THƠ
Wednesday, October 14, 2015
Wednesday, September 30, 2015
Phát hiện cuốn sách cổ của nhà Thanh, in đời vua Quang Tự (1875-1909) khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông là của Việt Nam.Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) - nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909). Sách in thạch bản (in đá) bằng chữ Hán).Anh Luyện đã vui vẻ trao quyển sách này cho chúng tôi sở hữu và nghiên cứu với hi vọng có thêm những cứ liệu để công bố trước công luận và làm bằng chứng để khẳng định chủ quyền biển, đảo Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam.Cuốn sách này có tên “Danh hoàn Chí lược” (Sách ghi chép về địa lý Thế giới), có khổ 20cm x 14,5cm, người giám định sách là hai tiên sinh Bích Tinh Tuyền và Lưu Ngọc Ba. Sách do Nhà xuất bản Hòe Lý Đường in.
Nhà Hán học Nguyễn Tiến Đoàn dịch sách Danh hoàn Chí lượcỞ trang 2 của sách ghi: “Quang Tự Mậu Tuất Mạnh Thu” (Tháng 7, năm Mậu Tuất, niên hiệu Quang Tự, triều vua Đức Tông (Tải Điềm -1898). Cũng ngay ở trang 2 ghi: Thượng Hải Thư Cục Đại Ấn (Thư cục Thượng Hải được cho quyền in sách này). Bộ sách này được biên soạn vào năm thứ 28 (Kỷ Dậu, 1849), niên hiệu Đạo Quang, triều vua Thanh Tuyên Tông (Mân Ninh, 1821-1851).Ở trang 3, 4 và trang 5 của sách có ghi bài tựa của Lưu Vận Kha, soạn vào năm Kỷ Dậu (1849), mùa hạ tháng 4 - triều vua Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Đạo Quang. Bài tựa thứ 2 cũng viết vào năm Đạo Quang thứ 28, triều vua Thanh Tuyên Tông, do Bành Uẩn Chương soạn. Bộ sách này từ khi soạn (vào năm 1849, thời vua Thanh Tuyên Tông) phải mất 49 năm sau mới được in (vào năm 1898), triều vua Đức Tông (Nhà Thanh) - niên hiệu Quang Tự.Bộ sách gồm nhiều tập. Chúng tôi chỉ chú tâm tới các tập 3, 4, 5 (vì 3 tập này đóng gộp thành 1 quyển) và có ghi các đảo thuộc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Sách Danh hoàn chí lược. Dòng chữ nhỏ bên phải ghi người giám định Bích Tinh Tuyền, Lưu Ngọc Ba. Dòng chữ nhỏ bên trái ghi Hòe Lý Đường Bản
Dòng chữ bên phải ghi Quang tự Mậu tuất Mạnh Thu. Dòng thứ hai bên trái ghi Thượng Hải thư cục đại ấnNội dung của sách chủ yếu tóm lược vị trí địa lý, lịch sử… của các nước trên thế giới. Sách còn vẽ bản đồ của các nước trên thế giới: từ Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia … cho đến Ả Rập.Đặc biệt, ở trang 24, 25 của tập sách này có in tấm bản đồ Trung Quốc, mang tên “Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ” (Bản đồ toàn quốc thống nhất đời nhà Thanh). Trên bản đồ này đều có vẽ các nước có chung đường biên giới với Trung Quốc, như: Việt Nam, Mông Cổ, Ấn Độ, Triều Tiên...Đáng chú ý, ở phần biển đảo, Trung quốc chỉ vẽ đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam), Đảo Đài Loan (của Trung Quốc)… sau đó ghi chú là biển nhưng không hề vẽ và ghi chú đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc. (Bản đồ thứ 1, có ghi chú: Hoàng Thanh Nhất thống dư địa toàn đồ).
Bản đồ Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ (chưa dịch)
Bản đồ của nhà Thanh không có đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà chỉ ghi đảo Quỳnh Châu (Hải Nam) và đảo Đài LoanĐặc biệt hơn nữa, ở tấm bản đồ in tại trang 40, 41 của cuốn sách này thì bên cạnh việc vẽ bản đồ đường biển Trung Quốc lại có vẽ eo biển Quảng Nam (và ghi rõ là Nam Việt - tức Việt Nam). Bên cạnh eo biển Quảng Nam, bản đồ này còn vẽ đảo Thất Châu Dương – biển Thất Châu (cả khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa - Vạn lý Trường Sa. Nếu theo bản đồ Trung Quốc thì Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc biển Thất Châu Dương - một cách gọi tên khác mà người Trung Quốc xưa thường dùng và ghi chú trên bản đồ để chỉ khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam (không có ghi khu vực biển Thất Châu Dương này thuộc địa giới của Trung Quốc).
Bản đồ đã chú thích trong đó có Trường Sa, Hoàng Sa thuộc địa phận biển Việt NamỞ tấm bản đồ trang 55 và 56 - chủ yếu vẽ về biển, đảo và các nước giáp Trung Quốc: biển Ấn Độ Dương (Trung Quốc gọi là Tiểu Tây Dương) và có cả ghi chú về Ấn Độ Dương. Trên bản đồ này còn cho biết về biển và đảo Trường Sa của Việt Nam giáp với đảo Quỳnh Châu (Hải Nam - thuộc Quảng Châu, Trung Quốc). Vẽ cả hình tượng bãi đá ở quần đảo Trường Sa. Trên bản đồ này còn vẽ khu vực biển đảo Quảng Nam: Trong đó vẽ và ghi Thất Châu Dương (Hoàng Sa, Trường Sa), vẽ cả cửa biển Lộc Nại của Quảng Nam và vẽ đảo Côn Lôn của Việt Nam.
Bản đồ Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ (chưa chú thích)Đáng chú ý ở trang 88, 89 giúp cho người đọc hiểu về luồng lạch, hướng gió và các bãi đá ngầm ở trên các đảo Trường Sa, Hoàng Sa và phương hướng, độ dài (tính theo cách tính canh giờ của người xưa) đi trên biển để tới được các nước khác nếu xuất phát từ cửa biển: đảo Trường Sa của Việt Nam.Phần phiên âm của sách được nhà Hán học Nguyễn Tiến Đoàn dịch như sau: “…Sách Hải quốc văn kiến lục có nói: Vùng Nam Dương (biển phía nam) là nơi thuyền buôn của vùng Mân Việt thường đến. Đường biển nơi đây nhiều chỗ nguy hiểm. Người chỉ huy thuyền đi qua biển này cần phải cẩn thận. Nguy hiểm nhất là nơi có hòn đảo Áo Khí. Thủy trình đi khoảng 7 canh giờ từ đảo Áo Khí đến đảo Lạc Tế. Đảo này nhỏ mà bằng phẳng. Ven đảo có nhiều đá ngầm ngổn ngang, thuyền không đến được; thu hút không khí, dòng chảy ở bốn phía. Trên đảo có nhiều cây cỏ mọc cao hơn một trượng, có núi Đông Sư Tượng, nếu muốn đến thì phải theo dòng nước mà đi. Không thể đi ngược lên phía Bắc vì nhiều doi cát nổi chìm, dài khoảng 200 dặm. Đi lên phía bắc thì có đảo và trên đảo có núi Sa Mã Kỳ. Hai ngọn núi này đối mặt vào nhau (ngọn núi Sa Mã Kỳ và Đông Sư Tượng).
Toàn trang chữ Hán (đã dịch trong bài viết)Theo đường thủy trình trên biển là phải đi bốn canh giờ mới tới địa đầu Sa Mã Kỳ, lại có những doi cát liên tục ở phía nam đến Việt hải (biển Việt) gọi là Trường Sa đầu (địa đầu Trường Sa). Cứ đi về phía nam thì lại thấy nhiều doi cát nổi lên, theo đó mà đi thì đến Vạn Lý Trường Sa. Phía nam Trường Sa có nhiều bãi đá ngầm lởm chởm, đi tiếp là đến biển Thất Châu, gọi là Thiên Lý Thạch Đường. Đây là đất nguy hiểm của vùng Nam Dương, hay có gió bão lớn ở ngoài biển, thuyền đi biển đậu ở ngoài này thường gặp bão gió. Có những thuyền đi lạc đường mà gặp phải nơi đó thì rất nguy hiểm. Một cửa Trường Sa nằm ở phía tây bắc cùng với đảo Nam Áo. Ở phía tây nam là đảo Đại Tinh (Biển bình lặng¬) tạo thành thế chân vạc ở cửa nam bắc, ước rộng phải đi chừng khoảng ngũ canh (đơn vị đo lường thời cổ thường tính theo giờ). Thuyền buôn của người Việt thường đậu ở đó; phía Nam là đảo Lã Tống (Lucson - Philipin), Văn Lai, Tô Lập. Thuyền buôn thường qua mấy nước đó để trao đổi buôn bán, khi xuất phát đều từ cửa Trường Sa mà đi. Nếu gặp gió bắc thì lấy chuẩn từ đảo Nam Áo. Gặp gió Nam, lấy đảo Đại Tinh làm chuẩn để tới Giang Tô, Triết Giang, Phúc Kiến (Quảng Đông). Nếu đi về phía Nam của Nam Dương phải đi từ cửa Sa Mã Kỳ (Đài Loan) đến các nước ở Lữ Tống (Philipin), giáp phía Tây Dương. Muốn đến Chiết Giang, Mân Việt… Nhật Bản phải đi theo hướng phía Tây biển Thất Châu, Côn Lôn rồi đến Vạn Lý Trường Sa ngoại (ngoài Vạn lý Trường Sa), qua cửa biển đảo Sa Mã Kỳ - đi theo đường thẳng dây cung mới an toàn. Từ Trung Quốc mà đến nước Indonesia phải đi phía ngoài Vạn lý Trường Sa. Nơi đây biển mờ mịt, không lấy gì làm chuẩn được cho nên muốn đi phải theo những doi cát ở biển Việt rồi mới đến Thất Châu Dương và từ đó đi tới Indonesia; Vùng biển này nước mênh mông nên giới hạn cũng mênh mông…”. (Trích sách “Danh hoàn Chí lược”).
Bản đồ chưa chú thích trong đó có ghi eo biển Quảng Nam và đảo Thất Châu Dương cùng bản đồ Việt Nam
Bản đồ đã chú thích trong đó có ghi eo biển Quảng Nam và đảo Thất Châu Dương cùng bản đồ Việt NamThông qua tư liệu đã nêu ở cuốn sách này, giúp chúng ta có thêm những bằng chứng quý giá để góp phần khẳng định ngay từ thời nhà Thanh, các bản đồ của Trung Quốc đã vẽ các đảo trên vùng biển của họ chỉ có đảo Hải Nam, Đài Loan là gần với khu vực biển Việt Nam. Điều đó khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa (biển Thất Châu Dương, theo tên gọi trên bản đồ Trung Quốc thời nhà Thanh) là thuộc chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Đặng Hùng (Hội Khoa học lịch sử Việt Nam)
Tuesday, September 29, 2015
Thật là hãnh diện trong hàng ngũ H.O có được một nhân vật tiếp nối binh nghiệp tại hải ngoại, lại còn thành công cả về "kinh tế gia đình".
