Wednesday, May 23, 2012

Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài
29.04.2012
Ông Huỳnh Nhật Hải (phải) và ông Huỳnh Nhật Tấn (trái)
Phạm Hồng Sơn thực hiện
-(Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn)
 Hai anh em, ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, là những người, vào cuối năm 1988, đã cùng nhau tự ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đồng thời từ bỏ luôn những chức vụ đang đảm nhiệm kèm theo những tiềm năng rất lớn về quyền lực, quyền lợi: Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên (đối với ông Huỳnh Nhật Hải) và Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết (đối với ông Huỳnh Nhật Tấn). Điều gì đã khiến hai đảng viên cộng sản đầy tiềm năng của một gia đình có truyền thống cách mạng từ trước năm 1945 lại có quyết định chia tay cách mạng khi sự nghiệp “cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước”đã thành công hoàn toàn?
___________________
Phạm Hồng Sơn: Hai ông có thể cho biết con đường nào đã đưa các ông đến với ĐCSVN?
Huỳnh Nhật Hải: Có thể nói hai anh em chúng tôi đã được “nhuộm đỏ” từ bé. Chúng tôi đã có thiện cảm, tinh thần ủng hộ, và làm những việc có lợi cho những tổ chức của cách mạng như Việt Minh hay Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam (Mặt trận) ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi. Vì ba má tôi là một gia đình tư sản ủng hộ Việt Minh tại Đà Lạt từ trước năm 1945. Ba tôi là hội viên Công hội Đỏ và tham gia cướp chính quyền tại Đà Lạt vào năm 1945 và sau đó trở thành đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương (tên gọi lúc đó của ĐCSVN). Hai anh trai tôi là những người đi tập kết ra Bắc sau năm 1954.
Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói là ngay từ nhỏ, mở mắt ra là chúng tôi đã được nghe, được thấy, được sống trong tinh thần của cách mạng, tôi cứ tạm gọi là “cách mạng” đi. Đó là những năm thơ ấu của chúng tôi ở trong “vùng tự do” liên khu 5, khi gia đình chúng tôi phải tránh sự truy lùng của Pháp từ khoảng cuối 1945 đến năm 1954, và cả thời gian sau đó khi ba má tôi trở lại Đà Lạt (sau Hiệp định Genève) để tiếp tục nhiệm vụ ủng hộ bí mật cho ĐCSVN và Mặt trận dưới hình thức là một gia đình tư sản.
Phạm Hồng Sơn: Hai ông có nhớ đã có ảnh hưởng nào đến từ ngoài gia đình không?
Huỳnh Nhật Tấn: Có, những trí thức như giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ có tên tuổi lúc đó mà đi với Việt Minh hay Mặt trận cũng gây cho chúng tôi sự lôi cuốn, cảm hứng âm thầm nhưng rất lớn. Đặc biệt là qua quan sát, tiếp xúc với những cán bộ hoạt động bí mật đã sống ở nhà tôi thì hai anh em tôi thấy đó là những con người rất đáng khâm phục, họ vừa có tinh thần kỷ luật, chịu đựng, hy sinh rất lớn vừa có những lý tưởng rất cao đẹp là quyết giành lại độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc.
Huỳnh Nhật Hải: Một yếu tố nữa cũng làm cho chúng tôi ủng hộ Mặt trận là sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại miền Nam. Sự xuất hiện đó làm cho những người như chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm về chủ quyền dân tộc. Chúng tôi cảm thấy là miền Nam đang bị người Mỹ xâm lăng và cần phải chống lại họ và chính quyền thân Mỹ tại miền Nam.
Phạm Hồng Sơn: Thời gian từ khi Mặt trận được thành lập (năm 1960) cho tới năm 1975 các ông làm những việc gì để ủng hộ “cách mạng”?
Huỳnh Nhật Hải: Công việc của cả hai anh em chúng tôi đều cùng có hai giai đoạn khác nhau, trước và sau khi chúng tôi “nhẩy núi”, tức là phải bỏ gia đình để vào tận căn cứ trong rừng sâu để hoạt động. Tôi “nhảy núi” vào đúng mồng 3 Tết Mậu Thân 1968 còn em tôi, Huỳnh Nhật Tấn, “nhảy núi” trước đó vài tháng khi đã bị lộ.
Huỳnh Nhật Tấn: Trước khi “nhảy núi”, anh em chúng tôi làm công tác liên lạc, vận động trong giới thanh niên, học sinh, sinh viên tại Đà Lạt để thành lập các nhóm, tổ chức, đoàn thể hoặc in, tán phát truyền đơn hay khẩu hiệu đấu tranh cho Mặt trận.
