỷ giữ mãi con bên tôi. Nghèo là khổ lắm. Tôi với Thuấn yêu nhau chỉ vì tôi nghèo mà phải xa nhau. Thuấn ơi! Chỉ vì nghèo mà em phải xa anh, chỉ vì em nghèo mà chúng ta phải xa con chúng ta.
.
Tôi trả lời ông chủ sự là tôi muốn được gặp bố mẹ nuôi của con tôi. Hôm sau hai người này tới. Đúng như ông chủ sự nói, nhìn hai ông bà rất phúc hậu khiến tôi yên tâm. Người chồng hỏi tôi có yêu cầu đìều gì không, tôi nói tôi chỉ mong có con và đặt tên là Thuận Khanh (tức là gần tên Thuấn và tên tôi), nhưng nay tôi không còn cái quyền này nữa. Người chồng ôm vai vợ cười lớn: Em tên Thuận, cô ấy tên Khánh. Một bên mẹ nuôi, một bên mẹ đẻ, đúng là trời đã xếp đặt, sau này cháu bé sẽ gặp nhiều may mắn lắm. Chúng tôi bằng lòng với lời ước nguyện của cô. Cô còn yêu cầu điều gì nữa không? Tôi lắc đầu không nói ra lời… Buổi chiều ông chủ sự gặp tôi để cho biết lúc tôi xuất viện thì họ mang con tôi đi. Ông còn nói thêm là ông bà này rất mừng khi thấy tôi không đề cập đến tiền bạc, chỉ lo đặt tên cho con chứng tỏ tôi trọng tinh thần chứ không phải vật chất, như vậy gốc đứa bé rất tốt. Cô lại rất xinh đẹp, họ hy vọng con họ sau này cũng sẽ đẹp như cô. Ngày cuối cùng tôi được bế con tôi một giờ. Tôi ôm chặt con tôi trong lòng như giữ gìn một báu vật, tôi không muốn rời xa nó nữa, nhưng vì chữ tín tôi không thể nào đổi ý được. Nước mắt tôi trào ra, ai nhìn thấy cảnh chia ly này cũng phải ngậm ngùi. Dù đã quá giờ người y tá không nỡ lấy đứa bé ra khỏi tay tôi. Tôi ghì chặt con tôi vào lòng và đặt chiếc hôn lên má con rồi đưa cho người y tá. Đích thân ông chủ sự trao tôi một túi vải lớn, nói tôi nên giữ cẩn thận vì đây là số tiền khá nhiều do bố mẹ nuôi đứa bé đưa, đủ cho tôi ăn ở 4, 5 tháng như là để cám ơn tôi chứ không có ý mua bán gì đâu. Tôi nói lời cám ơn ông chủ sự cùng bác sĩ và các nhân viên trong nhà thương rồi ra về.
.
Tôi thuê xe đến thẳng nhà bà bán rau muống. Khi đến nơi tôi không gặp bà và thấy có người lạ ở trong. Tôi hỏi thì được biết vì có người chết nên bà bán rau sợ hãi và đã bỏ đi. Người thuê nhà mới con cái đông và giá thuê rẻ nên đã dọn vào. Tôi ra ngoài đường và phân vân không biết đi đâu, chợt một chiếc xe Honda dừng trước mặt, tôi nhận ra chị bạn làm chung hãng với tôi khi trước. Sau khi hỏi han chị biết chuyện nên đã thương tình rủ tôi về nhà ở chung với chị. Trong khi đó những người trong hãng họ không biết lại tưởng tôi đã theo chồng đi ngoại quốc
Lời ca của bản nhạc trong “Bài không tên số 5” đã thức tỉnh tôi phải can đảm và cố gắng chịu đựng.”
.
Mấy tháng sau nhờ có người chỉ dẫn tôi tìm được mộ mẹ và thắp nén hương lên mộ bà. Thời gian này tình hình Saì Gòn ngày càng giao động và biến cố tháng Tư năm 1975 xẩy ra. Tôi theo đoàn người ra bến Bạch Đằng, sao may tôi lên được tàu và sang tới Hoa Kỳ, định cư tai tiểu bang California. Tôi cố gắng lập lại cuộc đời, vừa đi làm vừa đi học . Sau một năm bổ túc Anh văn tôi ghi danh vào Đại học, 4 năm tôi ra trường về ngành kỹ sư điện tử, rồi tôi lập gia đình với một nha sĩ giầu có. Tôi đi khám răng và gặp chồng tôi. Chồng tôi hơn tôi 11 tuổi, góa vợ và có một con trai. Chúng tôi lấy nhau được gần 14 năm. Chồng tôi mới qua đời cách nay 3 năm. Tôi tiếp tục vừa làm chủ trung tâm nha khoa cũ của chồng tôi vừa đi làm cho công ty điện tử. Đời sống tuy có bận rộn nhưng vật chất rất đầy đủ vì có hai nguồn lợi tức. Tôi nghĩ đến thời gian nghèo khổ khi xưa, nhớ đến mẹ và đứa con gái riêng lòng không khỏi xót xa. Tôi đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không biết được con tôi bây giờ ra sao, còn ở lại Việt Nam hay đã qua Mỹ ? Tôi có nhờ hội Hồng Thập Tự tìm kiếm nhưng không ra. Tôi ngày đêm cầu nguyện để được gặp con gái tôi.

Tôi đi khám định kỳ hàng năm và được giới thiệu đến bác sĩ Nguyễn Trọng Toản chuyên về tim mạch. Nghe tên bác sĩ tôi chợt nhớ ra vị bác sĩ đã cứu sống tôi ở bệnh viện Việt Nam khi xưa. Sau khi khám bệnh và cho thuốc, tôi nói với bác sĩ Toản chính tôi là người được bác sĩ chữa trị gần 25 năm về trước.. Nhận ra tôi vị bác sĩ này mừng lắm. Cũng may tôi là người khách cuối cùng nên ông đã có nhiều thì giờ nói chuyện với tôi. Bác sĩ Toản cho tôi biết cách đây 2 năm trong cuộc họp mặt của hội y sĩ toàn quốc tại Texas ông có gặp Thuấn, người tình cũ của tôi. Nghe tên Thuấn tôi lặng người đi nhưng cố giữ bình tĩnh để nghe kể: “ Thuấn với tôi học cùng lớp với nhau nhưng không thân. Tôi có gặp chị đi chơi với Thuấn vài lần nên nhớ. Tôi chữa trị cho chị và nghĩ Thuấn bỏ rơi chị, nên tôi tránh không muốn nói gì với ai, ngay cả lúc chị sinh đẻ trong bệnh viện cũng vậy. Kỳ vừa qua gặp nhau ở Texas tự nhiên Thuấn tâm sự với tôi là Thuấn yêu chị lắm nhưng bị bà mẹ ngăn cản và không có cách nào gặp được chị. Sau khi chị đi rồi Thuấn giận mẹ nên không chịu lấy vợ, mãi sau thấy bà cụ quá buồn nên Thuấn mới lập gia đình. Đến nay Thuấn vẫn không có con và vợ chồng đã ly dị vì không hợp nhau. Nghe tôi nói chị đã có thai với Thuấn và chính tôi chữa trị cho chị, Thuấn xúc động lắm. Thuấn thương chị và thương đứa con của anh chị phải đi làm con nuôi người ta, không biết giờ này ra sao. Mẹ Thuấn biết tin cũng buồn lắm, bà đã hối hận cho hành động của bà để đứa cháu duy nhất bị bỏ rơi, nay bà đã trên 80 tuổi vẫn chưa có cháu bế…”. Nghe lại chuyện xưa lòng tôi nặng chĩu và không cầm được nước mắt. Bác sĩ Toản hỏi tôi có đồng ý cho Thuấn biết đã gặp tôi không, tôi dặn bác sĩ thôi đừng nói gì cả, chuyện xưa nên cho vào dĩ vãng, điều cần thiết là tìm được đứa con chúng tôi. Tôi chào bác sĩ Toản rồi ra về, lòng buồn mênh mang:.

Biết được tin anh cũng đủ rồi …
Tâm sự có nhiều vẫn thế thôi
Ra đi không nói câu từ giã
Em biết chuyện mình mãi cách đôi
Cứ mỗi năm nhìn lá uá vàng
Anh ơi! Thu đến mang sầu tới
Khơi dậy mối tình đã cách ngăn
Một lần yêu đã quá khổ rồi
Nhắc làm chi chuyện cũ anh ơi
Thân tuy gầy yếu tim băng gía
Giữ mãi trong em bóng một người
Biết được tin anh đã đủ rồi
Em bây giờ cũng vẫn đơn côi
Bao nhiêu kỷ niệm, bao đau đớn
Và khóc âm thầm, khóc mãi thôi
.
Nhưng thôi tôi không muốn tiếp tục làm thơ buồn nữa. Tôi trở về với đời sống hiện tại của tôi. Tôi không có con nên yêu con trai của chồng tôi như con đẻ. Tân (tên con trai của chồng tôi) rất quý tôi. Tuy đã ra hành nghề bác sĩ nhưng tất cả những chuyện riêng tư Tân đều mang ra hỏi ý kiến mẹ. Một hôm Tân khoe với tôi Tân quen một cô gái tên Thuận Khanh kém Tân 4 tuổi. Hiện nay Thuận Khanh là dược sĩ, trông nom tiệm thuốc Tây của gia đình. Tân và Thuận Khanh quen nhau qua dịch vụ thương mại. Nghe con trai nói đến Thuận Khanh tôi rất hồi hộp, liệu có sự trùng tên, trùng tuổi được không? Thuận Khanh có phải là con gái tôi không? Tôi hỏi con trai xem gia đình Thuận Khanh ra sao, thì được biết bố Thuận Khanh đã mất chỉ còn mẹ già trên 70 tuổi. Nhà giầu lắm, tất cả tài sản sau này sẽ là của Thuận Khanh hết. Tôi hơi lạ, nếu là mẹ nuôi thì đúng chứ mẹ đẻ có thể trùng tên. Tôi nói con trai tôi đưa Thuận Khanh về nhà tôi chơi. Gặp Thuận Khanh tôi linh cảm ngay người con gái này là con tôi. Nét mặt vừa giống tôi vừa giống Thuấn. Không cầm được lòng tôi ôm chầm lấy Thuận Khanh và thốt lên: “con ơi! mẹ đây”, nhưng rồi tôi chợt nhớ ra, chưa phải là lúc mẹ con thổ lộ tâm tình nên đã buông Thuận Khanh ra và nói lời xin lỗi: “ Bác xin lỗi con, tại bác thấy con dễ thương quá nên bác mến”. Thuận Khanh nói: “ Không sao đâu bác. Được bác yêu quý và cho đến nhà thăm bác con rất vui mừng. Trước khi đến con sợ lắm, nay thấy bác vui vẻ như mẹ con ở nhà, con thật có phước. Mới gặp bác lần đầu nhưng con có cảm tưởng như đã gặp bác từ lâu rồi ”. Lòng tôi dịu xuống, tôi thầm cám ơn ông bà mẹ nuôi đã dạy giỗ con gái tôi nên người, dạy cách ăn nói khôn khéo và lễ phép. Tân thấy mẹ yêu thích bạn thì mừng lắm, chàng mỉm cười nhìn Thuận Khanh. Tôi giữ Thuận Khanh ở lại ăn cơm. Lần đầu tiên tôi được nấu cơm cho con gái tôi ăn. Tôi hỏi thăm sơ qua về những ngày đã qua của Thuận Khanh, tôi tránh những chi tiết sợ con gái nghĩ tôi tò mò. Cám ơn Trời Phật đã giúp cho mẹ con tôi được gặp lại nhau/.
.
Khi Thuận Khanh ra về tôi hỏi con trai tôi chương trình dự trù như thế nào, Tân cho tôi biết tháng sau chúng định làm đám hỏi và 4 tháng nữa sẽ làm đám cưới. Thuận Khanh muốn lo sớm vì mẹ đã già, muốn cho mẹ được vui.
Ngày đám hỏi qua đi một cách thuận lợi. Người mẹ nuôi của con gái tôi không nhận ra tôi. Có lẽ bà không ngờ một cô gái nghèo khổ ngày xưa nay là thông gia với bà. Tôi nhận ra bà Thuận nhưng vẫn giữ im lặng không cho ai biết chuyện tôi là mẹ đẻ của Thuận Khanh để cho các con tôi không phải bận tâm và tránh gây nên sự buồn phiền cho bà mẹ nuôi, một ân nhân của tôi. Tôi rất vui mừng sửa soạn đám cưới cho con. Tôi hồi hộp lo đến ngày đám cưới vừa cho con gái vừa cho con chồng. .