Trong khi đó lại có vài H.O. gây tiếng xấu không ít về việc đầu quân giặc, như hai H.O Nguyễn Phương Hùng, Ngyễn Ngọc Lập đã về VN khóc lóc và o bế bọn giặc cộng ra sao, chắc mọi người đều đã biết.
Lại cũng có một H.O gây tai tiếng và ồn ào những chuyện khá xấu hổ như ông biệt kích Hà Kim Âu mà mới đây đã có bức thư chuyển lên khắp diễn đàn nói về nhân vật Kim Âu này.
Tôi tuy không được hân hạnh ở trong diện H.O, nhưng thân nhân và thân hữu của tôi trong hàng ngũ H.O. cũng khá nhiều.
Hôm nay được đọc bài "Một H.O Độc Đáo" là Trung Tá Nguyễn Thế Thăng trong Quân Ngũ Hoa Kỳ trong lòng tôi rất vui thích nên muốn chuyển tiếp rộng đến nhiều địa chỉ để cùng chia sẻ niềm vui với gia đình Trung Tá Nguyễn Thế Thăng.
Đúng là MỘT H.O ĐỘC ĐÁO.
Còn "H.O Không Giống Ai" xin dành cho mấy nhân vật Nguyễn Phương Hùng, Nguyễn Ngọc Lập và Kim Âu Hà Văn Sơn mới đúng hơn.
Xin cám ơn Vi Hữu Tung Pham đã chuyển đến tôi bài viết "Một H.O Độc Đáo" để cho tôi có dịp góp đôi lời với gia đình H.O. mà trong lòng tôi luôn kính trọng.
UV.
Một H.O độc đáo
Đăng trên Việt Báo:
Một H.O. Không Giống Ai?
Đáng lý tôi phải viết ra chuyện nầy để chư liệt vị thưởng lãm từ lâu; nhưng cứ lần khân mãi cho đến bây giờ mới “khai bút”! Mà bây giờ có nghĩa là đã qua những 25 n...
| |||||||
Preview by Yahoo
| |||||||
Một H.O. Không Giống Ai?
26/09/201500:00:00(Xem: 1429)
- Tác giả :
- letamanh
Đáng lý tôi phải viết ra chuyện nầy để chư liệt vị thưởng lãm từ lâu; nhưng cứ lần khân mãi cho đến bây giờ mới “khai bút”! Mà bây giờ có nghĩa là đã qua những 25 năm sau khi chương trình H.O bắt đầu.
Hồi đó, trước năm 1990, chẳng có ai trong những người tù từ các trại tập trung của Cộng Sản được “tha” về với gia đình mà tưởng tượng được sẽ có một ngày bản thân họ cùng vợ con được thong dong leo lên phi cơ; thực hiện một cuộc “đổi đời” từ địa ngục trần gian tới thiên đường!
Thế nhưng chuyện khó tin đó đã trở thành sự thật. Chương trình định cư những người tù, trở về từ các trại tập trung của Cộng Sản sau ngày mất nước 30-4-75 đã không còn là hoang đường, là ảo tưởng nữa. Chúng tôi, hàng mấy chục ngàn cựu tù, đủ mọi thành phần quân, cán, chính và dân sự trong guồng máy Việt Nam Cộng Hòa; đã được cứu vớt.
Ở đây, chúng ta chỉ gói gọn về lãnh vực nhân đạo và tiếng của con tim, để nói lên lòng cảm ơn nhân dân, quốc hội, chính phủ Hoa Kỳ, đã tạo cơ hội cho hàng trăm ngàn những con người chúng tôi được “đổi đời”, làm lại từ đầu trên quê hương tự do dân chủ và tôn trọng quyền con người! Nếu không có chương trình H.O, chúng tôi và gia đình vợ con sẽ sống ra sao trong một đất nước, dưới gót dép râu ngu dốt và nón tai bèo chất chứa hận thù để, đến 40 năm sau kết thúc cuộc chiến, Việt Nam càng ngày càng trở về với thời mông muội của văn mình nhân loại!
Bốn mươi năm sau cái ngày đen tối 30 tháng tư, 25 năm sau ngày chúng tôi được đổi dời; có rất nhiều chuyện để kể về những H.O. Hàng trăm, thậm chí hàng ngàn câu chuyện nói về sự thành công của những H.O và con cái họ trên quê hương thứ hai như thế nào… Nhưng câu chuyện kể của tôi sau đây thì rất dặc biệt, rất riêng biệt, rất khác biệt với những chuyện bình thường, về một HO hoàn toàn không giống ai trong số những HO mà tôi được quen biết!
Đại đa số những cựu tù theo diện H.O, qua Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng, tháp tùng là vợ con nheo nhóc. Khi đến nơi, trừ một số ít tiếp tục theo học ở các Đại Học Cộng Đồng, sau đó làm những việc chuyên môn… còn đại thể, vừa học Anh Văn trong các trường ESL ban đêm miễn phí, ban ngày tìm việc làm bất cứ loại gì để “bắc cầu” cho các con được đi học; lo cho từng đứa, nguyện cầu cho chúng vào đại học, tốt nghiệp ra trường… Nhìn chung, chúng tôi đều thực tế, tất cả vì tương lai các con, dồn hết sức, dầu tư mọi thứ cho chúng được thành công!
Trường hợp “cá biệt” sau đây, tôi nghĩ, có thể là rất đặc biệt trong hàng ngũ những cựu tù H.O.! Tôi vẫn thường kêu tù hữu này là thằng, tiếng thằng, tiếng mày tao thân thương suốt thời gian chúng tôi cùng quằn quại trong thê lương, khốn cùng của tầng cuối địa ngục từ trại Long Giao (Long Khánh), ra đến Hoàng Liên Sơn, xuống Hồng Ka (Yên Bái), về Tân Lập (Vĩnh Phú)…Trong hơn một trăm hai mươi con giáp, nó hoàn toàn không giống con nào. Anh em trong tù, đa số bị cú lừa đau đớn của cọng sản, tự ý nộp mình “trình diện đi cải tạo” trong khi nó bị bắn nát đầu gối, bị bắt với vũ khí trên tay, bị tra tấn, bị cùm xiềng rồi mới bị đưa vô tù với hai cánh tay còn bị trói lặt sau lưng! Người cựu tù nầy, lúc mất nước, chỉ là một Trung Úy xuất thân Khóa 2 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, chưa có vợ. Khi nghe Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng, nó trốn vào rừng chiến đấu trong hàng ngũ “Phục Quốc”. Tháng 10/1975 bị bắt, bị hành hạ tàn phế một bên chân nên nó chỉ còn một cẳng rưỡi thôi. Khi ở trại K2 Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú, tuy đôi chân khập khiểng nó vẫn hàng ngày ”được phân công” gánh hai thúng đi dọn hết “phân bắc” trong tất cả các nhà xí trong trại ra ruộng rau xanh…! Anh em tù thường gọi là “Thăng cứt”, nó dính chết cái tên từ đó! Sau hơn tám năm nó được ra trại về xum họp gia đình.
Thế mà, sau khi qua Hoa Kỳ theo diện H.O như bao nhiêu anh em tù khác, nó lại càng không giống ai khi có một “chổ đứng” riêng biệt không ai ngờ. Lúc tôi gặp lại nó, với quân phục rằn ri, mang lon Trung Tá trong trong Oregon State Defense Force, thuộc Oregon Military Department, thì tưởng rằng mình đang nằm mơ, tưởng nó mua đồ lính cũ về mặc lấy le chơi! Không thể nào ngờ một tù chính trị được định cư theo diện “con bà phước” H.O mà, sau 25 năm lại là một sĩ quan trong đội quân phòng vệ tiểu bang Oregon.
Tôi tham dự trại Hướng Đạo Trưởng Niên mang tên “Bách Hợp 2015” tại Oregon từ ngày 28-29-30 tháng 8 năm 2015. Xét trong số bạn bè định cư ở tiểu bang nầy, quanh quẩn chỉ một mình “Thăng C.” nằm trong danh sách nhờ vả! Qua điện thoại, nó rất hoan hỷ chấp nhận đón ở phi trường và cho tôi tá túc mấy ngày chưa nhập trại…! Yên chí lớn, vợ tôi cũng an lòng vì có bạn tin cẩn để giao “hàng quý hiếm”!
Cả vợ chồng Thăng có mặt ở phi trường Portland rất sớm đón tôi về nhà cách xa 45 phút đường xa lộ. Hai ông bà rất niềm nỡ và hiếu khách, làm tôi cũng bớt phần lo. Ở khách sạn làm sao bằng tá túc nhà bạn bè để ôn lại những vui buồn của đầy ắp kỷ niệm tù! Sau khi vào nhà, tôi sững sờ với những hình ảnh treo đầy phòng làm việc của Thăng. Nếu không có dịp đến nhà chàng, tôi nghĩ, chẳng bao giờ nhìn được những tấm hình, bằng cấp, huy chương… của người bạn tù H.O thuở trước, hiện tại là một sĩ quan trong quân đội tiểu bang Oregon! Quả thật tôi bị lóa mắt vì không ngờ bạn mình lại thăng tiến trong lãnh vực độc đáo này! Quan sát quanh phòng, nào lễ phục, quân phục làm việc, quân phục tác chiến, các loại mủ mảo, túi ngủ dã chiến… các loại súng cá nhân từ dài đến ngắn. Đặc biệt lần đầu tiên tôi thấy cây súng hình dáng như cold 45, nhưng nhỏ xíu nằm gọn trong lòng bàn tay, rất đẹp!
Vợ chồng Thăng nhìn tôi cười, tôi thật sự ngạc nhiên và khâm phục người bạn tù ngày nào, bây giờ đường đường là một sĩ quan cấp tá trong quân đội Hoa Kỳ. Sau cơm tối, tôi bèn mon men cố ý “phỏng vấn” nhưng nó cố tình đánh trống lảng, vin đủ mọi lý do từ chối vì “chuyện của tui thật sự không giống ai. Rất tầm thường. Một cái job thông ngôn thông dịch bình thường như mọi người. Còn thua cái job Disney land nữa kìa (cười). Anh em mình, nếu không mất nước, nếu chưa bị leo lên bàn thờ ngồi ngắm gà mái khỏa thân, thì tối thiểu cũng Đại Tá hay Tướng rồi, chứ nhằm nhò gỉ một cái mai bạc này” nó nói.
Nhưng tao chỉ tò mò muốn biết lúc nào và nguyên do nào mầy vào quân đội Tiểu Bang Oregon. Ở Cali, anh em Tân Lập nghe nói mầy vào lính, cấp bậc trung tá, nhiều đứa thối miệng đồng hóa mầy với quý vị “nhà đòn”. Bây giờ, trước mặt tao là những bằng chứng rất thật; nào hình ảnh, bằng cấp, huy chương, lệnh thăng cấp có chữ ký của Thống Đốc…Và một lô súng ống, đạn dược, quân trang, quân dụng được trử trong nhà mầy! Thú thật, tao không thể tưởng tượng trong anh em mình lại có một H.O mà không giống “H.O.” nào hết trơn dzậy ?!?