Huỳnh Nhật Hải: Sau khi “nhảy núi”, hai anh em chúng tôi, mỗi người một nơi, nhưng đều ở bộ phận công tác phong trào thanh niên học sinh, sinh viên. Anh em chúng tôi thường phải đi vào những “vùng lõm“ (vùng dân cư mà ban ngày do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát còn ban đêm thuộc về lực lượng của Mặt trận) để bắt liên lạc, tiếp nhận hay vận động ủng hộ về vật chất, tinh thần cho Mặt trận.
Phạm Hồng Sơn: Những công việc đó chắc phải rất mạo hiểm và hết sức khó khăn?
Huỳnh Nhật Tấn: Đúng thế, chúng tôi phải rất kiên trì, khôn khéo trong công tác vận động và không phải lần vận động nào cũng thành công. Cả hai anh em chúng tôi cũng đã bị phục kích hoặc chạm trán với lực lượng quân đội của Việt Nam Cộng hòa, nhưng rất may cả hai chỉ bị thương nhẹ trong một, hai lần.
Phạm Hồng Sơn: Sau 30/04/1975 các ông được giữ ngay chức Phó Chủ tịch UBND Thành phố hoặc Phó Giám đốc Trường Đảng?
Huỳnh Nhật Hải: Không phải như thế. Sau 30/04/1975 tôi tiếp tục công tác ở Thành đoàn, sau đó mới chuyển qua công tác chính quyền. Năm 1977 tôi được kết nạp Đảng. Năm 1979 làm Chủ tịch khu phố I Thành phố Đà Lạt, rồi sau khi đi học Trường Đảng ở Tây Nguyên trong một năm đến năm 1981 là tôi trở thành Phó Chủ tịch UBND Thành phố Đà Lạt, là Thành ủy viên.
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi thì được kết nạp Đảng từ năm 1972 sau khi “nhảy núi”. Ngay tháng 10/1975 tôi đã được chọn vào số cán bộ đầu tiên gửi ra Bắc học ở Trường Tuyên huấn Trung ương ở khu Cầu Giấy, Hà Nội trong 3 năm rồi trở về giảng dạy môn kinh tế chính trị tại Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng. Và sau lần ra học tiếp ở Hà Nội tại Trường Tuyên Huấn Trung Ương trong 03 năm nữa, đến năm 1986 tôi được bổ nhiệm vào chức Phó Giám đốc trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, đồng thời được cơ cấu vào cấp Tỉnh ủy, là Tỉnh ủy viên dự khuyết.
Phạm Hồng Sơn: Một cách ngắn gọn, lý do gì đã khiến hai ông gần như đồng thời quyết định từ bỏ Đảng kiêm các chức vụ đó?
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi Đảng lúc đó tôi có viết một câu: “Tôi không tin ĐCSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như Đảng thường nói.”
Huỳnh Nhật Hải: Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: “Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của Đảng nữa.” Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin ĐCSVN nữa.
Phạm Hồng Sơn: Quá trình đi đến sự bất tín đó diễn ra như thế nào?
Huỳnh Nhật Hải: Đó là một quãng thời gian kéo dài khoảng 5-7 năm, thông qua những quan sát, tìm hiểu, trao đổi, bàn bạc và trằn trọc từ mỗi bản thân và gần như chỉ giữa hai anh em chúng tôi.
Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói chúng tôi đi đến sự bất tín vào ĐCSVN là dựa vào những gì chúng tôi thấy, chúng tôi gặp trên thực tế hơn là từ vấn đề lý luận.
Phạm Hồng Sơn: Những “thực tế” nào quan trọng nhất khiến hai ông nhận thức lại ĐCSVN?
Huỳnh Nhật Tấn: Đó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ĐCSVN. Về quản lý xã hội, ĐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt, gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn từ lãnh đạo Đảng. Ví dụ việc tịch thu nhà cửa, tài sản hay đưa đi “học tập cải tạo”, thực chất là bỏ tù con người, đều không dựa trên pháp luật hay xét xử của tòa án. Điều hành kinh tế thì lúc đó chúng tôi thấy những chính sách rất kỳ cục và phản khoa học, ví dụ như có những chỉ thị là Đà Lạt phải sản xuất bao nhiêu rau hay các huyện khác phải sản xuất bao nhiều mì[i] mà không cần biết khả năng và lợi thế về thổ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân hoặc việc giao quyền lãnh đạo kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với Đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ĐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ĐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân.
Phạm Hồng Sơn: Các ông đã quen biết những nhân vật như ông Hà Sĩ Phu hay ông Mai Thái Lĩnh,…những cư dân tại Đà Lạt lúc đó chưa?
Huỳnh Nhật Hải: Chúng tôi chưa biết ông Hà Sĩ Phu, còn ông Mai Thái Lĩnh thì chúng tôi đã biết nhau từ hồi cùng “nhảy núi” nhưng sau 30/04/1975 chúng tôi gần như chưa trao đổi hay bàn luận gì với nhau cả. Anh em chúng tôi trước khi quyết định bỏ về đã nói với nhau là “chúng ta đi làm cách mạng không phải để xây dựng nên một nhà nước chuyên chính độc tài như thế này.”