Bốn tháng qua đi thật mau. Đám cưới của các con tôi tổ chức rất trọng thể. Gần 700 quan khách tham dự. Con gái tôi lộng lẫy trong bộ áo cưới. Có nhiều người đã nhận xét là mẹ chồng với con dâu trông rất giống nhau như hai mẹ con, chắc là sẽ hợp với nhau lắm. Tôi vui mừng nghĩ ngợi từ nay con gái tôi sẽ được ở chung nhà với tôi, và tôi sẽ dành hết thì giờ săn sóc con gái tôi. Văng vẳng bên tai như lúc nào cũng nghe thấy lời chúc mừng hạnh phúc…

Đám cưới xong hai con đi hưởng tuần trăng mật, tôi ở nhà một mình. Vì quá lo lắng và bận rộn cho ngày đám cưới nên tôi thấy trong người hơi mệt. Tôi sợ có vấn đề về tim như trước nên đi khám bác sĩ gia đình nhưng khi đến nơi mới biết bác sĩ đã đi nghỉ hè và ông nhờ người khác tạm thay thế vài ngày. Vì đến trễ và không có hẹn trước nên tôi là người được khám sau cùng. Cô y tá cân đo và thử nhiệt độ. Nhịp tim và nhiệt độ của tôi bình thường. Tôi ngồi trong phòng đợi một lúc thì Thuấn mở cửa bước vào. Bất ngờ gặp Thuấn tôi kêu lên: “Anh!”. Thuấn cũng ngạc nhiên, ôm chầm lấy tôi: “Em ! Không ngờ gặp em ở đây, anh mừng quá !”. Thuấn kể lể những sự nhớ nhung và xin tôi tha lỗi. Thuấn nói : “Anh không ngờ mình đã có con với nhau. Từ ngày nghe bác sĩ Toản nói chuyện về em anh buồn và ân hận quá. Khi đẻ chỉ có một mình em làm sao xoay xở…”. Tôi bảo Thuấn : “ Hãy quên đi ngày tháng cũ”. Bây giờ mỗi người có một cuộc sống riêng, còn gặp nhau và quý nhau là đủ rồi. Tôi không oán hận ai cả, chỉ mong mọi chuyện cho qua đi. Thuấn hỏi tôi về con gái chúng tôi, tôi nói Thuận Khanh bây giờ rất hạnh phúc nhưng chuyện hơi dài, sẽ nói cho Thuấn sau. Thuấn rất mừng khi thấy tên con gái là tên Thuấn và tên Khánh hợp lại. Biết tôi bây giờ vẫn còn độc thân nên Thuấn đề nghị cùng chàng tái hợp. Mặc dù vẫn còn yêu Thuấn nhưng tôi rất ngại, một lần chia tay đã quá khổ rồi, bây giờ tôi đang sống yên ổn và hạnh phúc với con gái mới tìm được, tôi không muốn có sự xáo trộn trong đời sống nên đã từ chối. Không được tôi chấp thuận Thuấn có vẻ thất vọng. Một lúc sau Thuấn hỏi thăm về mẹ tôi, khi biết mẹ tôi đã qua đời chàng cúi đầu xuống che dấu sự xúc động rồi cho biết bà Đạm bây giờ bệnh tình rất nặng, sức khoẻ được tính từng ngày. Bà đang nằm trong bệnh viện, nếu được tôi bỏ qua chuyện cũ thì bà mừng lắm. Thuấn gợi ý muốn tôi đến bệnh viện thăm bà Đạm, tôi nhận lời. .

Hôm sau tôi đến bệnh viện thấy Thuấn và vợ chồng Minh Thư đã ở đó. Minh Thư gặp tôi rất mừng . Minh Thư hỏi thăm tôi và cho địa chỉ mời đến nhà chơi. Hàn huyên một lúc, Thuấn và vợ chồng Minh Thư ra ngoài cho tôi nói chuyện với bà Đạm. Tôi cầm bàn tay gầy yếu của bà và hỏi
- Bà còn nhớ cháu không, cháu là Ngân Khánh đây?
Bà Đạm thều thào:
Ngân Khánh ! Làm sao tôi quên được cháu. Mong cháu tha lỗi cho tôi. Vì tôi quá nghiêm khắc mà mẹ con cháu phải khổ. Tôi cũng nghe tin bà Tư đã qua đời. Tội nghiệp bà Tư. Thôi tôi sẽ gặp bà ở bên kia thế giới để xin lỗi bà vậy.
Bà Đạm tiếp:
- Ông trời đã phạt tôi. Có đứa cháu duy nhất thì hất hủi nó, bây giờ tôi không có cháu nào ở bên cả. Vợ chồng Minh Thư lấy nhau lâu rồi vẫn chưa có con.
Nói xong nước mắt bà trào ra vì ân hận khiến tôi cũng buồn lây. Giọng bà run run tiếp
Tôi không sống được nữa và sắp phải ra đi. Tôi xin cháu một điều không biết cháu có thể giúp tôi không ?
Tôi lắc tay bà Đạm
Bà Đạm cố lấy sức lực còn lại nói ngắt quãng từng câu
-Bác mong cháu nhận lời tái hợp với con trai bác, có như vậy bác mới yên tâm ra đi. Thuấn yêu cháu lắm. Thuấn đã lấy vợ nhưng lúc nào cũng nghĩ đến cháu nên hai vợ chồng đã bỏ nhau
Đôi mắt bà Đạm yếu đuối nhìn tôi như cầu xin. Tôi thấy thương bà như mẹ. Gần 10 năm ở với nhau tình cảm dù sao cũng đã sâu đậm, thật khó có thể từ chối lời yêu cầu của một người sắp lìa đời như bà. Tôi im lặng suy nghĩ giây lát rồi nói trong xúc động:
-Vâng, con xin nghe lời bác.
.
Bà Đạm mỉm cười, mắt bà mở hé ra như thầm cám ơn tôi. Giữa lúc đó Thuấn và vợ chồng Minh Thư đi vào. Bà Đạm cầm bàn tay Thuấn để lên bàn tay tôi, một lúc sau mắt bà nhắm lại và hơi thở yếu dần. Y tá vội vàng gọi bác sĩ. Tôi và Thuấn đứng cách ra xa cho y tá làm việc. Tôi lau nước mắt cho Thuấn rồi nắm chặt tay chàng,nghẹn ngào nhìn bà Đạm từ từ lịm đi…
.
Hoàng Nguyên Linh.






Photo: Người chiến sĩ vô danh .
Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh


Nguyên Nhung

Anh là một phóng viên chiến trường, ngoài phần lương khô và vật dụng cá nhân trong ba lô mang trên lưng như bao nhiêu người lính khác, anh còn phải đeo lủng lẳng chiếc máy quay phim và cái caméra trước ngực.