Sau ba ngày trại “Bách Hợp 2015” trong rừng, tôi được Thăng lên tận trại đón về. Bà xã nó đi thăm con gái vừa sanh cháu ngoại. Sau khi ra tù, chàng lấy vợ trẻ hơn những 10 tuổi. Lúc lên máy bay theo diện HO13, bầu đoàn thê tử của nó là một vợ và hai con nhỏ xíu! Hai cháu gái giờ dây là hai Dược Sĩ đang phục vụ trong hai bệnh viện ngay tai Oregon,
Thăng chỡ thẳng tôi đến trang trại của vợ chồng sở hữu đã 15 năm trước. Theo lời nó kể, lúc đầu mới qua Mỹ, vợ chồng chàng ở Cali, nhưng có bà con ở Washington State và Oregon, nên dọn đến Olympia, sau đó trụ lại Oregon vì hai vợ chồng cùng đi làm cho hãng điện tử Merix. Một năm sau, khi thời cơ đến, nó sang lại và làm chủ một “garage” chuyên sửa hộp số xe với một manager cùng 5 thợ người Mỹ. Từ cơ ngơi này, tiến đến mua hai trang trại, tổng cộng hơn 30 mẫu tây. Quả thật, “giấc mơ Hoa Kỳ” và vận may đã mỉm cười với gia đình nó khiến cho mọi việc đều xuôi tay chèo mát mái một cách nhẹ nhàng!
Cuối năm 2000, Quân đội Oregon tuyễn dụng một số Thông Dịch Viên các thứ tiếng. Thăng nạp đơn ứng thí, được trúng tuyển. Lúc tuyễn dụng, người ta xem résumé, chấp nhận cho chàng cấp bực Trung Úy, nó không chịu, vì nếu tính từ 1975 thì giờ đây (2000) nó tối thiểu phải là cấp Tá trong QLVNCH. Vì thế, sau đó người ta thuận cho nó mang lon Đại Úy.. Vì cùng lúc đang cưu mang cơ xưởng sữa xe và trang trại… nên chàng xin làm việc theo Hợp Đồng. Thế là từ đó nó ung dung làm việc và tuần tự trèo từ Đại Úy lên đến cấp bực Trung Tá trong 12 năm!
Trang trại của vợ chồng giờ đây cho người Mỹ mướn trồng cỏ trong kỷ nghệ chăn nuôi bò sửa. Có mấy mẫu trồng táo, mận giống từ Đà Lạt. Tuy vợ chồng đã về hưu thong dong nhân thế, mua nhà trong thành phố, nhưng tới mùa thì phải tốn cả tháng thu hoạch, sấy, đóng gói và phân phối… Nhưng cái “job” quân đội thì chàng vẫn tiếp tục không kể tuổi tác !!!
Tù chính trị Việt Nam sau 1975, được định cư Hoa Kỳ theo diện H.O. hàng trăm ngàn. Nhưng, theo tôi chủ quan, Nguyễn Thế Thăng là một H.O. độc đáo, có một không hai, vẫn còn theo “binh nghiệp” ngay trên quê hương thứ hai nầy. Hậu duệ thế hệ thứ hai, thứ ba… vào quân đội Hoa Kỳ, mang lon cấp Tá, cấp Tướng là chuyện bình thường. Nhưng nó, chính nó, một người tù H.O mới là chuyện đáng nói! Tôi rất vinh dự có nó là một tù hữu của tôi.
Letamanh
Tháng 9 năm 2015
Hồi đó, trước năm 1990, chẳng có ai trong những người tù từ các trại tập trung của Cộng Sản được “tha” về với gia đình mà tưởng tượng được sẽ có một ngày bản thân họ cùng vợ con được thong dong leo lên phi cơ; thực hiện một cuộc “đổi đời” từ địa ngục trần gian tới thiên đường!
Thế nhưng chuyện khó tin đó đã trở thành sự thật. Chương trình định cư những người tù, trở về từ các trại tập trung của Cộng Sản sau ngày mất nước 30-4-75 đã không còn là hoang đường, là ảo tưởng nữa. Chúng tôi, hàng mấy chục ngàn cựu tù, đủ mọi thành phần quân, cán, chính và dân sự trong guồng máy Việt Nam Cộng Hòa; đã được cứu vớt.
Ở đây, chúng ta chỉ gói gọn về lãnh vực nhân đạo và tiếng của con tim, để nói lên lòng cảm ơn nhân dân, quốc hội, chính phủ Hoa Kỳ, đã tạo cơ hội cho hàng trăm ngàn những con người chúng tôi được “đổi đời”, làm lại từ đầu trên quê hương tự do dân chủ và tôn trọng quyền con người! Nếu không có chương trình H.O, chúng tôi và gia đình vợ con sẽ sống ra sao trong một đất nước, dưới gót dép râu ngu dốt và nón tai bèo chất chứa hận thù để, đến 40 năm sau kết thúc cuộc chiến, Việt Nam càng ngày càng trở về với thời mông muội của văn mình nhân loại!
Bốn mươi năm sau cái ngày đen tối 30 tháng tư, 25 năm sau ngày chúng tôi được đổi dời; có rất nhiều chuyện để kể về những H.O. Hàng trăm, thậm chí hàng ngàn câu chuyện nói về sự thành công của những H.O và con cái họ trên quê hương thứ hai như thế nào… Nhưng câu chuyện kể của tôi sau đây thì rất dặc biệt, rất riêng biệt, rất khác biệt với những chuyện bình thường, về một HO hoàn toàn không giống ai trong số những HO mà tôi được quen biết!
xXx
Đại đa số những cựu tù theo diện H.O, qua Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng, tháp tùng là vợ con nheo nhóc. Khi đến nơi, trừ một số ít tiếp tục theo học ở các Đại Học Cộng Đồng, sau đó làm những việc chuyên môn… còn đại thể, vừa học Anh Văn trong các trường ESL ban đêm miễn phí, ban ngày tìm việc làm bất cứ loại gì để “bắc cầu” cho các con được đi học; lo cho từng đứa, nguyện cầu cho chúng vào đại học, tốt nghiệp ra trường… Nhìn chung, chúng tôi đều thực tế, tất cả vì tương lai các con, dồn hết sức, dầu tư mọi thứ cho chúng được thành công!
Trường hợp “cá biệt” sau đây, tôi nghĩ, có thể là rất đặc biệt trong hàng ngũ những cựu tù H.O.! Tôi vẫn thường kêu tù hữu này là thằng, tiếng thằng, tiếng mày tao thân thương suốt thời gian chúng tôi cùng quằn quại trong thê lương, khốn cùng của tầng cuối địa ngục từ trại Long Giao (Long Khánh), ra đến Hoàng Liên Sơn, xuống Hồng Ka (Yên Bái), về Tân Lập (Vĩnh Phú)…Trong hơn một trăm hai mươi con giáp, nó hoàn toàn không giống con nào. Anh em trong tù, đa số bị cú lừa đau đớn của cọng sản, tự ý nộp mình “trình diện đi cải tạo” trong khi nó bị bắn nát đầu gối, bị bắt với vũ khí trên tay, bị tra tấn, bị cùm xiềng rồi mới bị đưa vô tù với hai cánh tay còn bị trói lặt sau lưng! Người cựu tù nầy, lúc mất nước, chỉ là một Trung Úy xuất thân Khóa 2 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, chưa có vợ. Khi nghe Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng, nó trốn vào rừng chiến đấu trong hàng ngũ “Phục Quốc”. Tháng 10/1975 bị bắt, bị hành hạ tàn phế một bên chân nên nó chỉ còn một cẳng rưỡi thôi. Khi ở trại K2 Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú, tuy đôi chân khập khiểng nó vẫn hàng ngày ”được phân công” gánh hai thúng đi dọn hết “phân bắc” trong tất cả các nhà xí trong trại ra ruộng rau xanh…! Anh em tù thường gọi là “Thăng cứt”, nó dính chết cái tên từ đó! Sau hơn tám năm nó được ra trại về xum họp gia đình.
Thế mà, sau khi qua Hoa Kỳ theo diện H.O như bao nhiêu anh em tù khác, nó lại càng không giống ai khi có một “chổ đứng” riêng biệt không ai ngờ. Lúc tôi gặp lại nó, với quân phục rằn ri, mang lon Trung Tá trong trong Oregon State Defense Force, thuộc Oregon Military Department, thì tưởng rằng mình đang nằm mơ, tưởng nó mua đồ lính cũ về mặc lấy le chơi! Không thể nào ngờ một tù chính trị được định cư theo diện “con bà phước” H.O mà, sau 25 năm lại là một sĩ quan trong đội quân phòng vệ tiểu bang Oregon.
xXx
Tôi tham dự trại Hướng Đạo Trưởng Niên mang tên “Bách Hợp 2015” tại Oregon từ ngày 28-29-30 tháng 8 năm 2015. Xét trong số bạn bè định cư ở tiểu bang nầy, quanh quẩn chỉ một mình “Thăng C.” nằm trong danh sách nhờ vả! Qua điện thoại, nó rất hoan hỷ chấp nhận đón ở phi trường và cho tôi tá túc mấy ngày chưa nhập trại…! Yên chí lớn, vợ tôi cũng an lòng vì có bạn tin cẩn để giao “hàng quý hiếm”!
Cả vợ chồng Thăng có mặt ở phi trường Portland rất sớm đón tôi về nhà cách xa 45 phút đường xa lộ. Hai ông bà rất niềm nỡ và hiếu khách, làm tôi cũng bớt phần lo. Ở khách sạn làm sao bằng tá túc nhà bạn bè để ôn lại những vui buồn của đầy ắp kỷ niệm tù! Sau khi vào nhà, tôi sững sờ với những hình ảnh treo đầy phòng làm việc của Thăng. Nếu không có dịp đến nhà chàng, tôi nghĩ, chẳng bao giờ nhìn được những tấm hình, bằng cấp, huy chương… của người bạn tù H.O thuở trước, hiện tại là một sĩ quan trong quân đội tiểu bang Oregon! Quả thật tôi bị lóa mắt vì không ngờ bạn mình lại thăng tiến trong lãnh vực độc đáo này! Quan sát quanh phòng, nào lễ phục, quân phục làm việc, quân phục tác chiến, các loại mủ mảo, túi ngủ dã chiến… các loại súng cá nhân từ dài đến ngắn. Đặc biệt lần đầu tiên tôi thấy cây súng hình dáng như cold 45, nhưng nhỏ xíu nằm gọn trong lòng bàn tay, rất đẹp!
Vợ chồng Thăng nhìn tôi cười, tôi thật sự ngạc nhiên và khâm phục người bạn tù ngày nào, bây giờ đường đường là một sĩ quan cấp tá trong quân đội Hoa Kỳ. Sau cơm tối, tôi bèn mon men cố ý “phỏng vấn” nhưng nó cố tình đánh trống lảng, vin đủ mọi lý do từ chối vì “chuyện của tui thật sự không giống ai. Rất tầm thường. Một cái job thông ngôn thông dịch bình thường như mọi người. Còn thua cái job Disney land nữa kìa (cười). Anh em mình, nếu không mất nước, nếu chưa bị leo lên bàn thờ ngồi ngắm gà mái khỏa thân, thì tối thiểu cũng Đại Tá hay Tướng rồi, chứ nhằm nhò gỉ một cái mai bạc này” nó nói.