Phạm Hồng Sơn: Gia đình, những người thân và bạn bè đồng chí của các ông có phản ứng gì trước quyết định đó?
Huỳnh Nhật Hải: Lúc đó ba má tôi đều đã qua đời nhưng chúng tôi tin rằng nếu còn sống ba má tôi cũng ủng hộ việc từ giã ĐCSVN của chúng tôi. Hai bà xã của chúng tôi ủng hộ hoàn toàn quyết định về nhà tự làm ăn của chúng tôi.
Phạm Hồng Sơn: Thế còn hai anh trai, những người đã đi tập kết sau 1954, và những đồng chí thân quen của hai ông?
Huỳnh Nhật Tấn: Anh trai cả của chúng tôi thì gần như không có ý kiến gì, còn người anh trai thứ hai thì không đồng ý. Còn những đảng viên đồng sự khác và các cấp lãnh đạo lúc đó hoàn toàn ngạc nhiên, gần như tất cả mọi người đều khuyên chúng tôi xem xét lại. Có người lúc đó đã nói với tôi là nếu về thì cuộc sống sẽ rất khó khăn, nhưng tôi xác định trong lòng là trước đây khó khăn nguy hiểm như thế mà còn chịu được thì lẽ nào bây giờ lại không.
Phạm Hồng Sơn: Khi “trằn trọc” để đi đến quyết định cuối cùng, hình ảnh hay tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh có vấn vương trong “trằn trọc” đó?
Huỳnh Nhật Tấn: Có. Chúng tôi lúc đó cũng thấy cần phải xem lại cả ông Hồ Chí Minh – lãnh tụ, người sáng lập ra ĐCSVN.
Phạm Hồng Sơn: Các ông thấy thế nào?
Huỳnh Nhật Hải: Sau khi cùng tìm hiểu, trao đổi, bàn luận chúng tôi nhận thấy tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30/04/1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực.
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi đã từng tự hỏi là mục tiêu sâu xa của ông Hồ Chí Minh là gì? Với những gì lịch sử đã diễn ra khi ông Hồ Chí Minh còn sống thì tôi thấy mục tiêu của ông Hồ Chí Minh vì quyền lực là chính, còn mục tiêu độc lập cho đất nước hay tự do, dân chủ cho dân tộc, cho xã hội Việt Nam đã bị ông Hồ Chí Minh coi nhẹ. Hai mục tiêu tốt đẹp đó chỉ là những ngọn cờ để ĐCSVN lôi kéo, tập hợp quần chúng và giới trí thức cho mục đích giành quyền lực cho ĐCSVN. Thực tế chính quyền dưới thời ông Hồ Chí Minh đã biểu hiện đi ngược lại hoàn toàn hai mục tiêu tốt đẹp đó, độc lập cho dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân.
Phạm Hồng Sơn: Vâng, về vấn đề tự do, dân chủ cho nhân dân thì đã rõ, nhưng còn về độc lập dân tộc, xin ông nói rõ thêm?
Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói ông Hồ Chí Minh đã đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc, đô hộ của người Pháp nhưng lại để đất nước trở lại sự phụ thuộc, khống chế và thôn tính của Trung Quốc cộng sản. Nếu không có sự đồng ý, chủ kiến ngoại giao của ông Hồ Chí Minh thì không thể có tình hữu nghị Việt-Trung như “môi với răng” và cũng không thể có Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Một cách ngắn gọn, có thể nói ông Hồ Chí Minh đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm lăng, thôn tính của Trung Quốc cộng sản đối với Việt Nam như chúng ta đang chứng kiến.
Phạm Hồng Sơn: Liệu có công bằng không khi tình trạng mất độc lập, mất chủ quyền hiện nay qui hết cho Hồ Chí Minh?
Huỳnh Nhật Tấn: Đúng là tình trạng lâm nguy của đất nước hiện nay không thể qui hết cho ông Hồ Chí Minh. Nhưng bất kỳ một lãnh tụ, một nhà sáng lập của một đảng, một tổ chức chính trị nào cũng đều có ảnh hưởng rất căn bản tới tầm nhìn, hành động của các thế hệ kế tiếp, dù xấu hay tốt. Tôi nhớ ngay trong văn kiện, khẩu hiệu của ĐCSVN vẫn luôn khẳng định ông Hồ Chí Minh là người sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện “Đảng ta”, tức là ông Hồ Chí Minh đã là kiến trúc sư cho mọi chính sách, đường lối của ĐCSVN cũng như thể chế, cung cách quản lý xã hội của ĐCSVN.
Huỳnh Nhật Hải: Đúng như thế, theo tôi, mặc dù ông Hồ Chí Minh đã mất rồi nhưng tư tưởng, đường lối chính trị của ông ấy vẫn được tiếp tục kế thừa trong ĐCSVN. Không phải ngẫu nhiên mà ĐCSVN hiện nay vẫn hô hào học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.