Hành trang anh chỉ có thế, mũ sắt trên đầu, cuốn sổ tay trong chiếc túi áo có nắp gắn hai chữ Báo Chí, hai tấm thẻ bài, một bộ râu tua tuả vì đã mấy ngày anh theo đoàn quân tiến vào trận địa. Người lính ra chiến trường đã có cây súng làm bạn, riêng anh, người phóng viên chiến trường đi vào vùng lửa đạn, chỉ vỏn vẹn có chiếc máy quay phim, đã ghi lại biết bao nhiêu hình ảnh trung thực của người lính sống thời chiến chinh gian khổ, trên mọi nẻo đường của đất nước.
.
Tiếng đạn bay líu chíu ngang đầu, anh thầm nghĩ : " Không biết sống chết lúc nào ". Chiếc máy quay phim đã thu vào bao nhiêu thước phim giữa mặt trận khi nóng bỏng, lúc âm ỉ đến lạnh người. Ðoàn quân lầm lũi tiến vào rừng dừa trước mặt, phân tán mỏng theo lệnh người sĩ quan chỉ huy. Những bóng người lầm lũi bước , đôi giày vải ướt sũng trên thửa ruộng sâm sấp nước, đói và mệt, chiếc ba lô trên vai anh như nặng trĩu xuống. Trong bóng chiều nhập nhoạng, thần chết như rập rình chiếc lưỡi hái trên thân phận người lính, cơn mưa chiều luồn những giọt tái tê vào lòng người chiến sĩ. . . * * * Anh nhớ lại trận đánh ở vùng Thới Lai, Cờ Ðỏ vào mùa mưa năm trước, trong một vùng dầy đặc những cỏ lác và sông rạch. Không phải lần nào quân ta cũng thắng. Ðêm ấy, anh bị mất phương hướng, giữa bóng đêm chập chùng và ánh trăng khuya mờ ảo, anh lần mò ra được đường cái, ở đấy có một ngôi chuà nằm chơ vơ ven quốc lộ. Dưới ánh trăng mờ, ngôi chùa âm u không một ánh đèn, không một tiếng chuông tiếng mõ, chỉ có mùi dìu dịu của hoa sứ phảng phất giữa đêm khuya. Ðã mấy ngày mà trận đánh chưa kết thúc, sự yên tĩnh tạm thời để chờ một cuộc đụng độ tiếp theo, dân chúng hầu như đã tản cư ra quận lỵ, hoặc chạy theo phía bên kia vào những làng mạc xa hơn.
.
Ngôi chùa tương đối nằm ở khu khá yên tĩnh giữa hai lằn đạn, nhưng không có bóng dáng người dân nào ở đó. Trong bóng tối mờ mờ và yên lặng, anh lần mò men theo bụi cây trước cổng chùa, anh nhìn thấy nhiều thân người nằm la liệt trên sân, im lặng như một bãi tha ma. Họ đang ngủ, quá mệt mỏi cho nên anh chỉ kịp cởi ba lô vứt xuống đất, rồi cứ thế nằm vật xuống bên cạnh một người lính. Anh cần ngủ hơn tất cả mọi thứ trên đời, dù chưa ăn uống gì nhưng anh không cảm thấy đói, và chỉ có giấc ngủ mới làm anh tạm quên đi tiếng đạn réo, tiếng bom rơi, tiếng đại bác rền rĩ trong những giờ phút căng thẳng của chiến trường. Anh thiếp đi thật mau, trong lúc ngủ mê hình như anh có đạp chân vào người lính kế bên nhưng không nghe tiếng chửi thề. Hạnh phúc nhất của người lính có lẽ là những phút giây hiện tại, tạm quên đi nỗi nguy hiểm, cận kề với nỗi chết.
.
Chưa bao giờ anh có một giấc ngủ ngon lành đến thế. Không chiêm bao mộng mị, không giường, không chiếu, chỉ có một mặt đất ẩm lạnh và bầu trời nhấp nháy sao đêm. Gió đêm như được ướp mùi hương của những bông hoa sứ làm loãng đi mùi gì tanh tanh giống như mùi máu.
Sáng ra, ánh mặt trời rọi vào mặt anh khiến anh thức giấc, chim chóc hót líu lo chào một ngày vừa lên, sự sống của muôn loài vẫn diễn ra bình dị mỗi ngày dù chiến tranh và sự chết đang hiện diện quanh quất, đó đây. Anh hoàn toàn tỉnh giấc, thèm một ly cà phê và điếu thuốc thơm buổi sáng. Anh lạ lùng ngó đám người nằm ngủ trên sân chuà, chợt một cảm giác lạnh toát chạy dài trên sốùng lưng người lính. Giờ thì anh đã hiểu, đêm qua anh đã ngủ một giấc ngủ tròn trịa và yên bình bên những người lính tử trận, xác họ ngày hôm nay sẽ được chở về nhà xác trên tỉnh lỵ, chờ thân nhân đến nhận.
.
" Không phải lúc nào ta cũng thắng ", anh nghĩ như vậy khi nhìn những tử thi nằm lạnh lẽo suốt đêm trên sân chùa. Chiến tranh là vậy, thắng hay thua thì bên nào cũng có người nằm xuống, có những giọt nước mắt của mẹ già, vợ dại, con thơ, chỉ có điều thật buồn khi tất cả đều là người Việt Nam. Anh nghe có tiếng bước chân nhẹ nhàng của một tà áo đà lướt bên hiên chùa, và mùi nhang thoảng bay trong gió. Một vị sư già có lẽ là người duy nhất còn lại nơi đây, đang cầm một nắm nhang ra cắm xuống trước những thây người nằm la liệt dưới sân chùa, miệng lầm rầm niệm Phật. Ðôi mắt nhà sư thoáng một vẻ ngơ ngác và sợ hãi, khi nhìn thấy một người sống đang ngồi thu lu giữa đám người chết, cả hai cùng im lặng không nói được lời nào. * * * Năm 1969, anh theo cuộc hành quân miền biên giới giữa Campuchia và Việt Nam, Cộng quân đang cố thủ trong vùng núi Cô Tô, Châu Ðốc. Người phóng viên chiến trường hơn ba mươi tuổi, đang độ chín mùi của nghề nghiệp, hăng say lao vào vùng lửa đạn khi Cộng quân dùng Campuchia làm bàn đạp thôn tính miền Nam.
.
Gia đình anh gốc gác miền Bắc, cả một thời ấu thơ và thanh niên anh gắn bó với quê nhà, may mà năm 1954 anh nhanh chân chạy thoát. Bố anh chết ngay năm đó, tất cả gia tài, sự nghiệp bỗng dưng mất hết trong một ngày khiến người cha phẫn chí mà chết. Mẹ anh dẫn ba đứa em dại, đầu quấn khăn tang lếch thếch lên chuyến tàu há mồm xuôi Nam. Một cuộn phim của dĩ vãng vừa hiện về trong trí anh, căn nhà gạch hai gian bề thế phố Cửa Tiền, rặng bàng trước cửa, hoa gạo đỏ mùa hè, giếng nước Tiền Hùng, cái ao sau nhà xanh um khóm chuối ngự. Cả một tuổi thơ đầm ấm và mối tình đầu tuổi thanh xuân nằm lại sau lưng cho một tất tả bỏ chạy.
.
Từ trên máy bay trực thăng anh nhảy xuống theo gót chân người sĩ quan chỉ huy, máy quay phim chạy rè rè thâu vào hình ảnh núi non chất ngất, những người lính chạy lúp xúp nép vào những bờ đá cao tiến tới. Ðịch bắn ra như mưa, viên đạn đi ngọt như cắt từ một hốc núi bay thẳng tới ngực anh, anh chưa thấy đau vì tầm đạn đi nhanh quá khiến anh ê ẩm như bị một viên gạch ném tới đột ngột. Cho đến khi anh thấy ấm ấm và rát bỏng trên ngực áo, máu đã ướt thẫm hai chữ Báo Chí trên chiếc áo nhà binh. Anh loạng choạng ngã xuống với thước phim đang quay dở, chỉ kịp nhìn thấy loà nhoà hình ảnh người lính cứu thương bế anh lên chiếc trực thăng tải thương, đang phần phật đôi cánh quạt trên một vùng cỏ xanh.
.
Lần ấy viên đạn đi cách tim anh khoảng hai cm, nếu không giải phẫu kịp, máu ứ đầy phổi có lẽ anh đã nằm xuống ngay tuổi ngoài ba mươi . Anh thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, phải nằm trong Quân y viện mấy tháng trời, để được nhìn thấy sự hi sinh và đau đớn tận cùng của người lính trong thời chiến.Những hình ảnh ấy vương vấn trong hồn anh, mãi mãi về sau, để tim anh vẫn thắt lại khi hôm nào bất chợt nhìn thấy trên vỉa hè, người thương binh lê đôi nạng gỗ, khập khễnh bước khi đôi mắt chất chứa nỗi bất hạnh cho cả một tương lai. * * * Năm 1972, mặt trận lại sôi động ở vùng biển Long Toàn, Trà Vinh. Bom đạn rền rền át cả tiếng sóng biển rì rào, người dân Khờ Me sống ở những làng mạc hiền hoà với chuà chiền cổ kính, lại vội vã bỏ vùng quê đi lánh bom đạn. Nhà cửa đổ nát, vườn tược tan hoang, anh ứa lệ nhìn hai đứa bé lạc mẹ, mặt mày nhem nhếch nước mắt, nước mũi giữa cảnh khói lửa tơi bời. Giữa vùng giao tranh, chỉ có lằn đạn líu chíu trên đầu người thường dân vô tội, quê hương mình sao khốn khổ đến thế. Anh nhớ lại một ngày năm 54, năm ấy anh