Nhưng tao chỉ tò mò muốn biết lúc nào và nguyên do nào mầy vào quân đội Tiểu Bang Oregon. Ở Cali, anh em Tân Lập nghe nói mầy vào lính, cấp bậc trung tá, nhiều đứa thối miệng đồng hóa mầy với quý vị “nhà đòn”. Bây giờ, trước mặt tao là những bằng chứng rất thật; nào hình ảnh, bằng cấp, huy chương, lệnh thăng cấp có chữ ký của Thống Đốc…Và một lô súng ống, đạn dược, quân trang, quân dụng được trử trong nhà mầy! Thú thật, tao không thể tưởng tượng trong anh em mình lại có một H.O mà không giống “H.O.” nào hết trơn dzậy ?!?
xXx
Sau ba ngày trại “Bách Hợp 2015” trong rừng, tôi được Thăng lên tận trại đón về. Bà xã nó đi thăm con gái vừa sanh cháu ngoại. Sau khi ra tù, chàng lấy vợ trẻ hơn những 10 tuổi. Lúc lên máy bay theo diện HO13, bầu đoàn thê tử của nó là một vợ và hai con nhỏ xíu! Hai cháu gái giờ dây là hai Dược Sĩ đang phục vụ trong hai bệnh viện ngay tai Oregon,
Thăng chỡ thẳng tôi đến trang trại của vợ chồng sở hữu đã 15 năm trước. Theo lời nó kể, lúc đầu mới qua Mỹ, vợ chồng chàng ở Cali, nhưng có bà con ở Washington State và Oregon, nên dọn đến Olympia, sau đó trụ lại Oregon vì hai vợ chồng cùng đi làm cho hãng điện tử Merix. Một năm sau, khi thời cơ đến, nó sang lại và làm chủ một “garage” chuyên sửa hộp số xe với một manager cùng 5 thợ người Mỹ. Từ cơ ngơi này, tiến đến mua hai trang trại, tổng cộng hơn 30 mẫu tây. Quả thật, “giấc mơ Hoa Kỳ” và vận may đã mỉm cười với gia đình nó khiến cho mọi việc đều xuôi tay chèo mát mái một cách nhẹ nhàng!
Cuối năm 2000, Quân đội Oregon tuyễn dụng một số Thông Dịch Viên các thứ tiếng. Thăng nạp đơn ứng thí, được trúng tuyển. Lúc tuyễn dụng, người ta xem résumé, chấp nhận cho chàng cấp bực Trung Úy, nó không chịu, vì nếu tính từ 1975 thì giờ đây (2000) nó tối thiểu phải là cấp Tá trong QLVNCH. Vì thế, sau đó người ta thuận cho nó mang lon Đại Úy.. Vì cùng lúc đang cưu mang cơ xưởng sữa xe và trang trại… nên chàng xin làm việc theo Hợp Đồng. Thế là từ đó nó ung dung làm việc và tuần tự trèo từ Đại Úy lên đến cấp bực Trung Tá trong 12 năm!
Trang trại của vợ chồng giờ đây cho người Mỹ mướn trồng cỏ trong kỷ nghệ chăn nuôi bò sửa. Có mấy mẫu trồng táo, mận giống từ Đà Lạt. Tuy vợ chồng đã về hưu thong dong nhân thế, mua nhà trong thành phố, nhưng tới mùa thì phải tốn cả tháng thu hoạch, sấy, đóng gói và phân phối… Nhưng cái “job” quân đội thì chàng vẫn tiếp tục không kể tuổi tác !!!
Tù chính trị Việt Nam sau 1975, được định cư Hoa Kỳ theo diện H.O. hàng trăm ngàn. Nhưng, theo tôi chủ quan, Nguyễn Thế Thăng là một H.O. độc đáo, có một không hai, vẫn còn theo “binh nghiệp” ngay trên quê hương thứ hai nầy. Hậu duệ thế hệ thứ hai, thứ ba… vào quân đội Hoa Kỳ, mang lon cấp Tá, cấp Tướng là chuyện bình thường. Nhưng nó, chính nó, một người tù H.O mới là chuyện đáng nói! Tôi rất vinh dự có nó là một tù hữu của tôi.
Letamanh
Tháng 9 năm 2015
Ý kiến bạn đọc
Saturday, September 12, 2015
Hình ảnh một Saigon cuả 60 năm trước .
SVSQ Thủ Đức dắt đào bát phố cuối tuầnSài Gòn vẫn rất dễ thươngCái tên dù lạ con đường vẫn quen
Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?”
Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc ViễnĐông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ - khô bò - nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi - Pasteur)…Sài Gòn của tôi “sáng nắng chiều mưa”. Mưa như được lập trình sẵn. Hoặc chiều hoặc sáng, có khi… cùng giờ nên người Sài Gòn có thể nhởn nhơ bát phố khi “cơn mưa qua”, rất ít khi mưa như… đòi nợ, điều này những năm gần đây hình như thay đổi, mưa dầm và mưa… mất trật tự, người Sài Gòn vốn quen kiểu “xưa” chẳng biết đâu mà lần! Nắng Sài Gòn không quá gắt. Có lẽ nhờ thế nên mới chợt mát chỉ qua màu áo lụa Hà Đông.
Sài Gòn của tôi có những ngôi trường đi vào thơ và nhạc như Văn Khoa, Luật, Gia Long, Trưng Vương, những con đường địa chỉ báo như Lê Lai, Phạm Ngũ Lão… Hồn đất và hồn người quyện nhau hồn hậu, chân tình.
Sài Gòn của tôi quốc vương Cam-bốt từng du học, người Sài Gòn chê hàng Thái, không thèm xài Colgate vì đã có kem Hynos “anh yêu em, anh yêu luôn kem” xịn hơn.
Sài Gòn của tôi trẻ - luôn luôn trẻ. Không phải vì thiếu phố cổ hay người Sài Gòn không thích “ra vẻ cụ” mà vì Sài Gòn luôn luôn mới, hồn nhiên và dễ thương, không điệu đà, kệch cỡm.
Sài Gòn của tôi còn nhiều hơn thế. Không diễn tả hết dù văn hóa cách mấy. Chỉ giản dị như lời hát “Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!”
Đại lộ Lê Lợi,
Không lớn lao gì, kỷ niệm chỉ chứa đầy ngăn cặp học trò. Sự ồn ào sống động, dễ thương của vùng đất và con người. Đi xa, cứ về đến cầu Sài Gòn hay cầu Bình Điền là coi như đến nhà.
Như bạn bè cùng trang lứa, tôi giữ Sài Gòn như giữ chính cuộc đời mình. Khóc một ngày khi thương xá Tam Đa bị thiêu rụi. Thức một đêm khi Eden bị đập bỏ. Có thể thay vào sẽ là một tòa nhà đẹp hơn, nhưng Eden của ngày nào:
“Qua hành lang Eden ghi kỷ niệm
Buổi chiều mưa hai đứa đứng bên thềm
Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím
Anh quen rồi, không lạnh - lính mà em!”
Thì không bao giờ còn nữa .
Một góc chợ Bến Thành, Sài Gòn năm 1965. Ảnh: Robert Gauthier.
Hơn sáu mươi năm hãnh diện làm “dân Sài Gòn”. Bỗng chợt giật mình tự hỏi, có khi nào người ta phù phép để Sài Gòn biến mất không nhỉ? Có khi nào Vương Cung Thánh Đường, chợ Bến Thành, bưu điện Sài Gòn, một sớm mai thức dậy người Sài Gòn ngơ ngác hay tin sẽ trở thành trung tâm thương mại, cao ốc chọc trời…
Ôi! Sài Gòn của tôi!!Tôi vẫn nói vui rằng mình giữ lại “Sài Gòn xưa”. Từng tên đường, góc phố, giữ lại những buổi chiều hẹn hò: “Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” và giữ lại mãi mãi,những dấu yêu xưa!
Và rồi lại buốt tim khi nghĩ đến một ngày nào “Sài Gòn của tôi” sẽ chỉ còn là hoài niệm. Vô tình ai đó sẽ tìm thấy trong những trang sách hằn dấu thời gian ở một hiệu sách cũ.
Sài Gòn ơi!Nhà Văn hóa cuối đại lộ Lê Lợi,Tôi gặp lại họ rất tình cờ, trong một… tiệm sách cũ, nơi thường lưu lại những gì mà ta còn nhớ hay đã quên.
Những trang giấy đã không còn nguyên màu trắng. Những dòng chữ như cũng nhạt theo năm tháng. Nhưng hình ảnh, dù phôi pha, thì nụ cười, ánh mắt cũng gợi nhớ một thời ta đã sống. Thời mà tên tuổi họ trên môi người hâm mộ Nghệ thuật thứ bảy, và họ được gọi một cách trang trọng là tài tử minh tinh.
Đại lộ Nguyễn Huệ.Chưa xa lắm nhưng cũng đủ để quên những gì không muốn nhớ. Khi mà muốn xem phim người ta không thể làm gì khác hơn là đến rạp, và cứ có phim hay là rạp chật như nêm… Và rạp hát nào cũng treo đầy ảnh minh tinh tài tử, không phải Hồng Kông, Hàn Quốc như bây giờ mà toàn Việt Nam. Tôi say mê điện ảnh, dù chư tới tuổi “đến rạp một mình” và yêu họ, dĩ nhiên
Viện Bảo tàng trong Thảo Cầm Viên
Dạo đó chưa có những chương trình giao lưu, tài tử điện ảnh, ca sĩ tân nhạc cũng chưa phải “chạy sô” như bây giờ. Họ coi nghệ thuật như cứu cánh của đam mê và cả cuộc sống thực tế, nghề tay trái hầu như không có.
Khách sạn Continental Palace và nhà Văn hóaChẳng ai nghe nói Thẩm Thúy Hằng phải đi… biểu diễn tân nhạc để kiếm thêm, cũng không thấy Kiều Chinh tham gia chương trình “đại nhạc hội”. Họ cũng chẳng đóng cùng lúc hai, ba phim như các diễn viên “đắt khách” bây giờ. Dù đó là những tên tuổi lớn của điện ảnh Sài Gòn thuở ấy, những tên tuổi mà lứa tuổi 40, 50 hôm nay, nếu yêu điện ảnh khó mà quên được.