Phạm Hồng Sơn: Nhưng nhiều người cho rằng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là rất tốt đẹp, đáng học theo?
Huỳnh Nhật Hải: Đúng, rất tốt đẹp và đáng học nếu chỉ căn cứ vào lời nói và khẩu hiệu như ông Hồ Chí Minh đã đề ra. Và đúng là ĐSCVN hiện nay cũng đang thực hiện đúng như thế, các khẩu hiệu, lời nói, mục tiêu của họ hiện nay cũng rất hoặc khá tốt đẹp, nhưng hành động và thực tế thì lại hoàn toàn ngược lại – cũng như ông Hồ Chí Minh.
Huỳnh Nhật Tấn: Nếu chỉ căn cứ vào truyền thống nhân ái của người Việt Nam thông thường thôi thì cũng thấy đáng lý ra, với cương vị là người có quyền hành cao nhất, ông Hồ Chí Minh phải ra lịnh không được giết hoặc hãm hại ân nhân của mình như vụ xử bắn bà Nguyễn Thị Năm và nhiều người khác trong Cải cách Ruộng đất. Hoặc những vụ bắt bớ, thanh trừng các đồng sự, các ân nhân của ĐCSVN sau này mà không qua xét xử thì ông Hồ Chí Minh không thể không biết là trái đạo lý. Nếu ông Hồ Chí Minh thực sự là người vì nước vì dân thì sau khi lên nắm quyền, điều đầu tiên ông Hồ Chí Minh phải làm là phải để nhân dân và giới trí thức có nhiều tự do hơn thời thực dân Pháp chớ.
Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN?
Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.
Phạm Hồng Sơn: Ngày 30/04/1975 các ông đang ở đâu và cảm xúc như thế nào?
Huỳnh Nhật Tấn: Lúc đó tôi đang ở Đà Lạt. Tôi đã trở về Đà Lạt từ ngày 03/04/1975 với tư thế của người chiến thắng.
Huỳnh Nhật Hải: Tôi về Đà Lạt sau ông em tôi một ngày, ngày 04/04/1975. Cảm xúc của tôi là sung sướng vô cùng, nhất là khi gặp lại má tôi – má đã tưởng tôi hy sinh từ năm 1971 và đã đưa ảnh tôi lên bàn thờ.
Phạm Hồng Sơn: Dịp 30/04 hàng năm vẫn là một trong những ngày lễ lớn của cả đất nước, cảm xúc của các ông ra sao trong những ngày này?
Huỳnh Nhật Hải: Buồn. Nếu không có cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền trước 1975 thì dân tộc này không có cái bất hạnh, đau khổ như ngày hôm nay.
Huỳnh Nhật Tấn: Buồn. Một ngày quá buồn. Cái chiến thắng 30/04 chỉ đem lại một sự áp bức trên mọi phương diện cho nhân dân, đất nước và lại nặng nề hơn cả thời Pháp thuộc.
Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.
Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.
Phạm Hồng Sơn: Xin trân trọng cảm ơn ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn.
© 2012 pro&contra


[i] “Mi” tức là “sắn” theo tiếng miền Bắc
 
Mục Lục




Tâm Tình Người Lính VNCH Tỵ Nạn Thái Lan
Đưa anh về nhà.... Trần Như Hùng 
*Câu chuyện về người thương phế binh :
Tổng hội TQLC.
Chiếc áo phong sương tình anh nặng
Một ngày không vội vã
Gương sáng hy sinh và lòng chung thuy
Một vài nhận định về
Chuyền xe bus và bài hat người lính mù
Thấm nghĩa ân tình
Một câu chuyện thật cảm động ở chế độ nhân bản.
Cuộc trường chinh tìm tự do
Hãy buông ra...thuyết pháp....
Sức manh tình chiến hữu.
Tờ lịch gỡ mỗi ngày
Chuyện buồn người vợ tù
Ngày của cha...
Tuổi trẻ VN học lịch sử...Trần Trung Đạo
Người lính Nghĩa quân trong tim tôi
Bố tôi
Sài gòn ngày trở lại
Ngày Memorial, hương khói đừng  quên ....
Khi bài hát trở về
Người đàn bà trên tàu HQ 502
Tôi là người VN
Niềm đau sau cuộc chiến
Bệnh anh hùng
Câu chuyện tù
Bài viết của Phu Nhân  Tướng L:ê Văn Hưng
Tiếng gào trong đêm
Đường ra Vĩnh Phú
Ngày lễ Mẹ, với cuộc đời tôi....
Quân đội bị quên lãng ..VNCH
Nữ trung ta Hoa kỳ , gốc Việt
Tâm sự tuổi già
Vinh danh cố Đại Tướng Đổ Cao Trí
Tướng Đổ Cao Trí và tôi.
Phi vụ lịch sử của 35 năm trước....