mới mười tám tuổi và đứa em út mới lên sáu, mẹ anh trắng hai bàn tay làm lại cuộc đời trên miền Nam tự do. Những buổi chiều gió mưa, mẹ con ngậm ngùi nhớ về quê nhà. Khu phố êm ả có rặng bàng trở màu khi mùa thu đến, những buổi chợ phiên người trong các làng quê kĩu kịt gánh hàng ra chợ Nghệ. Người phóng viên chiến trường đâu phải lúc nào cũng ngồi trên máy bay, đâu phải lúc nào cũng theo đuôi Tư lệnh để quay cảnh chiến thắng, gắn huy chương lên ngực áo người chiến sĩ. Anh đã phải ngắm nhìn chiến tranh như phải xem một bức tranh vẽ bằng máu, thâu vào hình ảnh và sự chiến đấu cam go của người lính nơi vùng lửa đạn. Trong khi ấy, chiến tranh quả là khó hiểu, những bàn tay dấu mặt như mụ phù thuỷ đang vẽ vời những lời nguyền ruả sấm sét xuống quê hương anh. Chiến trường này tiếp nối đến chiến trường khác, những cuộc hành quân liên miên từ tháng này qua tháng nọ, nghĩ đến đời sống gian khổ của người lính trong vùng đóng quân đầy những rủi ro bất trắc, anh chỉ ao ước một ngày nào chiến tranh chấm dứt. Một ngày nào đó những thước phim của anh chỉ là hình ảnh nụ cười dễ thương của trẻ thơ, là nét mặt vui tươi của người lính giữa khung cảnh ấm cúng của gia đình, là đôi mắt hấp háy của mẹ già không ứa lệ, khi đêm đêm vẫn thì thầm cầu nguyện sự an bình cho những đứa con.
.
Anh phóng viên chiến trường giơ ống kính lên, thâu bằng cận ảnh hai khuôn mặt ngây thơ, bốn con mắt ngơ ngác giữa khói lửa mịt mù của hai đứa trẻ thơ mà anh bắt gặp, khi cuộc chiến không bao giờ tính toán được sự bi thảm của nó. Những đôi mắt trẻ thơ sợ hãi, ngác ngơ khi địch quân dùng khu vực nhà dân làm bàn đạp để tiến quân, hai đứa bé còn lại khi cha mẹ chúng có thể đã ngã xuống bởi những lằn đạn vô tình. Tình cảm giữa người và người bắt anh phải quên đi những thước phim, những tấm hình giá trị khi lọt vào tay bọn thông tấn nước ngoài. Hai tay bế hai đứa bé anh băng ra khỏi khu nhà đang rần rật cháy, giờ phút ấy anh chỉ có một ý nghĩ phải mang hai đứa bé ra khỏi vùng giao tranh, dù có thể lãnh một viên đạn của đối phương.
.
Suốt một đời làm lính và xông pha nơi những chiến trường nóng bỏng, anh phóng viên chiến trường đã bao phen đối mặt với tử thần. Anh còn bị thương một lần nữa trước khi chiến tranh kết thúc, chiếc máy bay trực thăng bị hỏa tiễn tầm nhiệt bắn trúng đằng sau đuôi, như một khối sắt khổng lồ rớt xuống cánh đồng ngập nước vùng Ðồng Tháp Mười. May là Thượng đế đã che chở anh, đã cho anh trở về với một xác thân lành lặn.
.
Ngày chiến tranh kết thúc, một kết thúc bi thảm khiến anh hụt hẫng. Người lính bại trận trở về miền quê với những vết đau âm ỉ mỗi lần nhớ đến bạn đồng đội cũ. Trong những chiều gió mưa, lòng anh bùi ngùi khi hồi tưởng đến một khoảnh khắc nào đó, bóng dáng những người lính năm xưa giờ như những bóng ma buồn bã trong dĩ vãng, và anh lặng lẽ nghe những giọt nước mắt buồn tủi chảy ngược vào tim buốt lạnh.
.
Từ đây cuộc đời bắt đầu là những chia xa, bạn bè anh tan tác mỗi người mỗi nơi mỗi ngả. Có những người nằm xuống trong giờ thứ 25 của cuộc chiến, đã bị quên lãng với mồ hoang mả lạc. Có những người ra đi làm những cánh chim cô đơn, gậm nhấm nỗi sầu vong quốc. Có những người đi vào chốn lao tù với đói khát triền miên, khi trở về chỉ là những chiếc bóng ngác ngơ , sợ hãi cả những bước chân của chính mình. * * * Sau hai mươi năm ngày chiến tranh kết thúc, người phóng viên chiến trường năm xưa nay đã già, ngồi bán cá kiểng, cá đá cho trẻ con trước khuôn viên một trường tiểu học, cạnh ngôi giáo đường cổ kính. Mỗi lần nghe tiếng chuông ngân ban chiều, anh lại thì thầm đọc mấy câu kinh cho những linh hồn đã khuất. Gia tài của anh chỉ có một hồ cá bằng thủy tinh với những con cá đủ màu bơi lội nhởn nhơ. Cả một xã hội cá quây quần bên nhau lượn lờ tranh sống, những cọng rong xanh, vài con lăng quăng sót lại từ bữa ăn chiều. Anh chép miệng, bầy cá đã no rồi, chứ lúc đói chúng nó cũng tranh nhau đớp mồi như đám người khốn khổ chen nhau chờ phát chẩn. Lúc này anh đâm lẩn thẩn như thế, chuyện cá chuyện người cứ lẫn lộn trong con mắt người phóng viên đã hết thời
.
Lúc ấy trời đã về chiều, hai đứa bé đánh giày độ trên mười tuổi vào hàng, ngắm nghía mấy con cá lia thia được rọng riêng trong những chiếc keo thủy tinh trên bệ gỗ, giữa mỗi cái keo đều có một tấm giấy cứng để che cho chúng khỏi nhìn thấy mặt nhau. Mỗi đứa chọn một con, chúng thò tay vào túi lôi ra những đồng tiền nhàu nát, đưa cho người bán cá. Hai thằng nhỏ bày ra cuộc đá cá ngay cửa hàng của người bán cá, tự nhiên anh cũng cảm thấy hào hứng muốn theo giõi trận đá cá của hai đứa trẻ con. Không biết ở đâu lố nhố mấy đưá trẻ nữa quần áo bẩn thỉu, chân đi đất, xúm vào bu xung quanh hai thằng nhỏ đánh giày, khiến anh tự nhiên hồi hộp như ngày xưa mỗi lần theo đoàn quân vào vùng lửa đạn.
.
Hai con cá trong một cái keo, không biết thù nhau tự kiếp nào xông vào nhau, hai cái thân cá mình xanh vây đỏ lúc ấy phồng lên những chiếc vảy óng ánh, mình chúng như to ra qua thành thuỷ tinh, xoắn lấy nhau đẩy ra những cú húc tơi tả. Lũ trẻ vây xung quanh nín thở, hai con cá lia thia mê mải tấn công nhau, thỉnh thoảng chiếc mỏ cá lại va vào thành keo đau điếng. Sau một lúc quần nhau dữ dội, một con như ngộp thở ngoi lên mặt nước hớp không khí, cái mình cá vẩy óng ánh màu xanh nay đã nhợt nhạt như màu miếng vỏ dưa cố chạy thoát thân, lũ trẻ đứng bên ngoài vỗ tay hét rộ lên những tràng cười khoái chí. .
.
Tan cuộc, hai thằng nhỏ đánh giày bỏ hai con cá cho người bán cá, bưng hộp đồ nghề đi về ngả thành phố, chỗ hotel và mấy quán rượu có đông người ngoại quốc và đám Việt kiều về thăm quê. Trời giăng giăng những đám mây đen khiến phố xá chừng như tối xầm lại, bất giác anh chợt nhớ đến cơn mưa đầu mùa của tháng tư năm nào làm lòng quặn lên một nỗi buồn. Tự nhiên, người phóng viên chiến trường năm xưa cảm thấy ngùi ngùi, tưởng mình như con cá bại trận manh giáp tả tơi, bị vứt lại bên lề đường một cách thảm thương.
.
Tội nghiệp anh, những cuộn phim của dĩ vãng như run rẩy theo làn khói thuốc, anh bập hoài điếu thuốc đen trên môi, những móng tay cáu vàng ám khói. Cơn mưa chiều đột ngột đổ xuống rơi lộp độp trên tấm poncho nhà binh che trên vỉa hè, gõ những nhịp trống vào đầu anh khiến anh nghĩ đến những cơn mưa nơi vùng hành quân năm xưa, khi anh còn là một người lính. Anh tưởng tượng lát nữa đây khi về nhà, với âm thanh hùng hồn của một ngày nào rất xa, anh sẽ tường thuật cho đứa cháu ngoại nghe trận đá cá chiều hôm nay trước cửa trường học. Hai con cá cùng một loại đá nhau chí tử, một con thắng nhưng cũng ê ẩm, lòng vòng trong chiếc keo thuỷ tinh chật hẹp, không hi vọng đá nổi một trận nữa, một con bại anh quăng ra mặt đường, đã nát mình dưới những vòng xe lăn.
.
Phố đã lên đèn, anh thu dọn cửa hàng để về nhà mà lòng nặng trĩu một nỗi buồn không tên tuổi. Anh phóng viên chiến trường năm xưa thì thầm nói với mình, " Hơn hai mươi năm rồi, chẳng biết còn ai nhớ đến mình không nhỉ ? "
.
Viết cho anh tôi, một phóng viên chiến trường.