Người dân nghỉ ngơi dưới bóng cây trong Thảo Cầm Viên.Một Kiều Chinh tuyệt vời trong “Hồi Chuông Thiên Mụ”, Thẩm Thúy Hằng với “Người Đẹp Bình Dương”, Kiều Nguyệt Nga - Thu Trang trong “Lục Vân Tiên”, Túy Phượng diễm kiều với vai Công chúa của “Thạch Sanh - Lý Thông”…
Phía trước chợ Bến Thành.Tôi yêu nét thùy mị của Thu Trang, vẻ sắc sảo của Kiều Chinh, và nét đẹp duyên dáng Thẩm Thúy Hằng. Nam tài tử có La Thoại Tân, Anh Tứ, Lê Quỳnh, Anh Sơn, Đoàn Châu Mậu, Tâm Phan, Huy Cường, Trần Quang… Vân Hùng chuyên đóng kịch với kỳ nữ Kim Cương, thỉnh thoảng cũng “lên phim”. Rất nhiều, thời nào thì nghệ thuật cũng cần rất nhiều. Dù trong số họ không phải ai cũng đến được vinh quang, và để hoàn thành tác phẩm nghệ thuật, không chỉ có diễn viên chính.
Đền Kỷ Niệm trong Thảo Cầm Viên Sài Gòn.
Con đường chính trong Thảo Cầm Viên.
Tình cờ gặp lại họ trong tiệm sách cũ. Nơi mà quá khứ lẫn với hiện tại, nơi mà thời gian chừng như bất lực, tôi thấy chút vui pha lẫn ngậm ngùi khi bắt gặp Lê Hoàng Hoa thời “mới làm quen với máy quay”, một Lê Mộng Hoàng hơn ba mươi năm về trước vẫn nhăn nhó… như bây giờ. Nụ cười Kiều Chinh và ánh mắt Thu Trang vẫn còn đó.
Nhà Văn hóa cuối đại lộ Lê Lợi,
Một thời tôi đã lớn lên cùng với tên tuổi họ. Rồi tất cả bỗng như không còn, bỗng như chưa từng có. Người ta trôi theo nhịp sống bằng những cách khác nhau, và lưu giữ hay xóa đi dĩ vãng tùy thuộc mỗi người. Có điều chắc chắn rằng những gì đã có thì vẫn còn đâu đó, và ta sẽ gặp khi tình cờ một lúc nào đó đảo ngược được thời gian…
Và… thời gian đã đảo ngược với tôi, trong một tiệm sách cũ… Tình cờ......!
Quầy giải khát vỉa hẻ trên đường Gia Long
Em bé bán mía.
Ông lão đạp xích lô trên đường Gia Long.
Các em bé bán chổi lông gà ở đường Tự Do
Quầy thuốc lá ở góc phố Lê Lợi - Phan Bội Châu cạnh chợ Bến Thành.
Bên trong chợ Tôn Thất Đạm, anh chàng SVSQ Thủ Đức lang thang tìm hàng trong dịp nghỉ phép cuối tuần.
Quán nhậu bình dân gần kho bạc ở góc đường Nguyễn Huệ - Ngô Đức Kế.
Ngoài cổng khách sạn Catinat trên đường Tự Do.
Thiếu nữ Sài Gòn trong một quán cà phê.
Gánh hàng nem nướng ở góc đường Nguyễn Huệ - Ngô Đức Kế.
Đò ngang trên sông Sài Gòn.
Những con đò trên bến.
Chiến hạm Mỹ trên sông Sài Gòn.
Khu vực bến Bạch Đằng.
Tòa Đại sứ Mỹ góc đường Hàm Nghi - Võ Di Nguy
Khu chợ cũ trên đường Hàm Nghi.
Monday, June 29, 2015
Chuyện buồn người vợ tù
Ý Cơ
Chuyện buồn người vợ tù là một chuyện đã thực sự xẩy ra cho một người phụ nữ sau tháng tư năm 1975, Ý Cơ tin rằng hoàn cảnh ấy không xẩy ra riêng cho mình chị, mà câu chuyện thương tâm, phần nào phảng phất một nét đời đã qua nhưng khó quên của mỗi chi em chúng ta, khi có chồng, có con bị tập trung trong trai cải tao. Ý Cơ đã viết lại theo lời kể của nhân vật chính, ví thế chữ tôi được dùng trong chuyện kể, không phải là tác gỉa bài viết, rồi vẫn giữ nguyên danh tánh của hai nhân vật. (Nhân vật tên Chung trong chuyện kể này là Trung Úy Trương Kim Chung, giảng viên Tâm Lý Chiến và Xã Hội Học Trường Võ Bị Quốc Gia Dalat)
Ngôi biệt thự nhỏ, khiêm tốn, cuối đường Hoàng Diệu, Dalạt. Phía sau là vườn hồng, từ đó, thấp thóang nhìn thấy những mầu áo xanh lam, của nữ sinh nội trú trường Couvent des oiseux. Đó là: “Ngôi nhà hạnh phúc!” của chúng tôi, cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó.
Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc, bên ba đứa con nhỏ dễ thương, và một em bé còn đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn rã vui tươi, nhất là khi Tết đến, nó lại có cơ hội tiếp đón những ‘Con bà phước’, đó là những Sĩ Quan huấn luyện viên của trường Võ Bị Quốc Gia Dalat, không được về thăm nhà khi Tết đến, tất cả đều quây quần vui chơi, như chính nhà của họ, bởi vì, vợ chồng tôi, luôn coi các anh như người ruột thịt.
Thời gian như thế chẳng bao lâu, và cuộc sống đầm ấm ấy đã bị đảo lộn, khi tiếng súng bắt đầu nổ vang trên bầu trời Buôn Mê Thuột, để rồi dẫn đến ngày cuối tháng tư đau thương này.
Được lệnh thượng cấp rút khỏi Dalat vào cuối tháng 3/75, Chồng tôi cùng các chiến hữu, đã lặng lẽ lên đường, giữ an ninh lộ trình di tản cho dân chúng và các đơn vị bạn thuộc Tỉnh Tuyên Đức và Thị Xã Dalat, các anh là những người sau cùng rời xa Dalat.
Phải rời xa nơi chốn hạnh phúc của chúng tôi và bè bạn, anh đi mà vẫn quay đầu nhìn lại, anh muốn ở lại để bảo vệ mảnh đất thân yêu ấy, nhưng không thể cãi lệnh thượng cấp, vì anh là một quân nhân, anh kể lại cho tôi như thế, về suy tư của anh trên đường rút quân.
Sàigon thất thủ, Anh cùng một số chiến hữu đã ra đi, sau lời tuyên bố của Tướng Dương Văn Minh. Nhưng.. .. đến chiều tối, Anh đã trở lại cùng mẹ con tôi, Anh đã rời chiến hạm của quân chủng Hải Quân để về cùng mẹ con tôi, vì anh không muốn xa lìa hạnh phúc đời mình, để ra đi, chỉ một mình anh như thế! Nếu biết, trở lại để rồi phải vĩnh viễn xa lìa mẹ con tôi, chắc anh vẫn quyết đinh như thế, tôi tin như vậy ở tình yêu của anh giành cho mẹ con tôi.. .. .. Đó, chính là niềm đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi trong cuộc sống mẹ con tôi đến cuối đời.
Là một sĩ quan cấp uý, cuối tháng 6/75, Anh cũng như bao người khác đã trình diện để học tập cải tạo, với hy vọng sau vài mươi ngày sẽ trở về, nhưng.. .. .. ..
Vắng Anh, tôi ở lại, với bao hoang mang lo sợ, lo sợ cho sinh mệnh của anh nhiều hơn cho sự bơ vơ của mẹ con tôi. Thời gian cứ hun hút qua đi, không một tin tức nào về anh.
Tất cả chúng ta, các chị và mẹ con tôi, cũng như những người cha, ngưòi chồng yêu qúy của chúng ta, đều bị những kẻ chiến thắng lường gạt một cách một cách hèn hạ.
Anh đã cho tôi và các con anh một đời sống ổn định vững vàng, nay không có anh, tôi đã mất hết, mất cả những ước mơ toan tính cho tương lai con cái về sau, tôi chẳng còn gì, ngay cả mạng sống cũng mong manh bên cháu nhỏ mới chào đời.
Nhưng thực tế, vẫn là thực tế, dù là thực tế phũ phàng, tôi và hầu hết chị em chúng ta phải gánh chịu, phải tự vực mình đứng lên, và tự nhủ, phải đứng thật thẳng để là nơi nương tựa vững chãi cho chồng con.
Tự nhủ như thế để lấy lại can đảm, tôi đã phải ngược xuôi trăm đường, bán buôn đủ thứ nơi đầu đường xó chợ, trong cảnh vạn người bán mà chỉ có vài người mua, để thay chồng nuôi con.
Dân chúng tại các thành phố và tỉnh thị, không có gạo mà ăn. Khoai lang, khoai mì, bo bo .. .. đã trở thành lương thực chính, phân phối theo sổ gia đình, khi nào được mua bột mì, đã là một hạnh phúc lớn cho dân chúng miền nam, vì có thể lấy bột làm bánh mì để ăn, hoặc để bán, đi bán bánh mì cũng là một trong muôn nghề, tôi đã nhờ đó nuôi con.
Ngày tháng cứ qua đi, với buồn lo nặng chĩu hai vai, không người chia sẻ, tôi vẫn nhủ thầm, lúc này, mình không được gục ngã, không thể gục ngã, khi mà các con tôi còn qúa nhỏ, khi mà sự sống chết của người chồng yêu qúy không một chút tăm hơi.
Với một chiếc xe đạp cũ kỹ, tôi chạy ngược xuôi kiếm sống, nuôi con. Khi những người cầm quyền CS biết rằng, đa số chi em chúng ta, đang chiếm lòng lề đường, và những đầu con hẻm làm nơi kiếm sống, họ đã cho thi hành chiến dịch, dẹp lòng lề đường, để triệt hạ con đường sống của những vợ con ngụy.
Tôi đành chuyển cách kiếm sống, khi thì chạy thuốc tây, đôi khi vài ba mảnh vải.. .. để chuyển từ tay người muốn bán, đến tay người muốn mua, ở giữa mình kiếm vài củ khoai nuôi con.. ..
Có những lúc đạp xe muốn kiệt sức, vì từ sáng chưa có chút gì vào bụng ngòai một ly nước lạnh, trời Saigon nắng gắt, đạp xe mà không nhìn thấy gì phía trước, không biết vì mồ hôi từ trán chẩy xuống, hay những gọt nước mắt tuôn rơi. Nhiều lúc đầu óc muốn vỡ tung, vì những mưu toan sinh kế, trước những ách bức nặng nề do xã hội chủ nghĩa gây nên, ấy thế, những giây phút tưởng như cuồng điên ấy, có lẽ còn dễ chịu hơn những khi màn đêm buông xuống,
Ngồi cạnh giường, nhìn đàn con ngủ, những khuôn mặt ngây thơ vô tội, nhưng chắc cũng đã một chút ấm lòng, vì chiều nay mẹ đã mang về cho các con được hơn một ký gạo.
Nhưng còn chồng tôi đâu? đói-no, ấm-lạnh ra sao? Anh là người nặng tình vợ con, liệu có yên giấc ngủ, hay đang chong mắt nhớ vế gia đình, với những lo lắng, mà không sao Anh gánh vác thay vợ lúc này.. Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc, nức nở khóc, để vơi chút buồn lo.
Thời gian qua, gần một năm sau ngày chồng tôi bị đưa đi cải tạo, tôi mới được tin chồng, dù chẳng phải tin vui, nhưng có vẫn hơn.