Kiều phải sống
Cảm tạ cha Phanxico Trương Bửu Diệp
Việt Nam 35 nhìn lại
35 năm nhìn lại và sự phản bội của đồng minh
Chuyện một người chiến binh trong chiến tranh Nam Bắc VN : Thiếu ta Nguyễn Văn Son
Tưởng nhớ những ngưòi nằm xuống
Cắt đât đai Tổ Quốc trả nợ,cái họa khôn cùng
The saddest day
Thiên thần mũ đỏ ai còn,ai mất
Bài tưởng niệm tháng tư đen
Một lần chào cuối cùng của đời quân ngũ
Nổi đau chiên trường
Chuyện tháng tư
Đến một lúc...
Tâm thế nào thì nhìn ra thế đó
Đại tá nhảy dù Lương Xuân  Việt
Xuôi dòng Mekong
Chúc nhau trăm tuổi đều là tuổi xuân
Youtube Hội Thân hữu Ninh ThuậnHôi ngộ xuân
Hòa bình ơi ! vĩnh biệt chào mi !
Hành trình viễn xứ
Khát vọng tự do
Xuôi giòng Mekong
Video Chiến tranh và hoà bình
Quê hương và chũ nghĩa
Năm Dần nói chuyện cọp
Làm thinh (Tiểu Tử)
Chiến tranh Việt Nam nhìn từ hai người lính Năm Bắc...
Có những anh hùng bây giờ mới biết
Những tình khúc chiến trường - Mường Giang(Youtube)
Những ngôi mộ phủ lá cờ vàng
Xóa dấu vết tội ác
Một ngày trong lòng mật khu Tam giác sắt..
Rừng khóc giữa muà xuân
Sài gòn ngày ấy
Yoputube - blue Danube
Chuyện cười Lộn Số,
You tube : Hãy yêu nhau như chưa yêu lần nào
You tube : Đừng xa em đêm nay - Thảo My
Kịch Quang Minh - Hồng Đào (ASIA 51)
Tôi thi Quốc tịch Mỹ m- Huyên Chương Quý
Thơ : Gởi súng cho tao
Tình Chiến hũu - Nguyễn Văn Tho.
Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài
29.04.2012
Ông Huỳnh Nhật Hải (phải) và ông Huỳnh Nhật Tấn (trái)
Phạm Hồng Sơn thực hiện
(Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn)
 Hai anh em, ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, là những người, vào cuối năm 1988, đã cùng nhau tự ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đồng thời từ bỏ luôn những chức vụ đang đảm nhiệm kèm theo những tiềm năng rất lớn về quyền lực, quyền lợi: Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên (đối với ông Huỳnh Nhật Hải) và Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết (đối với ông Huỳnh Nhật Tấn). Điều gì đã khiến hai đảng viên cộng sản đầy tiềm năng của một gia đình có truyền thống cách mạng từ trước năm 1945 lại có quyết định chia tay cách mạng khi sự nghiệp “cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước”đã thành công hoàn toàn?
___________________
Phạm Hồng Sơn: Hai ông có thể cho biết con đường nào đã đưa các ông đến với ĐCSVN?
Huỳnh Nhật Hải: Có thể nói hai anh em chúng tôi đã được “nhuộm đỏ” từ bé. Chúng tôi đã có thiện cảm, tinh thần ủng hộ, và làm những việc có lợi cho những tổ chức của cách mạng như Việt Minh hay Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam (Mặt trận) ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi. Vì ba má tôi là một gia đình tư sản ủng hộ Việt Minh tại Đà Lạt từ trước năm 1945. Ba tôi là hội viên Công hội Đỏ và tham gia cướp chính quyền tại Đà Lạt vào năm 1945 và sau đó trở thành đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương (tên gọi lúc đó của ĐCSVN). Hai anh trai tôi là những người đi tập kết ra Bắc sau năm 1954.
Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói là ngay từ nhỏ, mở mắt ra là chúng tôi đã được nghe, được thấy, được sống trong tinh thần của cách mạng, tôi cứ tạm gọi là “cách mạng” đi. Đó là những năm thơ ấu của chúng tôi ở trong “vùng tự do” liên khu 5, khi gia đình chúng tôi phải tránh sự truy lùng của Pháp từ khoảng cuối 1945 đến năm 1954, và cả thời gian sau đó khi ba má tôi trở lại Đà Lạt (sau Hiệp định Genève) để tiếp tục nhiệm vụ ủng hộ bí mật cho ĐCSVN và Mặt trận dưới hình thức là một gia đình tư sản.
Phạm Hồng Sơn: Hai ông có nhớ đã có ảnh hưởng nào đến từ ngoài gia đình không?