NGUYÊN NHUNG.
.

Monday, June 1, 2009


Tài Nguyên Đất Nước!
Của Cải Dành Cho Con Cháu
Không Kẻ Nào Được Phép Tùy Tiện
Như Hà
.
Người ta thường ví tài nguyên đất nước nhu một thứ của chìm trong một gia đình mà thế hệ cha ông muốn cất giữ nhằm để lại cho con chau mai sau.
.
Nó chỉ được đưa ra sử dụng khi gặp hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu.Một kẻ biết liêm sỉ thì phải biết ý thức gìn giữ của cải ông cha để lại. Dù cho đói khổ khó khăn cũng không bao giờ dám bán đi. Còn kẻ ngu si, dốt nát ăn tàn phá hại, tham lam và lười biếng chỉ mong ngóng, đón chờ của cải ông cha để lại đến tay mình để đem ra thoả thích tiêu xài hoang phí.
.
Suy rộng ra một quốc gia cũng vậy! Hãy xem một quốc gia hợp chủng quốc như Hoa Kỳ có đủ các dân tộc sắc tộc trên thế giới đến cư ngụ. Vậy mà họ còn ý thức đựoc việc gìn giữ bảo quản khai thác tài nguyên. Ngay như dầu mỏ là thứ tài nguyên họ tiêu dùng nhiều nhất trên thế giới, với một vùng Alatca và Texast rộng lớn với nhiều mỏ dầu có trữ lượng lớn. Vậy mà họ còn hết sức dè xẻn trong việc quản lý khai thác,. Chỉ cho phép các công ty khai thác theo hạn mức qui định, cho dù có những thời điểm giá dầu thế giới tăng lên vùn vụt. Thậm chí họ còn mua về để dự trữ trong các giếng dầu của họ.Vì họ biết rằng, cái tài nguyên đó nó không phải là kho lẫm vô tận, miêng ăn nuí lở. Nếu hôm nay móc lên ăn hết, thì cũng có nghĩ là đã ăn lẹm vào phần của con cháu mai sau. Cho dù con cháu đó của họ không cùng một nguồn gốc.
.
Lòng tự trọng của những con người có trách nhiệm cộng với một chế độ do người dân làm chủ, coi tài sản quốc gia là của chung thì chắc chắn họ sẽ có những tính toán đúng, để giành của cho thế hệ sau.
.
Nhìn người lại ngẫm đến ta...thì sao?????Khi nhìn lại tài nguyên đất nước nhân cái cái vụ Bauxite tây nguyên đang diễn ra sự phản kháng mạnh mẽ của mọi thành phần, nhất là giới nhân sĩ trí thức để liên hệ và ngẫm nghĩ càng thấy "Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa" về cái đất nước đau thương và nghèo khổ này, khi nhìn thấy cái cảnh người ta cứ vô tư hàng ngày hàng giờ xà xẻo cái của để dành của con cháu để ăn, để chơi, để phá một cách không thưong tiếc...Những người dù vô lo vô nghĩ nhất, nhưng khi nhìn lại tình cảnh đát nước hiện nay, không khỏi không thấy giật mình đau xót!!! Đâu đâu cũng thấy cái cảnh hoang tàn do sự tàn phá của bàn tay con người, mà ở đây thủ phạm là nhà cầm quyền CSVN...
.
Chúng ta hãy xem... từ dầu mỏ cho đến than đá đang ngày một cạn kiệt... từ Mỏ sắt mỏ đồng, mỏ thiếc cho tới...nguy cơ Bauxite ở tây nguyên, đang đứng trước hoạ tồn vong....Từ những cánh rằng già bạt ngàn nay đã trở thành "trọc hoá". Từ những cánh đồng tươi tốt màu mỡ xưa kia, nay đang có nguy cơ bị bạc màu, trở thành những cánh đồng chết, không còn sự tồn tại của các loài côn trùng, lưỡng cư cộng sinh...Từ những dòng sông bị ô nhiễm nặng nề cho tới hơn 3200 cây số bờ biển, những thảm thực vật và động vật biển phong phí đa dạng, nay cũng bị phá hoại một cách nghiêm trọng do cách đánh bắt có tính huỷ diệt bằng lưới cào, lưới vét và các loại chất nổ....
.
Càng ngẫm lại càng căn giận cho cái lũ người vô lại, xuất thân từ những tên hoạn lợn, những kẻ võ biền trộm cướp...rồi đến lũ con cháu của họ đã tàn phá cái đất nước này một cách toàn diện.Có lẽ sau này ngoài việc lên án chế độ CS đã gây ra những thảm cảnh chiến tranh chia ly thù hận, thì việc bóc trần, ghi thêm tội ác phá hoại tài nguyên đất nước của họ trong sử sách như một tội ác chống lại dân tộc là điều không tránh khỏi.
.
Điểm lại suốt hơn 60 năm cai trị đất nước, chúng ta thấy ngoài chính sách cai trị tàn bạo đối với nhân dân, thì chính sách khai thác vơ vét tài nguyên của chế độ độc tài CSVN còn tàn bạo và khốc liệt hơn rất nhiều so với chế độ thực dân xưa kia.
.
Qua bài viết này tôi chỉ nêu ra một số dẫn chứng điển hình để nêu bật "thành tích" của đảng CSVN trong những năm qua tạo dựng lên:Rừng ơi! Nay còn đâu nữaTrước hết chúng ta hãy điểm lại tài nguyên rừng đã bị họ tàn phá ra sao. Sau năm 1975 diện tích rừng khi kết thúc chiến tranh vẫn bao phủ 3/4 diên tích đất. Tương đương với 75% diện tích với những cánh rừng già bạt ngàn, trong đó bao gồm rất nhiều tài nguyên thực vật và động vật quí hiếm. Mặc dù trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, nhưng Tây nguyên vẫn là vùng đất của rừng núi với những đặc trưng văn hoá của các dân tộc tây nguyên đã gắn bó với núi rừng như thể máu thịt. Những loaì gỗ quí có tính đặc trưng như Cầm lai Cẩm vân, trắc, bách, diệp, mun, gụ vv...
.
Vậy mà chỉ sau chưa đầy 20 năm, rừng đã bị tàn phá chỉ còn chưa đầy 50%. Thê thảm nhất có lẽ là rừng tây nguyên. Gần như hiện nay rừng đã bị xoá sổ, kèm theo nếp văn hoá đặc trưng về mùa săn voi của người bản sứ cũg bị triệt tiêu, một nền văn hoá đặc sắc cồng chiêng cũng bị mai một. Có một câu chuyện tiếu lâm cười ra nước mắt, khi người ta kể về câu chuyện báo cáo "hoàn thành kế hoạch" của đảng và nhà nước đã đạt thành tích vẻ vang là sau kế hoạch 5 năm lần thứ hai, chúng ta đã cơ bản phá xong rừng, tạo lên vành đai vững chắc tuyến an ninh rừng biên giới vùng cao và hải đảo. Người ta không hiểu rừng có nguy hiểm gì đến an ninh quốc gia mà phải phá???
.
Hoá ra là đảng ta đề phòng các ổ nhóm phản động lấy rừng làm nơi trú ngụ để chống phá cách mạng, chống phá chính quyền nhân dân!!! Một điều thật trở trêu và oái oăm, thù phạm của kẻ phá rừng lại suốt ngày ra rả kêu cứu rừng mới thật là nực cười làm sao! Thử hỏi gỗ rừng bị khai thác đem đi đâu, để làm gì? Phải chăng người dân phá rừng để lấy củi đun? Xin thưa 100% là không, mà họ phá rừng để đem về những cơ sở sản xuất ra những đồ gỗ gia dụng dùng cho sử dụng gia đình. Từ bàn ghế giường tủ, cho đến những bộ khung cửa, cửa các loại với nhiều giá tiền khác nhau. Nhưng cho dù giá có khác nhau nhưng nó là thứ hàng tiêu dùng xa xỉ mà người dân thường cả đời không dám mơ ước đến bộ ghế có giá hàng chục triệu đồng, Những bộ cửa hàng triệu đồng/m2 ???
.
Hiện nay loại đồ gỗ dàng cho họ là những loại ván gỗ ép nhân tạoVậy ai? Những gia đình nào được sử dụng những đồ gỗ xịn có chất lượng cao???Xin thưa là quan chức. Chỉ có quan chức nhà nước mới có đủ tiền, đủ lực để mua săm những bộ bàn ghế có giá từ 30 triệu cho đến hàng trăm triệu đồng mà thôi.Họ sẵn sàng chơi trội với những bộ cửa Đinh, Lim có giá 2-3 triệu đồng /m2, những bộ khuôn cửa có giá 4- triệu, khoảng 5-600 nghìn đồng 1md..Vậy đấy cái chân họ dẫm phải..c..dề dề ra như vậy, nhưng họ lại có cái quyền cầm duốc để đi soi chân lũ dân đen, xem thằng nào dẫm phải mà thối thế.
.
Cũng như vậy, việc săn bắt động vật rừng quí hiếm. Những quán nhậu đặc sản chỉ dành riêng cho các quan chức, viên chức nhà nước, chứ người dân nào dám bén mảng tới những nơi có thịt thú rừng để thưởng thức, ngay cả đi qua quán để ngửi hơi họ cũng không dám mơ ước, khi mà chi cho một bữa thịt thú rừng bằng cả một năm họ làm lụng quần quật vất vả!!!
.
Thế mà kẻ cuối cùng chịu tội thay lại là bọn lâm tặc! Bọn lâm tặc chỉ là kẻ thừa sai, chiụ tội thay cho ông chủ quan chức mà thôi. Cái đau đớn ở đây là kẻ phạm tội lại là kẻ to mồm nhất, có nhiều quyền lực nhất, suốt ngày ra rả lôi lâm tặc ra để chửi.Người ta ước tính nếu có thể tái tạo đựoc những khu rừng nguyên sinh như xưa, phải mất khoảng 200 năm với chi phí hàng nghìn tỉ đôla. Một ước tính viển vông, nhưng tội ác phá hoại này chắc chắn sẽ được ghi vào sử sách chứ không phải là viển vông. Họ không những đã ăn lẹm vào phần của con cháu mà còn gây lên thảm cảnh môi trường, khi hậu, do sự biến đổi hệ sinh thái quan trong là tài nguyên rừng. Cho đến thảm trạng tài nguyên khoáng sản hiện nay
.
Hẳn mọi người còn nhớ trong kỳ họp quốc hội cuối năm 2007, ông tổng giám đốc dầu khí Trần Anh Tuấn, đã thông báo trước quốc hội về tình trạng các mỏ dầu khí đang có nguy cơ phải đóng cửa, nguyên nhân, do áp lực tăng sản lượng dầu khai thác. Lý ra theo khả năng dự trữ thì mỗi năm các mỏ dầu của Vn chỉ có thể khai thác tối đa từ 10-12 triệu tấn, thì người ta đã đề ra chỉ tiêu, ép các nhà khai thác lên đến 20-21 triệu tấn năm, nhằm đáp ứng với chỉ tiêu thu ngân sách và lấy thành tích dâng công lên đảng, mà hậu quả là đã xảy ra hiện tượng thẩm thấu, tràn nước biển vào trong các mỏ dầu, vượt mức tiêu chuẩn kỹ thuật cho phép trong quá trình khai thác dầu lên đến gần 50%. Hệ quả tất yếu của sự ngu dốt+ tham lam đã tạo lên sự phá hoại ghê gớm.
.
Rồi trong những ngày đầu năm 2008, nếu ai là những người quan tâm đến tình hình thời sự, theo dõi báo đài, sẽ thấy một cố bài báo phản ánh về việc ông bí thư tỉnh uỷ Quang Ninh, bị các đại gia "đe doạ" vì can tội dám cản trở họ mang than đi bán sang TQ. Hoăc những ai có dịp đến vùng mỏ Quảng Ninh, sẽ chứng kiến cảnh hàng trăm con tàu với trong tải hàng trăm tấn, đêm nào cũng vậy, tập kết tài nguyên "vàng đen" của đất nước tại các cảng Cửa Ông, Cái Rồngvv.. để chuyển sang bán bên Trung Quốc. Nếu họ là những người có lương tâm ắt hẳn họ sẽ phải rùng mình khi chứng kiến cảnh nhộn nhịp của hành nghin con người chuẩn bị cho cuộc hành trình đen tối, trước giờ xuất phát mỗi khi màn đêm buông xuống. Người ta ước tính mỗi ngày có khoảng 200 chuyến tàu trọng tải 300T vận chuyển than sang TQ..vị chi là mỗi một đêm có khoảng 60 ngàn tấn than ăn cắp của con cháu mang đi bán.
.
Việc xuất chui này đã diễn ra hàng năm trời, nó chỉ đựoc dừng lại khi có ông bí thư mới lên thay, và gần đây vì lợi nhuận người ta không dừng lại, còn trắng trợn chỉ đạo cho cấp dưới lên kế hoạch khai thác than ở vùng đất phật của thiền phái Trúc Lâm thiêng liêng Yên Tử.Hơn 80 năm với sự có mặt của người Pháp, họ là những kẻ xâm lược, với mục đích khai thác tài nguyên xứ thuộc địa, không biết họ đã khai thác đựoc bao nhiêu để chở về chính quốc, chưa có số liệu chính thức. Nhưng người ta có thể ước tính đựoc những khu vực họ khai thác với những gì chế độ CS khai thác hiện nay thì sản lượng họ khai thác chưa bằng 1/10 diên tích khai thác ngày nay.
.
Đau lòng làm sao, khi xưa người trên ghế nhà trường được người ta đánh thức niềm tự hào rừng vàng biển bạc, trong đó có mỏ than Quảng Ninh với chiều dài 105km chiều rộng hơn 40km, trữ lượng ước tính hàng trăm tỉ tấn...nay chỉ còn những bãi khai thác nham nhở, trơ trọi đến thảm hại. Nghe đâu người ta lại đang có kế hoạch nhập khẩu than của Indoneixia. Có gìời mới hiểu được kiểu làm ăn không giống ai của ông CS này?????
.
Thế đấy! Sự ngu muội và tham lam của kẻ võ biền chỉ giỏi về những thủ đoạn chính trị, chỉ giởi về sự giết chóc hãm hại, nay lại giỏi về sự phá hoại, đã cướp đi một phần tài nguyên quí giá mà muôn đời con cháu chúng ta đã bị thiệt thòi thì chớ mà không có cách gì tái tạo lại đựơc.Khi tôi đang ngồi gõ máy để viết lên những dong chữ này, thì tại cửa khẩu Lào Cai vùng biên giới phía tây bắc, mỗi ngày có hàng chục xe vận tải 12 tấn chở quặng sắt, vượt sang bên kia biên giới để bán.
.
Thế mà trên những trang báo, trên đài truyền hình, người ta đang nói đến thực trạng hàng trăm ngàn tấn sắt thép đang tìm cách tràn vào Việt Nam trong thời khủng hoảng. Hoá ra một mặt người ta đang tìm cách đào bán của cải để dành cho con cháu, một mặt họ cho nhập về thứ sản phẩm đã chế biến làm ra bị ứ đọng, nguyên liệu thô của chính mình chứ không ai khác. nghịch lý đau lòng làm sao!!!Chưa hết! Hiểm hoạ Bauxíte đang đe doạ đến nhiều vấn đề mà dư luận đang quan tâm lo lắng và bức xúc. Nhưng người ta đã đi đêm với nhau hành bao năm nay. Người ta đã bí mật thoả thuận và đưa người vào khai thác cứ như thể đấy là thứ của cải riêng của đảng CSVN, việc hợp thức hoá các văn bản chỉ mang tính hình thức mà thôi.
.
Thoạt đầu họ cũng nghĩ như bao vấn đề khác, họ định dùng cái thể của kẻ cai trị để cả vú lấp miệng em, rằng "đây là chủ trương lớn của đảng ". Nhưng khi nghe chừng khó nuốt trôi...người ta lại chữa cháy bằng ngôn từ "Nhưng không phải bằng bất cứ giá nào.."Và để vỗ về dư luận và chữa cháy họ lại đưa ra cái kết luận của BCT nghe chừng có vẻ "hơi bị nhũn"nhưng đầy giảo thuật. Kèm theo là cái chỉ thị có tính "bịt mắt bắt dê" là mở cuộc kiểm tra lao động nước ngoài, tuy chưa có kết quả nhưng người ta đã đưa ra con số nực cười là có khoảng 30% người lao động nước ngoài tại Việt Nam là bất hợp pháp....Tháí thú đã có kế hoạch chu đáo, nhằm dọn đưòng cho một cuộc rút quân êm thắm trong tương lai
.
Lời kết
Cuối cùng tôi xin cám ơn kẻ xâm lược, khi mưu toan của họ có mặt tại tây nguyên không biết có động cơ gì không. Nhưng vì sự có mặt bán công khai của họ đã làm thức tỉnh lòng yêu nước của các con dân Việt Nam(vì nếu không có họ, chắc chắn còn nhiều tài nguyên khác sẽ đội nón ra đi).Cái lòng yêu nước này luôn được thể hiện hết sức nồng nàn mỗi khi có giặc ngoại xâm, là điều đáng quí có tính truyền thống của dân tộc VN. Nhưng một điều ít ai nghĩ tới sự nguy hại của tên giặc nội xâm đang phá hoại tài nguyên đất nước cũng không kém quan trọng, lại rất rộng lượng với lũ giặc nội xâm, làm ngơ với hành vi táng tận của nó, đang từng ngày, từng giờ tàn phá tài nguyên của đất nước, thứ tài sản quí giá, của hồi môn thiêng liêng mà ai cũng phải có trách nhiệm gìn giữ, mong để lại cho con cháu mai sau.Nhờ có họ, những tên xâm lược mà tôi có dịp "tạt nước theo mưa" không biết có tác động được nhiều người không.
.
Nhưng nghĩa vụ của một con dân lương thiện, thấm nhuần cái câu của các cụ xưa "Biết mà không nói cũng là có tội"!Tôi mạo muội viết lên những dòng chữ này, lên tiếng thức tỉnh mọi người hãy lên tiếng ngăn chặn âm mưu của nhà nước CSVN và cảnh tỉnh cho giới chức cầm quyền hãy dừng ngay lại, không phải là việc khai thác Bauxite mà tất cả các mỏ tài nguyên khác của đất nước. Vì đây là tài sản chung của dân tộc, một thứ tài sản thiêng liêng và qúi báu. Không một kẻ nào, một thế lực nào đựoc phép tuỳ tiện khai thác sử dụng và phải có trách nhiệm bảo quản giữ gìn, để dành cho các thế hệ mai sau!
.
Việt Nam, ngày 29/4/09
.
Như Hà