Anh đang bị bệnh sốt rét ác tính, và thiếu dinh dưỡng trầm trọng, không biết Anh có còn chờ được thấy em lần cuối hay không? Một người bạn đưa tin về, mong ước của Anh là được tin vợ con, trước khi Anh nhắm mắt.
Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi, không còn đủ sức đứng vững, hay tôi đã qùy xuống để xin người về, chỉ đường cho tôi, tìm đến với người chồng bất hạnh cho kịp lúc.
Ngay tờ mờ sáng hôm sau, tôi đã vội vã lên đường đi, tìm chồng. Băng rừng, vượt suối, muỗi, vắt, cắn bầm tím cả người, không màng tới, quần áo ướt rồi khô, khô lại ướt, gió lạnh căm căm nơi rừng sau, chẳng sờn.
Tìm được trại giam chồng, tôi chưa kịp mừng, một bọn đàn ông với đôi mắt cú vọ hạch hỏi đủ điều, chỉ với lý do, tại sao tôi biết điạ điêm của trại tù này.. .. Nhưng cuối cùng họ cũng cho tôi gặp Anh có lẽ vì: ”cảm phục lòng yêu chồng của phụ nữ miền nam”. Tôi đọc được điều đó, qua ánh mắt của họ gìanh cho tôi lúc đó.
Chồng tôi bệnh nặng, anh em cùng láng, cho mắc võng chồng tôi chính giữa, còn võng cuả Anh Em bao chung quanh để che gió lạnh cho chồng tôi, thật sự, có che được bao nhiêu, vì mỗi khi gió thôi tạt vào, thì tất cả đều phải đón nhận những làn gió lạnh và cát bụi bám đày mặt. Tôi đem lòng kính yêu những tấm lòng ấy, và ngỏ lời cảm ơn các anh.
Tôi chết sững, khi các anh chỉ cho tôi chiếc võng ở giữa, nơi chồng tôi đang nằm, Chồng tôi đó sao? Một người cao gần 1m80, nặng trên 70 ký, nay chỉ còn là một bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra, làm cho đôi má đã hóp, lại càng thấy trũng sâu hơn, đôi mắt lõm sâu không thần sắc.. .. .. nước mắt như cùng lúc với tôi, nhào lăn đến bên Anh, tôi ôm ghì bờ vai Anh, đôi bờ vai ấy, những năm tháng qua đã là nơi nương tưa qúy báu cho tôi, những khi tôi buồn. Còn Anh, Anh không đủ sức kéo đầu tôi ngả vào vai như ngày xưa nữa. Thời gian như ngừng lại, các bạn Anh đứng bên cũng yên lặng ngậm ngùi, yên lặng đến độ tôi đã nghe thấy âm thanh của nước mắt tôi rơi trên vai chồng.
Làm sao tôi có thể quyên được đêm ấy, bên đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt, mà tôi chắc, trước kia oai phong và đẹp trai lắm, trong bộ quân phục VNCH .. .. nhưng.. .. bây giờ.. .. quanh tôi.. .. chỉ còn là những bộ xương biết cử động. Hai mắt tôi đã đau nhức vì khô cạn nước mắt, tôi khóc cho tôi, tôi khóc vì các anh, và chắc các anh cũng đang cùng tôi khóc cho quê hương dân tộc.
Chồng tôi nằm đó, thoi thóp thở, miệng vẫn cố cười, nụ cười héo hắt, chắc Anh đã mãn nguyện, khi biết rằng vợ con Anh còn sống?
Đứa con gái út của Anh mới được tám tháng, nên mẹ nó còn sữa, hai bầu sữa căng nhức đã kéo tôi ra khỏi cơn mê, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi các bạn Anh tránh ra xa môt chút, để tôi có thể san xẻ phần sữa của con tôi cho bố nó.
Bưng bát sưã, vừa bỏ thêm hai muỗng đường, xúc từng muỗng đưa lên miệng Anh, tôi hy vọng là không có giọt nuớc mắt nào của tôi, rơi vào bát sữa, để Anh không phải uống thêm những đắng cay của cuộc đời vào lúc này.
Không hiểu vì bát sữa, hay vì tôi đã đến, sáng ra Anh đã tỉnh lại nhiều, các bạn Anh bảo, nhờ có sữa tiên nên Anh mới khoẻ lại như vậy, tôi biết các bạn Anh nói đùa, vui, cho chồng tôi lên tinh thần. Xin cảm ơn các Anh.
Chiều đó tôi bắt buộc phải rời trại giam.
Trên đường về, đầu óc lại làm việc, mong sao tìm được cách kiếm tiền đi thăm nuôi chồng, càng sớm càng tốt, nếu không tôi sợ không kịp.. .. không kịp,.. .. không kịp?.. .. tôi không dám nghĩ tiếp.
Sau lần thăm ấy, tôi bị mất liên lạc, vì chồng tôi bị chuyển qua nhiều trại khác.. Mãi đến giữa năm 1977, tôi mới nhận được giấy báo của trại cho phép đến thăm Anh, tại trại an dưỡng Biên Hòa. Sau lần đó, chồng tôi cùng các bạn bị chuyển ra Bắc.
Thời gian này thật khủng khiếp, vì Anh luôn bị chuyển trai, hết Lào Cai, rồi Yên Bái, rồi Lạng Sơn.. .. .. .. !
Vừa được tin anh ở trai này, đến nơi, anh đã bị chuyển đi trại khác, tôi rượt đuổi theo anh nhiều ngày tháng, nhưng không sao bắt kịp bước đi của anh. Phải trở về, vì bốn đứa con nhỏ còn đang cần mẹ. Tôi phải hối lộ cho bọn cán bộ Bưu Điện để có những tấm phiếu gơi qùa, qua đường bưu điện, mỗi phiếu được ba ký. Phải tính tóan làm những món ăn để được lâu, một chút thịt mỡ cũng phải kho thật mặn.. .. .. trông thấy tôi làm những món ăn gởi cho Anh, các con Anh nói:”Bố sướng qúa, bố có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi mình !”.. .. .. còn gì đau khổ và xót sa cho tôi trước những câu nói so sánh ngây thơ ấy, nhưng cũng có chút an ủi cho chúng, là còn được vét xoong.
Cuối cùng tôi cũng tìm ra, họ đã chuyển Anh về Nghệ Tĩnh, tôi vội ra thăm Anh, dù không có giấy phép, đủ mọi mưu kế, đủ mọi tính toán .. .. .. .. tôi không biết mình đã trở thành người nhiều mưu kế như thế tự bao giờ, và cuối cùng tôi đã xin được giấy chứng nhận bị mất cắp tòan bộ giấy tờ và tiền bạc, trong đó có giấy phép được thăm nuôi, nhờ thế tôi đươc vào trại giam chồng tôi. Tôi đến được trại giam vào tối thứ bẩy, qua ngày chủ nhật sẽ được gặp mặt chồng, nhưng qua hôm sau cán bộ ở trại họ cho biết, đến thứ hai mới gặp được vì chồng tội bị đi lao động xa, và họ sẽ cho gọi Anh về.
Đêm chủ nhật trằn trọc mãi không ngủ được, phần vì lạ chỗ, phần thì mừng, mai được gặp mặt chồng sau nhiều năm xa cách, hơn nữa, xem Anh có mạnh khỏe hơn, sau lần được uống sữa tiên hay không? Nhiều ý nghĩ dồn dập tới.. .. .. Nhưng mệt qúa nên tôi cũng thiếp đi được một chút. Trong giấc ngủ, tôi nằm mơ thấy anh về báo tin cho tôi là anh đã chết.. .. .. .. Tôi chòang thức giấc, mà miệng còn ú ớ, như đang nói điều gì, tôi tỉnh dậy, lo buồn, khóc thành tiếng, làm thức giấc các chị cũng đến thăm chồng thăm con như tôi. Các chị biết chuyện, hùa vào an ủi, thôi, sinh dữ tử lành, yên tâm ngủ đi, rồi mai thế nào cũng được gặp, tôi cũng tự an ủi mình như thế.
Hôm sau, mờ mờ sáng, tôi đã cùng chị em nấu cơm cho chồng, cho con một bưã, mong được ấm lòng cả hai. Trời sáng hẳn, qua màn sương mỏng, từ cao nhìn xuống, tôi thấy từng lớp người lũ lượt theo từng tóan đi lao động. Tôi như kẻ mộng du, như có ai xô đẩy sau lưng tôi, tôi chạy ào xuống chân núi, nơi cấm những thân nhân tù cải tạo đến gần, tôi thấy, toán 1, rồi tóan 2, rồi tóan 3 .. .. Tôi chợt nghe tiếng gọi: ”Chị Chung.. .. à .. .. Chị Minh” và tiếp theo có tiếng người la to: ”Anh Chung chết rồi”. Tôi ngã xuống và không còn biết gì nữa.
Khi tỉnh lại, tôi thấy mình bị trói chặt tay chân vào một chiếc chõng tre, một người y tá đang chích thuốc cho tôi. Tôi nghe kể lại, tôi đã bị ngất xỉu hơn một giờ đồng hồ, họ phải khiêng tôi lên từ chân núi, họ phải trói tôi lại vì sợ tôi vật vã, làm gãy kim chích. Tôi nói, tôi không sao, cởi trói cho tôi.
Sau cơn chóang qúa đau đến dại người, tôi trở nên bình tĩnh lạ thường, bây giờ nghĩ lại tôi vẫn còn sợ cho sự bình tĩnh cuả tôi lúc đó, miệng tôi luôn lẩm bẩm: ”Anh linh thiêng đến thế sao?” Khi nhớ lại giấc mơ đêm qua.
Tôi được gặp trại trưởng, tôi yêu cầu gì, họ cũng chấp thuận. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kg qùa tôi mang đến cho chồng, tôi nói với các Anh rằng, ai cần gì thì lấy thức đó, rồi thư về cho vợ con, trả tiền lại cho tôi sau, phải nói thế các Anh mới chịu nhận, thực trong lòng tôi thương các Anh như thương chồng mình vậy.
Sau đó, cán bộ trại mang đến cho tôi một xách tay, bên trong không có gì khác hơn ngòai một bộ bà ba đen đã bạc mầu.
Họ cho tôi một chén cơm hẩm, còn hôi mùi mốc, trên có một qủa trứng luộc, để mang ra mộ Anh, tôi đi như một xác không hồn, mắt mở căng như tóat ra nỗi căm hờn, phẫn uất, nhưng nào nhìn thấy gì phiá trước, bước thấp, bước cao, theo hai người diù tôi đi.
Tôi không thể chết bên mộ chồng, vì ở nơi xa kia, còn có bầy con thơ đang chờ mẹ về, kể chuyện đi thăm bố.
Vài tháng sau, tôi nhận được hai gói qùa trả lại với hàng chữ: ”Người nhận đã chết, trại yêu cầu hoàn lại”. Ra bưu điện nhận lại hai gói qùa, tới bưã ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành, những món qùa trả lại, vì bố các cháu không còn cần nữa, mắt tôi lại một lần mờ lệ thương thân.