Huỳnh Nhật Tấn: Có, những trí thức như giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ có tên tuổi lúc đó mà đi với Việt Minh hay Mặt trận cũng gây cho chúng tôi sự lôi cuốn, cảm hứng âm thầm nhưng rất lớn. Đặc biệt là qua quan sát, tiếp xúc với những cán bộ hoạt động bí mật đã sống ở nhà tôi thì hai anh em tôi thấy đó là những con người rất đáng khâm phục, họ vừa có tinh thần kỷ luật, chịu đựng, hy sinh rất lớn vừa có những lý tưởng rất cao đẹp là quyết giành lại độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc.
Huỳnh Nhật Hải: Một yếu tố nữa cũng làm cho chúng tôi ủng hộ Mặt trận là sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại miền Nam. Sự xuất hiện đó làm cho những người như chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm về chủ quyền dân tộc. Chúng tôi cảm thấy là miền Nam đang bị người Mỹ xâm lăng và cần phải chống lại họ và chính quyền thân Mỹ tại miền Nam.
Phạm Hồng Sơn: Thời gian từ khi Mặt trận được thành lập (năm 1960) cho tới năm 1975 các ông làm những việc gì để ủng hộ “cách mạng”?
Huỳnh Nhật Hải: Công việc của cả hai anh em chúng tôi đều cùng có hai giai đoạn khác nhau, trước và sau khi chúng tôi “nhẩy núi”, tức là phải bỏ gia đình để vào tận căn cứ trong rừng sâu để hoạt động. Tôi “nhảy núi” vào đúng mồng 3 Tết Mậu Thân 1968 còn em tôi, Huỳnh Nhật Tấn, “nhảy núi” trước đó vài tháng khi đã bị lộ.
Huỳnh Nhật Tấn: Trước khi “nhảy núi”, anh em chúng tôi làm công tác liên lạc, vận động trong giới thanh niên, học sinh, sinh viên tại Đà Lạt để thành lập các nhóm, tổ chức, đoàn thể hoặc in, tán phát truyền đơn hay khẩu hiệu đấu tranh cho Mặt trận.
Huỳnh Nhật Hải: Sau khi “nhảy núi”, hai anh em chúng tôi, mỗi người một nơi, nhưng đều ở bộ phận công tác phong trào thanh niên học sinh, sinh viên. Anh em chúng tôi thường phải đi vào những “vùng lõm“ (vùng dân cư mà ban ngày do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát còn ban đêm thuộc về lực lượng của Mặt trận) để bắt liên lạc, tiếp nhận hay vận động ủng hộ về vật chất, tinh thần cho Mặt trận.
Phạm Hồng Sơn: Những công việc đó chắc phải rất mạo hiểm và hết sức khó khăn?
Huỳnh Nhật Tấn: Đúng thế, chúng tôi phải rất kiên trì, khôn khéo trong công tác vận động và không phải lần vận động nào cũng thành công. Cả hai anh em chúng tôi cũng đã bị phục kích hoặc chạm trán với lực lượng quân đội của Việt Nam Cộng hòa, nhưng rất may cả hai chỉ bị thương nhẹ trong một, hai lần.
Phạm Hồng Sơn: Sau 30/04/1975 các ông được giữ ngay chức Phó Chủ tịch UBND Thành phố hoặc Phó Giám đốc Trường Đảng?
Huỳnh Nhật Hải: Không phải như thế. Sau 30/04/1975 tôi tiếp tục công tác ở Thành đoàn, sau đó mới chuyển qua công tác chính quyền. Năm 1977 tôi được kết nạp Đảng. Năm 1979 làm Chủ tịch khu phố I Thành phố Đà Lạt, rồi sau khi đi học Trường Đảng ở Tây Nguyên trong một năm đến năm 1981 là tôi trở thành Phó Chủ tịch UBND Thành phố Đà Lạt, là Thành ủy viên.
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi thì được kết nạp Đảng từ năm 1972 sau khi “nhảy núi”. Ngay tháng 10/1975 tôi đã được chọn vào số cán bộ đầu tiên gửi ra Bắc học ở Trường Tuyên huấn Trung ương ở khu Cầu Giấy, Hà Nội trong 3 năm rồi trở về giảng dạy môn kinh tế chính trị tại Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng. Và sau lần ra học tiếp ở Hà Nội tại Trường Tuyên Huấn Trung Ương trong 03 năm nữa, đến năm 1986 tôi được bổ nhiệm vào chức Phó Giám đốc trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, đồng thời được cơ cấu vào cấp Tỉnh ủy, là Tỉnh ủy viên dự khuyết.
Phạm Hồng Sơn: Một cách ngắn gọn, lý do gì đã khiến hai ông gần như đồng thời quyết định từ bỏ Đảng kiêm các chức vụ đó?
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi Đảng lúc đó tôi có viết một câu: “Tôi không tin ĐCSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như Đảng thường nói.”
Huỳnh Nhật Hải: Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: “Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của Đảng nữa.” Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin ĐCSVN nữa.
Phạm Hồng Sơn: Quá trình đi đến sự bất tín đó diễn ra như thế nào?