Đôi mắt người chiến sĩ VNCH
.
Thời điểm 30/4 là cái mốc thời gian mà có lẽ hầu hết những thuyền nhân tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam đều lắng tâm tư mình để hồi tưởng lại quãng đời tỵ nạn gian truân và những nguyên nhân nào đưa đến sự chọn lựa đổi đời này. Một sự chọn lựa can đảm dẫu biết rằng mình phải trả một cái giá rất đắt là cái chết của chính mình để đổi lấy hai chữ Tự Do. Một sự chọn lựa chưa từng xảy ra trong 4000 năm lịch sử Việt Nam mà trong đó gần 3 triệu người dân Việt vượt biên đi tìm tự do và gần một triệu người bỏ thây ngoài trùng dương. Cho dù đặt chân đến được bến bờ tự do vào những thời điểm khác nhau, nhưng hầu hết những ai mang thông hành tỵ nạn chính trị cũng mặc nhiên coi ngày quốc hận 30/4/1975 là Ngày Tỵ Nạn CSVN, là nguyên đưa đến sự quyết định ra đi đổi đời của mình.
.
Dù không vượt biên, đối với tôi 30/4/1975 là ngày mở đầu cuộc đời tỵ nạn CSVN của tôi nơi xứ người. Cũng vì thế ngày nào không còn bóng dáng CSVN nay biến thái thành tư bản đỏ thì ngày đó trong tâm hồn tôi mới rũ sạch màu áo tỵ nạn. Tôi muốn nhấn mạnh sáu chữ Tỵ nạn CSVN chứ không phải là tỵ nạn kinh tế mà nhà cầm quyền CSVN cố tình xuyên tạc để bôi nhọ chính nghiã của chúng ta. Trong ngày tưởng niệm 33 năm quốc hận 30/4/1975 năm nay, tôi muốn trải lòng mình viết về một người chiến sĩ vô danh trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Tôi muốn ghi lại trên trang giấy này ánh mắt anh, đối với tôi là biểu tượng cho sự âm thầm hy sinh cao cả của tập thể chiến binh VNCH để bảo vệ từng tấc đất, từng giây phút sống an lành cho người dân miền Nam. Ánh mắt nhiệm mầu đã thay đổi cuộc đời của một người con gái từ sống vô tư vị kỷ quay sang con đường đấu tranh khá xa lạ đối với phái nữ.
.
Người ta bảo ánh mắt là cửa sổ tâm hồn cũng không sai. Chỉ cần nhìn ánh mắt của một người là ta có thể đoán được một phần nào cá tính, lòng dạ tốt xấu và tâm trạng của người đó. Trong đời tôi đã gặp đủ loại ánh mắt, nhưng tôi có đâu ngờ được rằng ánh mắt mà tôi gặp nơi bờ sông Bến Hải đã để trong tôi một tác động tâm lý mãnh liệt làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi sau đó. Sinh trưởng ở miền bắc và di cư vào Saigon, tôi có cơ may có được một cuộc sống sung túc, ngày cắp sách đến trường, nhìn cuộc đời với đôi mắt màu hồng của tuổi dậy thì. Hình ảnh chiến tranh mà thời đó tôi cảm nhận được là những ngọn đèn hoả châu và những tiếng đại bác đêm đêm vọng về. Vì khi chưa nhìn thấy quan tài đổ lệ nên chiến tranh không ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi. Thế nhưng cuộc đời tôi đã rẽ sang một khúc quanh mới khi gặp đôi mắt nọ.
.
Trong một chuyến du lịch trở về thăm quê hương (1973) cùng với phái đoàn Tổng Hội Sinh Viên Paris do ông Hoàng Đức Nhã tổ chức, các sinh viên du học được đưa đi thăm Huế, Quảng Trị, đại lộ kinh hoàng, những điạ danh bị tàn phá bởi chiến tranh và bờ sông Bến Hải để sinh hoạt cùng với các anh chiến binh VNCH. Nơi dòng sông Bến Hải, nhìn qua bên kia sông là lá cờ đỏ sao vàng. Ngước nhìn lên chòi canh bên này là lá đại kỳ vàng ba sọc đỏ phất phới bay và hình ảnh người chiến binh VNCH trong quân phục tác chiến, tay cầm khẩu súng im lặng mắt hướng về phiá bên kia sông. Khuôn mặt xạm màu nắng chiến chinh và ánh mắt khắc khổ chịu đựng gió sương nhưng cương quyết, sẵn sàng quyết tử để bảo vệ màu cờ vàng ba sọc đỏ, đã làm lòng tôi trùng xuống một niềm xúc động lớn pha lẫn xấu hổ. Xấu hổ vì thấy rằng mình đã sống qúa vị kỷ chưa làm được gì hữu ích cho quê hương dân tộc. Xúc động vì giờ đây qua ánh mắt người chiến binh đó tôi mới thực sự hiểu được rằng trong khi tôi và người dân miền Nam được sống yên lành với gia đình thì ở ngoài tiền tuyến lại có hàng trăm ngàn chiến binh VNCH âm thầm chấp nhận đốt cháy tương lai, tuổi thanh xuân, lẫn hạnh phúc đời mình bên ánh đèn hỏa châu lửa đạn. Người chiến binh VNCH không phải chỉ mất tuổi thanh xuân không thôi. Đã có hàng trăm ngàn chiến binh trở về sau cuộc chiến 'với đôi nạng gỗ', để lại nơi chiến trường một phần máu và thân thể của đời mình. Trở về với cuộc đời dang dở tàn phế tương lai! Và cũng đã có biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ vô danh bỏ thây nơi chiến trường để lại gia tài cho vợ con một tấm thẻ bài và những vành khăn tang trắng làm đổ nát đời người cô phụ và gia đình họ. Tôi đã ngộ những mất mát to lớn đó khi đi trên Đại Lộ Kinh Hoàng mà cái tên tự nó cũng đủ nói lên trận chiến khốc liệt đã xảy ra tại nơi đây. Dẫu chiến trường đã được dọn sạch từ lâu, nhưng quang cảnh hoang tàn và thê lương cũng đủ làm tôi rùng mình vì tôi vẫn còn cảm nhận được một luồng âm khí của các vong linh hình như chưa siêu thoát nên vẫn còn lảng vảng ở đâu đây. Khi đôi chân mình đi trên mặt đất thấm máu và nước mắt của dân tộc tôi mới thấu hiểu hai chữ tự do vô cùng qúy báu như thế nào. Lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho khát vọng tự do được gìn giữ bởi máu và nước mắt của dân tôi giờ thiêng liêng biết ngần nào! Cũng vì thế khi ngước nhìn lá đại kỳ phất phới bay nơi dòng sông bến Hải tôi đã nghẹn ngào thầm cám ơn đôi mắt kia và tập thể chiến binh VNCH đã âm thầm hy sinh cho người dân miền Nam trong đó có tôi được thở hít không khí tự do cho đến ngày 30/4/1975. Một món nợ tinh thần mà tôi phải trả sòng phẳng cho các anh, cho gia đình tử sĩ và cho quê hương dân tộc. Trước khi ra đi tôi đã quay lại nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới bay trên bờ sông Bến Hải lần cuối và thầm nhắn gửi với đôi mắt vô danh kia rằng tôi hứa cùng anh và các đồng đội của anh nguyện bảo vệ chính nghiã của lá cờ vàng ba sọc đỏ đã được gìn giữ bởi máu và nước mắt của những tấm lòng yêu nước. Đôi mắt vô danh kia tôi không còn nhìn thấy nhưng vẫn in hằn trong đầu tôi.
.
35 năm trời đã trôi qua kể từ ngày giã từ lá đại kỳ nơi dòng dông Bến Hải, tôi không biết đôi mắt kia giờ ở nơi đâu? Anh còn sống hay đã mất? Nếu đã mất thì anh mất ở nơi đâu? Bỏ thây ngoài biển khơi hay ở nơi lao tù rừng thiêng nước độc? Nếu còn sống thì giờ này anh ở nơi đâu? Trại cải tạo hay ở một vùng trời tỵ nạn xa xăm nào đó? Hay nếu còn ở Việt Nam, chế độ tàn bạo có còn đối xử bất công bạc ác với người chiến binh VNCH như anh hay không? Những câu hỏi trên luôn trở lại với tôi mỗi khi ngày quốc hận 30/4/ trở về. Những câu hỏi luôn làm nhức nhối trái tim tôi mỗi khi nghĩ đến anh, nghĩ đến các thương binh VNCH và lá đại kỳ nơi dòng dông Bến Hải.

.
Hôm nay trong ngày tưởng niệm 33 năm Quốc Hận, tôi muốn viết những dòng tâm tư này gửi đến anh. Nếu anh còn sống nơi xứ người, tôi xin được chia sẻ chung với anh nỗi đau của một người chiến binh già khi phải nhìn hình lá cờ vàng ba sọc đỏ bị bôi bác vẽ trong một cái chậu rửa chân. Một hành động vô ơn bạc nghiã của những kẻ ngày xưa đã từng ăn cơm quốc gia nay đâm sau lưng chiến sĩ VNCH. Tôi cũng xin được chia sẻ chung với anh sự nổi giận khi thấy những con buôn chính trị cho phổ biến năm chương trình lịch sử của C�= �ng sản Hà Dương Dực bôi nhọ chính nghiã quân cán chính VNCH. Nếu anh đã qua đời và đang an giấc nơi Nghiã trang Quân đội, tôi cũng xin được san sẻ chung với anh nỗi u uẩn của một người chết không thể thét lên được khi phải chứng kiến cảnh những kẻ thời cơ qụy lụy xin xỏ bạo quyền cái đặc ân được trùng tu nghiã trang quân đội đã bị CSVN biến thành nghiã trang dân sự Bình An, là một hình thức xóa sổ cái chết vì lý tưởng của anh lẫn thành tích lịch sử đấu tranh hào hùng của quân lực VNCH. Những kẻ thời cơ chính trị đó tất phải thừa hiểu rằng bất cứ một người chiến binh VNCH nào khi đã cầm súng ra trận tức là họ không sợ chết banh thây ngoài chiến tuyến thì không có lý do gì họ phải nhờ ai van xin kẻ thù trùng tu mộ phần dùm cho họ. Hành động xin /cho đó nào có khác chi cầm dao đâm sau lưng vong linh chiến sĩ VNCH.