Vài năm sau, tôi dời mộ chồng về Saigon, trong ngày bốc mộ Anh, tôi được vài người bạn tù của Anh giúp đỡ, một trong các Anh lấy lên từ dưới mộ, đưa cho tôi một kỷ vật, do chính chồng tôi làm ở trong tù, nó được chồng tôi làm từ những sợi giây kẽm nhỏ, thành sợi giây chuyền, với chiếc mặt nhựa kính máy bay, có khắc hình hai đứa đứng cạnh nhau. Anh đã dấu diếm từng ngày để không bị cán bộ CS tịch thu, các bạn Anh đã tìm thấy trong khi liệm xác Anh, họ đã chôn nó cùng Anh trong huyệt lạnh.
Hơn một năm, sau ngày Anh mất, phường khóm đưa đến cho tôi một biên bản ”Phạm nhân chết”, trong đó ghi rõ tội ác của chồng tôi can tội: ”Giảng viên tâm lý chiến, xã hội học, Trường Võ Bi Quốc Gia Dalat. Án phạt: 3 năm tập trung cải tạo”. Nhưng khi chồng tôi chết, Anh đã bị tù đúng 3 năm 7 tháng. Bẩy tháng oan nghiệt giết chết chồng tôi.
Đến năm 1994 tôi được định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO vì có chồng chết trong khi bị tập trung cải tạo.
Nay các con tôi đã khôn lớn, đã thành đạt, và các cháu rất hiếu thảo. Tôi đã và luôn tự nhủ, phải đứng thẳng làm nơi nương tựa vững chắc cho chồng cho con, trách nhiệm phần nào đã nhẹ gánh.
Em đã sống vì anh, thay anh nuôi dậy con chúng ta, tôi vẫn thì thầm cùng anh như thế, ”Hãy đợi em đến cùng anh”. Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên như thế, để được xum họp với chồng tôi, để nối lại gánh hạnh phúc của chúng tôi bị gẫy sau 4 năm 5 tháng chung sống. Tôi chắc Anh có nhiều nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đến cùng Anh.
Ngôi biệt thự nhỏ, khiêm tốn, cuối đường Hoàng Diệu, Dalạt. Phía sau là vườn hồng, từ đó, thấp thóang nhìn thấy những mầu áo xanh lam, của nữ sinh nội trú trường Couvent des oiseux. Đó là: “Ngôi nhà hạnh phúc!” của chúng tôi, cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó.
Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc, bên ba đứa con nhỏ dễ thương, và một em bé còn đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn rã vui tươi, nhất là khi Tết đến, nó lại có cơ hội tiếp đón những ‘Con bà phước’, đó là những Sĩ Quan huấn luyện viên của trường Võ Bị Quốc Gia Dalat, không được về thăm nhà khi Tết đến, tất cả đều quây quần vui chơi, như chính nhà của họ, bởi vì, vợ chồng tôi, luôn coi các anh như người ruột thịt.
Thời gian như thế chẳng bao lâu, và cuộc sống đầm ấm ấy đã bị đảo lộn, khi tiếng súng bắt đầu nổ vang trên bầu trời Buôn Mê Thuột, để rồi dẫn đến ngày cuối tháng tư đau thương này.
Được lệnh thượng cấp rút khỏi Dalat vào cuối tháng 3/75, Chồng tôi cùng các chiến hữu, đã lặng lẽ lên đường, giữ an ninh lộ trình di tản cho dân chúng và các đơn vị bạn thuộc Tỉnh Tuyên Đức và Thị Xã Dalat, các anh là những người sau cùng rời xa Dalat.
Phải rời xa nơi chốn hạnh phúc của chúng tôi và bè bạn, anh đi mà vẫn quay đầu nhìn lại, anh muốn ở lại để bảo vệ mảnh đất thân yêu ấy, nhưng không thể cãi lệnh thượng cấp, vì anh là một quân nhân, anh kể lại cho tôi như thế, về suy tư của anh trên đường rút quân.
Sàigon thất thủ, Anh cùng một số chiến hữu đã ra đi, sau lời tuyên bố của Tướng Dương Văn Minh. Nhưng.. .. đến chiều tối, Anh đã trở lại cùng mẹ con tôi, Anh đã rời chiến hạm của quân chủng Hải Quân để về cùng mẹ con tôi, vì anh không muốn xa lìa hạnh phúc đời mình, để ra đi, chỉ một mình anh như thế! Nếu biết, trở lại để rồi phải vĩnh viễn xa lìa mẹ con tôi, chắc anh vẫn quyết đinh như thế, tôi tin như vậy ở tình yêu của anh giành cho mẹ con tôi.. .. .. Đó, chính là niềm đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi trong cuộc sống mẹ con tôi đến cuối đời.
Là một sĩ quan cấp uý, cuối tháng 6/75, Anh cũng như bao người khác đã trình diện để học tập cải tạo, với hy vọng sau vài mươi ngày sẽ trở về, nhưng.. .. .. ..
Vắng Anh, tôi ở lại, với bao hoang mang lo sợ, lo sợ cho sinh mệnh của anh nhiều hơn cho sự bơ vơ của mẹ con tôi. Thời gian cứ hun hút qua đi, không một tin tức nào về anh.
Tất cả chúng ta, các chị và mẹ con tôi, cũng như những người cha, ngưòi chồng yêu qúy của chúng ta, đều bị những kẻ chiến thắng lường gạt một cách một cách hèn hạ.
Anh đã cho tôi và các con anh một đời sống ổn định vững vàng, nay không có anh, tôi đã mất hết, mất cả những ước mơ toan tính cho tương lai con cái về sau, tôi chẳng còn gì, ngay cả mạng sống cũng mong manh bên cháu nhỏ mới chào đời.
Nhưng thực tế, vẫn là thực tế, dù là thực tế phũ phàng, tôi và hầu hết chị em chúng ta phải gánh chịu, phải tự vực mình đứng lên, và tự nhủ, phải đứng thật thẳng để là nơi nương tựa vững chãi cho chồng con.
Tự nhủ như thế để lấy lại can đảm, tôi đã phải ngược xuôi trăm đường, bán buôn đủ thứ nơi đầu đường xó chợ, trong cảnh vạn người bán mà chỉ có vài người mua, để thay chồng nuôi con.
Dân chúng tại các thành phố và tỉnh thị, không có gạo mà ăn. Khoai lang, khoai mì, bo bo .. .. đã trở thành lương thực chính, phân phối theo sổ gia đình, khi nào được mua bột mì, đã là một hạnh phúc lớn cho dân chúng miền nam, vì có thể lấy bột làm bánh mì để ăn, hoặc để bán, đi bán bánh mì cũng là một trong muôn nghề, tôi đã nhờ đó nuôi con.
Ngày tháng cứ qua đi, với buồn lo nặng chĩu hai vai, không người chia sẻ, tôi vẫn nhủ thầm, lúc này, mình không được gục ngã, không thể gục ngã, khi mà các con tôi còn qúa nhỏ, khi mà sự sống chết của người chồng yêu qúy không một chút tăm hơi.
Với một chiếc xe đạp cũ kỹ, tôi chạy ngược xuôi kiếm sống, nuôi con. Khi những người cầm quyền CS biết rằng, đa số chi em chúng ta, đang chiếm lòng lề đường, và những đầu con hẻm làm nơi kiếm sống, họ đã cho thi hành chiến dịch, dẹp lòng lề đường, để triệt hạ con đường sống của những vợ con ngụy.
Tôi đành chuyển cách kiếm sống, khi thì chạy thuốc tây, đôi khi vài ba mảnh vải.. .. để chuyển từ tay người muốn bán, đến tay người muốn mua, ở giữa mình kiếm vài củ khoai nuôi con.. ..
Có những lúc đạp xe muốn kiệt sức, vì từ sáng chưa có chút gì vào bụng ngòai một ly nước lạnh, trời Saigon nắng gắt, đạp xe mà không nhìn thấy gì phía trước, không biết vì mồ hôi từ trán chẩy xuống, hay những gọt nước mắt tuôn rơi. Nhiều lúc đầu óc muốn vỡ tung, vì những mưu toan sinh kế, trước những ách bức nặng nề do xã hội chủ nghĩa gây nên, ấy thế, những giây phút tưởng như cuồng điên ấy, có lẽ còn dễ chịu hơn những khi màn đêm buông xuống,
Ngồi cạnh giường, nhìn đàn con ngủ, những khuôn mặt ngây thơ vô tội, nhưng chắc cũng đã một chút ấm lòng, vì chiều nay mẹ đã mang về cho các con được hơn một ký gạo.
Nhưng còn chồng tôi đâu? đói-no, ấm-lạnh ra sao? Anh là người nặng tình vợ con, liệu có yên giấc ngủ, hay đang chong mắt nhớ vế gia đình, với những lo lắng, mà không sao Anh gánh vác thay vợ lúc này.. Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc, nức nở khóc, để vơi chút buồn lo.
Thời gian qua, gần một năm sau ngày chồng tôi bị đưa đi cải tạo, tôi mới được tin chồng, dù chẳng phải tin vui, nhưng có vẫn hơn.
Anh đang bị bệnh sốt rét ác tính, và thiếu dinh dưỡng trầm trọng, không biết Anh có còn chờ được thấy em lần cuối hay không? Một người bạn đưa tin về, mong ước của Anh là được tin vợ con, trước khi Anh nhắm mắt.
Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi, không còn đủ sức đứng vững, hay tôi đã qùy xuống để xin người về, chỉ đường cho tôi, tìm đến với người chồng bất hạnh cho kịp lúc.
Ngay tờ mờ sáng hôm sau, tôi đã vội vã lên đường đi, tìm chồng. Băng rừng, vượt suối, muỗi, vắt, cắn bầm tím cả người, không màng tới, quần áo ướt rồi khô, khô lại ướt, gió lạnh căm căm nơi rừng sau, chẳng sờn.
Tìm được trại giam chồng, tôi chưa kịp mừng, một bọn đàn ông với đôi mắt cú vọ hạch hỏi đủ điều, chỉ với lý do, tại sao tôi biết điạ điêm của trại tù này.. .. Nhưng cuối cùng họ cũng cho tôi gặp Anh có lẽ vì: ”cảm phục lòng yêu chồng của phụ nữ miền nam”. Tôi đọc được điều đó, qua ánh mắt của họ gìanh cho tôi lúc đó.
Chồng tôi bệnh nặng, anh em cùng láng, cho mắc võng chồng tôi chính giữa, còn võng cuả Anh Em bao chung quanh để che gió lạnh cho chồng tôi, thật sự, có che được bao nhiêu, vì mỗi khi gió thôi tạt vào, thì tất cả đều phải đón nhận những làn gió lạnh và cát bụi bám đày mặt. Tôi đem lòng kính yêu những tấm lòng ấy, và ngỏ lời cảm ơn các anh.