Huỳnh Nhật Hải: Đó là một quãng thời gian kéo dài khoảng 5-7 năm, thông qua những quan sát, tìm hiểu, trao đổi, bàn bạc và trằn trọc từ mỗi bản thân và gần như chỉ giữa hai anh em chúng tôi.
Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói chúng tôi đi đến sự bất tín vào ĐCSVN là dựa vào những gì chúng tôi thấy, chúng tôi gặp trên thực tế hơn là từ vấn đề lý luận.
Phạm Hồng Sơn: Những “thực tế” nào quan trọng nhất khiến hai ông nhận thức lại ĐCSVN?
Huỳnh Nhật Tấn: Đó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ĐCSVN. Về quản lý xã hội, ĐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt, gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn từ lãnh đạo Đảng. Ví dụ việc tịch thu nhà cửa, tài sản hay đưa đi “học tập cải tạo”, thực chất là bỏ tù con người, đều không dựa trên pháp luật hay xét xử của tòa án. Điều hành kinh tế thì lúc đó chúng tôi thấy những chính sách rất kỳ cục và phản khoa học, ví dụ như có những chỉ thị là Đà Lạt phải sản xuất bao nhiêu rau hay các huyện khác phải sản xuất bao nhiều mì[i] mà không cần biết khả năng và lợi thế về thổ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân hoặc việc giao quyền lãnh đạo kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với Đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ĐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ĐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân.
Phạm Hồng Sơn: Các ông đã quen biết những nhân vật như ông Hà Sĩ Phu hay ông Mai Thái Lĩnh,…những cư dân tại Đà Lạt lúc đó chưa?
Huỳnh Nhật Hải: Chúng tôi chưa biết ông Hà Sĩ Phu, còn ông Mai Thái Lĩnh thì chúng tôi đã biết nhau từ hồi cùng “nhảy núi” nhưng sau 30/04/1975 chúng tôi gần như chưa trao đổi hay bàn luận gì với nhau cả. Anh em chúng tôi trước khi quyết định bỏ về đã nói với nhau là “chúng ta đi làm cách mạng không phải để xây dựng nên một nhà nước chuyên chính độc tài như thế này.”
Phạm Hồng Sơn: Gia đình, những người thân và bạn bè đồng chí của các ông có phản ứng gì trước quyết định đó?
Huỳnh Nhật Hải: Lúc đó ba má tôi đều đã qua đời nhưng chúng tôi tin rằng nếu còn sống ba má tôi cũng ủng hộ việc từ giã ĐCSVN của chúng tôi. Hai bà xã của chúng tôi ủng hộ hoàn toàn quyết định về nhà tự làm ăn của chúng tôi.
Phạm Hồng Sơn: Thế còn hai anh trai, những người đã đi tập kết sau 1954, và những đồng chí thân quen của hai ông?
Huỳnh Nhật Tấn: Anh trai cả của chúng tôi thì gần như không có ý kiến gì, còn người anh trai thứ hai thì không đồng ý. Còn những đảng viên đồng sự khác và các cấp lãnh đạo lúc đó hoàn toàn ngạc nhiên, gần như tất cả mọi người đều khuyên chúng tôi xem xét lại. Có người lúc đó đã nói với tôi là nếu về thì cuộc sống sẽ rất khó khăn, nhưng tôi xác định trong lòng là trước đây khó khăn nguy hiểm như thế mà còn chịu được thì lẽ nào bây giờ lại không.
Phạm Hồng Sơn: Khi “trằn trọc” để đi đến quyết định cuối cùng, hình ảnh hay tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh có vấn vương trong “trằn trọc” đó?
Huỳnh Nhật Tấn: Có. Chúng tôi lúc đó cũng thấy cần phải xem lại cả ông Hồ Chí Minh – lãnh tụ, người sáng lập ra ĐCSVN.
Phạm Hồng Sơn: Các ông thấy thế nào?
Huỳnh Nhật Hải: Sau khi cùng tìm hiểu, trao đổi, bàn luận chúng tôi nhận thấy tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30/04/1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực.
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi đã từng tự hỏi là mục tiêu sâu xa của ông Hồ Chí Minh là gì? Với những gì lịch sử đã diễn ra khi ông Hồ Chí Minh còn sống thì tôi thấy mục tiêu của ông Hồ Chí Minh vì quyền lực là chính, còn mục tiêu độc lập cho đất nước hay tự do, dân chủ cho dân tộc, cho xã hội Việt Nam đã bị ông Hồ Chí Minh coi nhẹ. Hai mục tiêu tốt đẹp đó chỉ là những ngọn cờ để ĐCSVN lôi kéo, tập hợp quần chúng và giới trí thức cho mục đích giành quyền lực cho ĐCSVN. Thực tế chính quyền dưới thời ông Hồ Chí Minh đã biểu hiện đi ngược lại hoàn toàn hai mục tiêu tốt đẹp đó, độc lập cho dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân.