.
Cũng trong ngày tưởng niệm 33 năm quốc hận 30/4 năm nay, tôi xin xác quyết một lần nữa lời thầm hứa với anh nơi bờ sông Bến Hải năm nào giờ đây vẫn còn nguyên vẹn: dù bất cứ ở nơi nào trên thế giới nếu có những ai bôi nhọ lá cờ vàng ba sọc đỏ hay chính nghiã của quân lực VNCH thì tôi cũng sẽ một lòng cùng với đồng bào ở nơi đó quyết tâm lên tiếng phản đối những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma CS. Đối với những vị anh hùng liệt sĩ vô danh bị CSVN đối xử khác biệt nơi nghĩa trang quân đội, dẫu các anh đã nằm xuống nhưng chúng tôi và thế hệ mai sau vẫn tiếp nối con đường các anh đi, bởi vì cuộc chiến này chưa phân thắng bại. Sẽ có một ngày màu cờ vàng ba sọc đỏ sẽ phất phới bay trở lại trên bầu trời các anh an nghỉ và cái tên Nghiã trang Quân Đội sẽ được phục hồi trả lại cho vong linh anh hùng liệt sĩ VNCH. Tôi và đồng bào miền Nam không hề quên ơn các anh, những chiến binh oai hùng của quân lực VNCH đã một thời đổ máu trên Trường Sa Hoàng Sa, trên khắp nẻo đường Việt Nam để giữ từng tấc đất của tổ tiên không bị rơi vào tay CSVN bán nước buôn dân nay biến thái thành tư bản đỏ.
Quốc hận 30/4/2008
Nguồn :
http://www.nuocviet.org/


VINH DANH NHỮNG VÌ SAO

Tháng Tư về khơi mối hận thiên thu
Mây tang phủ lên bầu trời Quốc Tổ
Nhớ bao anh hùng thơm danh muôn thuở
NAM, PHÚ, VỸ, HƯNG, HAI, CẨN...tên Người !
Trước cọc bắn vẫn đanh thép ý lời:
“Muốn nhìn sông núi trước giờ gục chết !”
Lẫm liệt oai phong một trang hào kiệt
Cọp ba đầu rằn HỒ NGỌC CẨN lưu danh !
Tướng Biệt Động Quân liêm khiết, đa năng
Huấn luyện, tham mưu, chiến trận bao năm
Tên TRẦN VĂN HAI sử vàng ghi đậm
Xin nghiêng mình chào NGUYỄN KHOA NAM hùng anh
Hổ Tướng miền Tây theo thành tự sát
Loạt đạn nổ vang thay lời thề “Sát Đát !”
Rừng núi chuyển rung bạt vía giặc thù !
Bình Long, An Lộc - song Lê anh hùng
Gương tử thủ nêu cao, nức lòng quân sĩ
NGUYÊN VỸ, VĂN HƯNG lừng danh thế kỷ
Bia khắc danh đề - thanh sử muôn thu !
Tiếc thương PHẠM VĂN PHÚ Kontum, Pleiku
Vị danh tướng của bao thời trận mạc
Khí hùng anh nào để lọt vào tay giặc ?
Kết liễu đời mình - độc dược quyên sinh !
Hồn thiêng sông núi tiếp dẫn hương linh
Quý danh tướng và bao anh hùng dân tộc
Tháng Tư đại tang triệu hồn bật khóc
Thắp nén hương lòng tưởng niệm anh linh !

.\
PHẠM HOÀI VIỆT




THÁNG TƯ THƯƠNG TIẾC

-Kính dâng qúy hương linh tử sĩ QLVNCH.
.

Vị quốc vong thân chiến hữu ơi !
Uy danh khí tiết mãi muôn đời
Bình Long một thuở bay hồn giặc
An Lộc nghìn thu rạng giống nòi
Sông núi vẹn tình không nhạt lảng
Nước non tạc dạ chẳng hề vơi
Tháng Tư Quốc Hận mài gươm báu
Tưởng niệm anh linh kính mấy lời ./.
.

Phạm Hoài Việt

.

LƯU VONG VỌNG QUỐC


Cô đơn lê bước khoảng đường dài
Vọng tưởng quê nhà lệ thấm cay
Hải ngoại trông vời tình cố quốc
Non sông mỏi đợi bậc anh tài
Lời ru nhớ nước nghe nao dạ
Tiếng hạc kêu sương thúc sánh vai
Khẻ hỏi ai người thương đất Tổ ?
Giang san hưng phục há co tay ./.


.Phạm Hoài Việt.




Chiếc áo bà ba - Hương Lan


Chíếc áo Bà Ba - Huong Lan

 

CHIẾC ÁO BÀ BA.
Tôi chẳng lạ gì với chiếc áo bà ba vì được sinh ra, lớn lên ở miền Nam. Có đi ra Bắc đôi lần để xem máy lạnh gắn đầy công viên, phụ nữ mặc áo tứ thân như trong truyện cổ tích-cho nó vui! Nhưng hai lần đi làm ăn, có ngang qua Hà Nội thì chỉ loanh quanh những phố ăn nhậu. Lần đi với bố là đáng nhớ nhất trong những chuyến hành hương. Hai cha con đến nhà bác tôi ở phố Ngọc Hà, chiều tối, tản bộ ra công viên thì chỉ thấy hoạt cảnh... vuốt bùi. Tôi khoái cái từ ngữ mà ông bác tôi dùng để chỉ hành vi văn hoá thủ đô. Tôi nhớ mãi ngữ âm Hà-Nam-Ninh của người bác mà hết đời tôi chỉ gặp một lần. "Mày có bức xúc thì đây là thiên đàng giải toả!"
.
Bố tôi đã đầu hàng vô điều kiện lần thứ hai là đầu hàng ông anh rể-gốc bần cố nông, nhưng trót yêu con gái nhà địa chủ thất thời sau đấu tố thì chấp nhận bị khai trừ khỏi đảng, chấp nhận đời đen như mõm chó bên cô chủ trong mơ. Nhiêu đó thôi, đã đủ lý do cho bố tôi ra tù là về thăm người chị ruột còn ở quê xưa, thăm ông anh rể đã hết lòng với chị mình. Riêng tôi không có những tình cảm sâu xa đó vì tôi như đứa bé sinh ở Mỹ bây giờ, cha mẹ có đưa nó về Việt Nam thăm ông bà thì riêng tư nó cũng chỉ như một cuộc nghỉ hè xa và không hứng thú gì cho lắm! Tôi đành xin kiếu mảnh đất ngàn năm văng tục trong im lặng để xuôi Nam vẹn toàn.
.
Tôi yêu miền Nam hơn hồi chưa đi Bắc như người hải ngoại bây giờ về lại quê xưa có thể khóc được với cây cầu khỉ mà thuở nhỏ chớ hề nghĩ đến mỗi bận đi qua. Tôi yêu miền Nam rứr ruột ra mình mà chiếc áo bà ba là hơi thở của đồng bằng phì nhiêu, sông nước, ruộng vườn... Hình ảnh cô gái miền tây trong chiếc áo bà ba, nghiêng nghiêng nón lá phất phơ quai hồng theo con nước lớn nước ròng, chèo ghe trên những sông rạch chằng chịt đã ăn sâu trong tiềm thức tự bao giờ! Cánh áo đơn sơ, mộc mạc trên thân mẹ, thân dì đã mưa nắng nuôi con, thương cháu. Cánh áo diệu hiền thấm giọt mồ hôi của những bông hoa đồng nội đã để lại lòng người đứng bên sông niềm thương nỗi nhớ sự mềm mại của thân hình; thanh thoát của vải hoa hay chỉ một màu thiên thanh trong sáng, màu hồng tơ vương, màu hoa cà đằm thắm diệu ngọt.
...
Cái thời tay trắng mộng đầy phất phơ theo vạt áo cô gái sông Tiền, sông Hậu qua đi. Tuổi trẻ thời tôi, sau "giải phóng" như lục bình man mác-biết về đâu! Có tính ở lại làm rể miền tây mấy bận nhưng tình cứ xót xa... trôi.
Em như cục cứt trôi song,
anh như con chó ngồi trông trên bờ.
Cái thời chó chết nó thế! Cuối cùng táp bến Bình Đông, ngộ ái nị, nị ái ngại... ngộ ôm đại –nị đừng có ngại.
.
Đã 1/4 thế kỷ trôi qua, chớ hề thấy em mặc áo bà ba một lần cho bay mùi xì dầu nước tương, đuôi heo hầm xáu-báu (củ cải muối), đuôi bò hầm nấm đông-cô... lấy vợ Tàu thì tha hồ ăn đuôi theo tinh thần truyện kể: .

Ông Tàu bán thịt heo quay rao hàng là ăn gì bổ nấy! Mua dzô mua dzô... Gặp bà Việt cà lăm-cắc cớ, hỏi: "Dzậy, ăn cái đuôi thì bổ cái gì?" Ông Tàu nói, "Cái lày... nị mua chồng nị ăn. Nó ăn cái đuôi đằng sau thì bổ cái đuôi đàng trước". Bà cà lăm nghe khoái! "Dzậy... dzậy... chặt...chặt...chặt...chặt... ch...ặ...t... cho tui 2 đồng... đuôi". Ông Tàu: "Tiểu cái lụ mụ nị! Biểu ngộ chặt hết nửa con heo rồi mua có hai đồng."
.
Từ đó, khả năng chờ em thay áo cũng qua tuốt luốt tự bao giờ! Nhưng từ đó, những cánh áo bà ba đậm đà phong thổ miền Nam được trân trọng giữ gìn trong ký ức - để sống lại dạt dào yêu thương khi thấy trên sân khấu ca nhạc, những cô ca sĩ trẻ đẹp thỉnh thoảng mặc áo bà ba lên sân khấu hát nhạc quên hương đã nhắc nhở biết bao nhiêu tình! Nhớ nhất là lần tôi theo thằng bạn nhỏ hơn mình về quê. Cha nó là lính Thủy quân lục chiến, tên ông Sáu Chiến. Sau hoà bình làm nghề thương hồ..