Tôi chết sững, khi các anh chỉ cho tôi chiếc võng ở giữa, nơi chồng tôi đang nằm, Chồng tôi đó sao? Một người cao gần 1m80, nặng trên 70 ký, nay chỉ còn là một bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra, làm cho đôi má đã hóp, lại càng thấy trũng sâu hơn, đôi mắt lõm sâu không thần sắc.. .. .. nước mắt như cùng lúc với tôi, nhào lăn đến bên Anh, tôi ôm ghì bờ vai Anh, đôi bờ vai ấy, những năm tháng qua đã là nơi nương tưa qúy báu cho tôi, những khi tôi buồn. Còn Anh, Anh không đủ sức kéo đầu tôi ngả vào vai như ngày xưa nữa. Thời gian như ngừng lại, các bạn Anh đứng bên cũng yên lặng ngậm ngùi, yên lặng đến độ tôi đã nghe thấy âm thanh của nước mắt tôi rơi trên vai chồng.
Làm sao tôi có thể quyên được đêm ấy, bên đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt, mà tôi chắc, trước kia oai phong và đẹp trai lắm, trong bộ quân phục VNCH .. .. nhưng.. .. bây giờ.. .. quanh tôi.. .. chỉ còn là những bộ xương biết cử động. Hai mắt tôi đã đau nhức vì khô cạn nước mắt, tôi khóc cho tôi, tôi khóc vì các anh, và chắc các anh cũng đang cùng tôi khóc cho quê hương dân tộc.
Chồng tôi nằm đó, thoi thóp thở, miệng vẫn cố cười, nụ cười héo hắt, chắc Anh đã mãn nguyện, khi biết rằng vợ con Anh còn sống?
Đứa con gái út của Anh mới được tám tháng, nên mẹ nó còn sữa, hai bầu sữa căng nhức đã kéo tôi ra khỏi cơn mê, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi các bạn Anh tránh ra xa môt chút, để tôi có thể san xẻ phần sữa của con tôi cho bố nó.
Bưng bát sưã, vừa bỏ thêm hai muỗng đường, xúc từng muỗng đưa lên miệng Anh, tôi hy vọng là không có giọt nuớc mắt nào của tôi, rơi vào bát sữa, để Anh không phải uống thêm những đắng cay của cuộc đời vào lúc này.
Không hiểu vì bát sữa, hay vì tôi đã đến, sáng ra Anh đã tỉnh lại nhiều, các bạn Anh bảo, nhờ có sữa tiên nên Anh mới khoẻ lại như vậy, tôi biết các bạn Anh nói đùa, vui, cho chồng tôi lên tinh thần. Xin cảm ơn các Anh.
Chiều đó tôi bắt buộc phải rời trại giam.
Trên đường về, đầu óc lại làm việc, mong sao tìm được cách kiếm tiền đi thăm nuôi chồng, càng sớm càng tốt, nếu không tôi sợ không kịp.. .. không kịp,.. .. không kịp?.. .. tôi không dám nghĩ tiếp.
Sau lần thăm ấy, tôi bị mất liên lạc, vì chồng tôi bị chuyển qua nhiều trại khác.. Mãi đến giữa năm 1977, tôi mới nhận được giấy báo của trại cho phép đến thăm Anh, tại trại an dưỡng Biên Hòa. Sau lần đó, chồng tôi cùng các bạn bị chuyển ra Bắc.
Thời gian này thật khủng khiếp, vì Anh luôn bị chuyển trai, hết Lào Cai, rồi Yên Bái, rồi Lạng Sơn.. .. .. .. !
Vừa được tin anh ở trai này, đến nơi, anh đã bị chuyển đi trại khác, tôi rượt đuổi theo anh nhiều ngày tháng, nhưng không sao bắt kịp bước đi của anh. Phải trở về, vì bốn đứa con nhỏ còn đang cần mẹ. Tôi phải hối lộ cho bọn cán bộ Bưu Điện để có những tấm phiếu gơi qùa, qua đường bưu điện, mỗi phiếu được ba ký. Phải tính tóan làm những món ăn để được lâu, một chút thịt mỡ cũng phải kho thật mặn.. .. .. trông thấy tôi làm những món ăn gởi cho Anh, các con Anh nói:”Bố sướng qúa, bố có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi mình !”.. .. .. còn gì đau khổ và xót sa cho tôi trước những câu nói so sánh ngây thơ ấy, nhưng cũng có chút an ủi cho chúng, là còn được vét xoong.
Cuối cùng tôi cũng tìm ra, họ đã chuyển Anh về Nghệ Tĩnh, tôi vội ra thăm Anh, dù không có giấy phép, đủ mọi mưu kế, đủ mọi tính toán .. .. .. .. tôi không biết mình đã trở thành người nhiều mưu kế như thế tự bao giờ, và cuối cùng tôi đã xin được giấy chứng nhận bị mất cắp tòan bộ giấy tờ và tiền bạc, trong đó có giấy phép được thăm nuôi, nhờ thế tôi đươc vào trại giam chồng tôi. Tôi đến được trại giam vào tối thứ bẩy, qua ngày chủ nhật sẽ được gặp mặt chồng, nhưng qua hôm sau cán bộ ở trại họ cho biết, đến thứ hai mới gặp được vì chồng tội bị đi lao động xa, và họ sẽ cho gọi Anh về.
Đêm chủ nhật trằn trọc mãi không ngủ được, phần vì lạ chỗ, phần thì mừng, mai được gặp mặt chồng sau nhiều năm xa cách, hơn nữa, xem Anh có mạnh khỏe hơn, sau lần được uống sữa tiên hay không? Nhiều ý nghĩ dồn dập tới.. .. .. Nhưng mệt qúa nên tôi cũng thiếp đi được một chút. Trong giấc ngủ, tôi nằm mơ thấy anh về báo tin cho tôi là anh đã chết.. .. .. .. Tôi chòang thức giấc, mà miệng còn ú ớ, như đang nói điều gì, tôi tỉnh dậy, lo buồn, khóc thành tiếng, làm thức giấc các chị cũng đến thăm chồng thăm con như tôi. Các chị biết chuyện, hùa vào an ủi, thôi, sinh dữ tử lành, yên tâm ngủ đi, rồi mai thế nào cũng được gặp, tôi cũng tự an ủi mình như thế.
Hôm sau, mờ mờ sáng, tôi đã cùng chị em nấu cơm cho chồng, cho con một bưã, mong được ấm lòng cả hai. Trời sáng hẳn, qua màn sương mỏng, từ cao nhìn xuống, tôi thấy từng lớp người lũ lượt theo từng tóan đi lao động. Tôi như kẻ mộng du, như có ai xô đẩy sau lưng tôi, tôi chạy ào xuống chân núi, nơi cấm những thân nhân tù cải tạo đến gần, tôi thấy, toán 1, rồi tóan 2, rồi tóan 3 .. .. Tôi chợt nghe tiếng gọi: ”Chị Chung.. .. à .. .. Chị Minh” và tiếp theo có tiếng người la to: ”Anh Chung chết rồi”. Tôi ngã xuống và không còn biết gì nữa.
Khi tỉnh lại, tôi thấy mình bị trói chặt tay chân vào một chiếc chõng tre, một người y tá đang chích thuốc cho tôi. Tôi nghe kể lại, tôi đã bị ngất xỉu hơn một giờ đồng hồ, họ phải khiêng tôi lên từ chân núi, họ phải trói tôi lại vì sợ tôi vật vã, làm gãy kim chích. Tôi nói, tôi không sao, cởi trói cho tôi.
Sau cơn chóang qúa đau đến dại người, tôi trở nên bình tĩnh lạ thường, bây giờ nghĩ lại tôi vẫn còn sợ cho sự bình tĩnh cuả tôi lúc đó, miệng tôi luôn lẩm bẩm: ”Anh linh thiêng đến thế sao?” Khi nhớ lại giấc mơ đêm qua.
Tôi được gặp trại trưởng, tôi yêu cầu gì, họ cũng chấp thuận. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kg qùa tôi mang đến cho chồng, tôi nói với các Anh rằng, ai cần gì thì lấy thức đó, rồi thư về cho vợ con, trả tiền lại cho tôi sau, phải nói thế các Anh mới chịu nhận, thực trong lòng tôi thương các Anh như thương chồng mình vậy.
Sau đó, cán bộ trại mang đến cho tôi một xách tay, bên trong không có gì khác hơn ngòai một bộ bà ba đen đã bạc mầu.
Họ cho tôi một chén cơm hẩm, còn hôi mùi mốc, trên có một qủa trứng luộc, để mang ra mộ Anh, tôi đi như một xác không hồn, mắt mở căng như tóat ra nỗi căm hờn, phẫn uất, nhưng nào nhìn thấy gì phiá trước, bước thấp, bước cao, theo hai người diù tôi đi.
Tôi không thể chết bên mộ chồng, vì ở nơi xa kia, còn có bầy con thơ đang chờ mẹ về, kể chuyện đi thăm bố.
Vài tháng sau, tôi nhận được hai gói qùa trả lại với hàng chữ: ”Người nhận đã chết, trại yêu cầu hoàn lại”. Ra bưu điện nhận lại hai gói qùa, tới bưã ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành, những món qùa trả lại, vì bố các cháu không còn cần nữa, mắt tôi lại một lần mờ lệ thương thân.
Vài năm sau, tôi dời mộ chồng về Saigon, trong ngày bốc mộ Anh, tôi được vài người bạn tù của Anh giúp đỡ, một trong các Anh lấy lên từ dưới mộ, đưa cho tôi một kỷ vật, do chính chồng tôi làm ở trong tù, nó được chồng tôi làm từ những sợi giây kẽm nhỏ, thành sợi giây chuyền, với chiếc mặt nhựa kính máy bay, có khắc hình hai đứa đứng cạnh nhau. Anh đã dấu diếm từng ngày để không bị cán bộ CS tịch thu, các bạn Anh đã tìm thấy trong khi liệm xác Anh, họ đã chôn nó cùng Anh trong huyệt lạnh.
Hơn một năm, sau ngày Anh mất, phường khóm đưa đến cho tôi một biên bản ”Phạm nhân chết”, trong đó ghi rõ tội ác của chồng tôi can tội: ”Giảng viên tâm lý chiến, xã hội học, Trường Võ Bi Quốc Gia Dalat. Án phạt: 3 năm tập trung cải tạo”. Nhưng khi chồng tôi chết, Anh đã bị tù đúng 3 năm 7 tháng. Bẩy tháng oan nghiệt giết chết chồng tôi.
Đến năm 1994 tôi được định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO vì có chồng chết trong khi bị tập trung cải tạo.
Nay các con tôi đã khôn lớn, đã thành đạt, và các cháu rất hiếu thảo. Tôi đã và luôn tự nhủ, phải đứng thẳng làm nơi nương tựa vững chắc cho chồng cho con, trách nhiệm phần nào đã nhẹ gánh.
Em đã sống vì anh, thay anh nuôi dậy con chúng ta, tôi vẫn thì thầm cùng anh như thế, ”Hãy đợi em đến cùng anh”. Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên như thế, để được xum họp với chồng tôi, để nối lại gánh hạnh phúc của chúng tôi bị gẫy sau 4 năm 5 tháng chung sống. Tôi chắc Anh có nhiều nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đến cùng Anh.
Ý Cơ
Subscribe to:
Posts (Atom)