Nhân dịp mùa hè mà cha nó bệnh vì nhậu quá mạng nên tôi với nó chèo ghe, căng buồm khi thuận gió để giải quyết cho má nó một chuyến hàng thương hồ. Đâu ngờ, khi về tới Vĩnh Long (quê ngoại của bạn tôi) thì cắc cớ xảy ra! Tôi quá xúc động với chân tình của dì Uốt thằng bạn. Người con gái miền tây mà tôi mang nhiều nỗi nhớ không tên. Em đãi tôi món đặc sản quê nhà như giới thiệu với anh đây là... quê em. Món canh chua ếch thì đâu có gì lạ! Nhưng lạ ở chỗ là em đã bao công khó cho người không quen. Chắc ai dân miệt vườn thì còn nhớ trái dừa khô có ba con mắt. Người nhà quê trưởng giả chỉ đục một mắt của trái dừa khô, thả vào đó con nòng nọc. Đêm đến thắp đèn dầu dừa cho muỗi bu, muỗi rớt vô con mắt mở của trái dừa thì thành thức ăn cho nòng nọc lớn lên thành ếch. Khi ếch trong trong trái dừa lớn theo ngày tháng (không có khả năng thoát thân ra lỗ mắt dừa bằng móng tay út), em thắp đèn hàng đêm cho ếch có muỗi ăn, ban ngày đói bụng thì ếch ăn cơm dừa khô. Cứ thế ếch lớn. Khi em nấu đãi tôi món canh chua ếch thì đậu bắp, giá, bạc hà, cà chua, lá me non, rau ôm... cứ bình thường như canh chua trên khắp miền Nam. Đặc biệt hơn tôm tép, cá... là ếch. Em chặt (đập) bốn trái dừa khô để có bốn con ếch trắng trờ vì thiếu nắng. Canh đang sôi, đập dừa là ếch sống nhảy luôn vô nồi canh chua. (Không lột da, mổ bụng, cạo rửa gì hết). Khi ếch chín, múc ra tô, con ếch trắng nhách, còn nguyên da, đủ đầu lòng, cứ xoè tay xoè chân phản đối!
.
Tôi ăn hay không ăn là câu trả lời dứt khoát... anh ở hay dzià?! Tôi dzià chứ sao ăn nổi vì bốn con ếch cứ trợn mắt nhìn tôi trong tô canh chua. Đôi mắt thứ năm nhìn tôi trách móc...! Đành chịu chứ không tài nào dám nhá thử miếng ếch-dừa. Thoạt trông nhờn nhợt màu da/ ăn dừa nung núc đẫy đà toàn thân như tú bà trong truyện Kiều. Ghê quá!
.
Trưa nay, hè xứ Cao bồi nắng chang chang cả trăm độ F, tôi bước ra sau tiệm để làm công việc mà ngày càng bị nhiều người chê trách là châm điếu thuốc. Mới mở cửa sau, chỉ hai bước chân là chạm vuông tường cao hơn đầu người, có thùng rác bự cho cả khu thương mại xài chung. Không thấy mặt người đang đổ rác phía bên kia nhưng tiếng hát thì nghe được. Không biết sao khi đi tắm và đi bỏ rác thì người ta ưa hát? Không nghe thầy lang nào bàn vụ này! Không chừng hát có thể khử mùi không hay hay mùi không hay là chất gây hát đối với thần kinh con người mà chưa khoa học gia nào nghiên cứu.
.
Trưa hè vắng vẻ và văng vẳng một giọng nam trầm của người miền tây thì âm thanh đi thẳng vào lòng người diệu vợi... "Chiếc áo bà ba quê mùa em không mặc! Bởi đua đòi em mặc áo hai dây. Nó đứt một dây, tai (tay) nào em dzói dzịn (vói vịn), dzói tai nào... lông nách cũng đen thui..."
.
Trời đất qủy thần ơi! Nam danh ca Minh... Liều nào mà ác liệt dzữ dzậy trời? Minh Cảnh, Minh Vương, Minh Phụng... mà nghe thì co giò chạy tuốt, chịu sao cho thấu. Tôi cũng ráng lê mươi bước... đi xin chữ ký! Thì ra một thanh niên yêu đời. Anh bạn trẻ mới ngoài đôi mươi, đầu bù tóc chỉa như con nhím, quần áo lôi thôi, gương mặt lại đóng bớt một cánh cửa sổ của tâm hồn cho bớt chói nắng mà người thiển cận gọi là thằng chột.
.
Để bù lại cho những cái trớ trêu trên gương mặt bí hiểm! Người bạn trẻ có nụ cười miền tây vô cùng hiền hậu làm tôi nhớ những người bạn miền tây hết sức! Tôi thấy thật thân và thật gần nên mời anh ta điếu thuốc. Chúng tôi láp dáp được vài câu để biết anh ta là thợ... vịn. (Bên tiệm may của bà Đại Hàn mới sang cho người Việt Nam vì trơ trọi hũ kim chi trong khu thương mại sặc mùi nước mắm thì làm sao thọ nổi!) Bạn tôi theo thầy đi sửa tiệm may Đại Hàn thành tiệm may Việt Nam. Với vai trò thợ vịn và đi bỏ rác đã dư sống nên yêu đời, ca hát làm bằng cho tâm tư mãn nguyện. Lòng dạ người miền Nam dễ thương, xởi lởi nên cũng dễ rò rỉ thông tin cá nhân. "....
.
Ngon hơn hồi em còn ở Long An, đi vác mướn ngoài bến xe cả ngày chỉ được chừng 5 đồng (đô la). Em ăn cơm, uống nước cũng hết hai đồng, đem về cho má chừng ba đồng thì má cho lại một đồng để đi chơi... Bây giờ, qua Mỹ khoẻ re - ngày 50. Làm gì cho hết tiền?!" Đang tâm sự đời tôi ngon trớn thì ông thầy của bạn tôi thô-lỗ-miệng, chửi thề ỏm tỏi vì thằng đệ tử đi bỏ rác hay bỏ mạng mà không thấy về! Họ bỏ lại tôi đứng chơ lơ như cây cột đèn hiu quạnh, nắng Texas thì tôi đã quen nên nhằm nhò gì! Cứ nhớ lời ông bạn Huy: "Sống ở Mỹ mà một người không làm ra trăm bạc/ ngày, thì sống sao nổi!" Ước gì ông Huy nghe một người đồng hương thoải mãi nói: "... ngày 50. Làm gì cho hết tiền!" Ông Huy tháng nào kiếm được năm ngàn đã than như bọng. Lơ tơ mơ như tôi thì thật là không dám lên tiếng càm ràm bề trên, nhỡ các ngài đổi ý cho đi làm thợ... vịn thì bỏ xừ. Người ta thường đứng núi này trông núi nọ nên mãi mãi bất an. Bằng lòng với hiện tại như anh bạn trẻ thì có thể ca hát, yêu đời trong cái nắng chang chang nơi miền đất hứa, trong cõi phù du làm cho thùng rác to bự mà anh ta phải đi đổ một mình cũng nhẹ đi đôi phần! Bằng lòng với những gì mình có thật an nhiên, tự tại mà không ai tin.
.
Trưa nay nóng dữ nên bà con trốn trong máy lạnh. Ngoài kia, bãi đậu xe mênh mông, ảo giác nắng như sông nước bềnh bồng, thi thoảng có chiếc xe lười biếng như không muốn chạy vì nóng mà cứ phải lăn bánh về một nơi nào đó! Không ung dung như chiếc xuồng ba lá trên sông. Có,"Chiếc áo bà ba quê mùa em không mặc. Bởi đua đòi, em mặc áo hai dây..." cỡi chiếc Lexus ES300 lướt qua mặt tôi với nụ cười đồng hương ấm áp. Hai cánh tay trần mang vẻ đẹp phô trương-Mỹ hoá, nhưng thử tưởng tượng hai cánh tay ấy được lồng trong chiếc áo bà ba thì diệu dàng biết bao. Chủ nhân của hai cánh tay nõn nà không ý thức được vẻ đẹp kín đáo truyền thống hay bản thân mình không ý thức kịp vẻ đẹp trần trụi theo thời đại toàn cầu, thế kỷ lưu vong.
.
Nhạc chế
Tôi nghĩ ngợi mơ hồ về thay đổi quá nhanh để con người không bắt kịp nên mới có những phản ứng như chế (nhái) lại lời thơ, nhạc vừa rồi, để thoả mãn tâm tư con người thấp cổ bé miệng. Vì cao cổ lớn miệng thì đương sự đã đả kích, chống đối ngay tác giả chứ cần gì nhái lại để thể hiện phản kháng. - Như khi tôi còn nhỏ mà đã sớm chịu đựng sự đổi thay của lịch sử nên học trò không thuộc nổi bài thơ "Đêm nay Bác không ngủ" của Tố Hữu theo nguyên tác trong sách Giáo khoa, nhưng lại thuộc lòng bài thơ chế lại như sau:
.
"Đêm nay Bác không ngủ/
Ngày mai Bác ngủ bù/
Anh đội viên gật gù/
Lão già này... khôn thật."
..
Cũng như anh bạn trẻ vừa đây, tự nhiên bị liệng qua Mỹ vì một lý do nào đó, bảo lãnh chẳng hạn. Anh không còn thấy những chiếc áo bà ba trong thôn xóm anh ở, ngoài ruộng vườn anh trông, bến bãi anh làm việc kiếm cơm... Bỗng dưng xung quanh anh, hình ảnh người phụ nữ kín đáo bị lột bỏ đến chỉ còn hai mảnh bikini mà không sượng sùng khi rửa xe ngoài sân chỉ là cớ - cho thiên hạ ngắm mới là chánh. Mười người phụ nữ quanh đây thì đã bảy, tám người mặc áo hai dây, phơi ra hai cánh tay trần mát lạnh! Anh phản kháng kiểu nhà quê, con nít... cũng khác gì tôi xưa!
.
Lý luận như vậy, phải chăng nhạc chế xuất phát từ những người thấp cổ bé họng. Họ không đủ khả năng để sáng tác và chắc cũng không có điều kiện để phổ biến nên dựa vào cái có sẵn (đã được nhiều người biết để quá giang suy nghĩ riêng tư của mình). Tôi có nghe nhưng không nhớ tác giả và tác phẩm.
.
"Em ơi! Nếu mộng không thành thì sao?
Non cao đất rộng biết đâu mà tìm?" .
.
Người nhạc sĩ sáng tác ta thán về trăm khó ngàn khăn của tình duyên trắc trở. Nhưng người bình dân không có lắm suy tư nên giải quyết gọn:
.
"...Mua chai thuốc chuột uống cho rồi đời"
.
.Ông nhạc sĩ mà nghe (chắc chắn đã nghe đâu đó) chắc buồn lắm! Vì qua lời nhạc ông đặt có hàm ý, thông điệp... trong tình yêu đôi lứa cần sự thủy chung, kiên nhẫn vượt khó qua hình ảnh "non cao đất rộng" trong tinh thần ca dao:
"Yêu nhau mấy núi cũng trèo/
mấy sông cũng lội
mấy đèo cũng qua"
Ai kiên nhẫn, chung tình thì tình yêu ấy lên ngôi. Toại nguyện khi trùng phùng sau trăm khó ngàn khăn.
.
Nhưng đời vội vã đâu có ai kiên nhẫn nữa! Những tâm hồn đẹp của người viết nhạc cứ cho ra lời hay ý đẹp. Người hát nhạc tự thấy không đúng với mình chứ không phải không hay... thì tùy nghi chế, nhại. Câu nhạc chế mà tôi nhớ được tiếp theo là Lam Phương viết:
"Từ ngày có em về,
nhà mình tràn ánh trăng thề..."
.
Hay quá! Tình tứ và lãng mạn vô cùng. Nhưng "em" trong nhạc Lam Phương không (chưa) phải là đại biểu quốc hội trong dân gian, vì có những em khi chưa được rước về dinh thì dễ thương hết biết. Nhưng rước về rồi thì hết biết dễ thương chỗ nào. Nên người bình dân đành xin lỗi nhạc sĩ mà chế lại!
"từ ngày có em về,
nhà mình toàn tiếng chửi thề..."
"Em" đời mới kiểu này hơi nhiều trong dân gian bây giờ nên tỷ lệ ly dị cũng từ đó tăng cao trong đời sống hiện đại.
.
Nói tới nhạc chế thì bát ngát với những người có trí nhớ tốt. Vì qua đây chúng ta mới nhập gia tùy tục, sống theo Mỹ là không biết tên người hàng xóm, không xử dụng phương tiện công cộng nhiều như khi ở quê nhà, nên ít tiếp xúc giới bình dân ngoài bến xe, bãi chợ.
- Những người thường lẻ loi, cô đơn trong cuộc sống xã hội, thậm chí hơi bị coi thường nên tâm tư họ có những phản kháng mà xét cho cùng là đáng thương. Họ, thay vì ngồi than thân trách phận hẩm hiu thì không ai nghe, thèm nghe. Họ mượn câu thơ, lời nhạc có sẵn (và đã nhiều người biết), sửa đổi lại cho đúng với tâm tư mình, kèm theo nhu cầu đương nhiên là muốn người khác hiểu mình.
.
- Điều không ngờ là trong xã hội lại có rất nhiều người giống mình nên dòng nhạc chế sống hùng sống mạnh hơn cả nhạc chính quy có tác giả hẳn hoi.
- .
Phan


TRỞ VỀ ĐẦU TRANG