Phạm Hồng Sơn: Vâng, về vấn đề tự do, dân chủ cho nhân dân thì đã rõ, nhưng còn về độc lập dân tộc, xin ông nói rõ thêm?
Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói ông Hồ Chí Minh đã đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc, đô hộ của người Pháp nhưng lại để đất nước trở lại sự phụ thuộc, khống chế và thôn tính của Trung Quốc cộng sản. Nếu không có sự đồng ý, chủ kiến ngoại giao của ông Hồ Chí Minh thì không thể có tình hữu nghị Việt-Trung như “môi với răng” và cũng không thể có Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Một cách ngắn gọn, có thể nói ông Hồ Chí Minh đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm lăng, thôn tính của Trung Quốc cộng sản đối với Việt Nam như chúng ta đang chứng kiến.
Phạm Hồng Sơn: Liệu có công bằng không khi tình trạng mất độc lập, mất chủ quyền hiện nay qui hết cho Hồ Chí Minh?
Huỳnh Nhật Tấn: Đúng là tình trạng lâm nguy của đất nước hiện nay không thể qui hết cho ông Hồ Chí Minh. Nhưng bất kỳ một lãnh tụ, một nhà sáng lập của một đảng, một tổ chức chính trị nào cũng đều có ảnh hưởng rất căn bản tới tầm nhìn, hành động của các thế hệ kế tiếp, dù xấu hay tốt. Tôi nhớ ngay trong văn kiện, khẩu hiệu của ĐCSVN vẫn luôn khẳng định ông Hồ Chí Minh là người sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện “Đảng ta”, tức là ông Hồ Chí Minh đã là kiến trúc sư cho mọi chính sách, đường lối của ĐCSVN cũng như thể chế, cung cách quản lý xã hội của ĐCSVN.
Huỳnh Nhật Hải: Đúng như thế, theo tôi, mặc dù ông Hồ Chí Minh đã mất rồi nhưng tư tưởng, đường lối chính trị của ông ấy vẫn được tiếp tục kế thừa trong ĐCSVN. Không phải ngẫu nhiên mà ĐCSVN hiện nay vẫn hô hào học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.
Phạm Hồng Sơn: Nhưng nhiều người cho rằng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là rất tốt đẹp, đáng học theo?
Huỳnh Nhật Hải: Đúng, rất tốt đẹp và đáng học nếu chỉ căn cứ vào lời nói và khẩu hiệu như ông Hồ Chí Minh đã đề ra. Và đúng là ĐSCVN hiện nay cũng đang thực hiện đúng như thế, các khẩu hiệu, lời nói, mục tiêu của họ hiện nay cũng rất hoặc khá tốt đẹp, nhưng hành động và thực tế thì lại hoàn toàn ngược lại – cũng như ông Hồ Chí Minh.
Huỳnh Nhật Tấn: Nếu chỉ căn cứ vào truyền thống nhân ái của người Việt Nam thông thường thôi thì cũng thấy đáng lý ra, với cương vị là người có quyền hành cao nhất, ông Hồ Chí Minh phải ra lịnh không được giết hoặc hãm hại ân nhân của mình như vụ xử bắn bà Nguyễn Thị Năm và nhiều người khác trong Cải cách Ruộng đất. Hoặc những vụ bắt bớ, thanh trừng các đồng sự, các ân nhân của ĐCSVN sau này mà không qua xét xử thì ông Hồ Chí Minh không thể không biết là trái đạo lý. Nếu ông Hồ Chí Minh thực sự là người vì nước vì dân thì sau khi lên nắm quyền, điều đầu tiên ông Hồ Chí Minh phải làm là phải để nhân dân và giới trí thức có nhiều tự do hơn thời thực dân Pháp chớ.
Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN?
Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.
Phạm Hồng Sơn: Ngày 30/04/1975 các ông đang ở đâu và cảm xúc như thế nào?
Huỳnh Nhật Tấn: Lúc đó tôi đang ở Đà Lạt. Tôi đã trở về Đà Lạt từ ngày 03/04/1975 với tư thế của người chiến thắng.
Huỳnh Nhật Hải: Tôi về Đà Lạt sau ông em tôi một ngày, ngày 04/04/1975. Cảm xúc của tôi là sung sướng vô cùng, nhất là khi gặp lại má tôi – má đã tưởng tôi hy sinh từ năm 1971 và đã đưa ảnh tôi lên bàn thờ.
Phạm Hồng Sơn: Dịp 30/04 hàng năm vẫn là một trong những ngày lễ lớn của cả đất nước, cảm xúc của các ông ra sao trong những ngày này?
Huỳnh Nhật Hải: Buồn. Nếu không có cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền trước 1975 thì dân tộc này không có cái bất hạnh, đau khổ như ngày hôm nay.
Huỳnh Nhật Tấn: Buồn. Một ngày quá buồn. Cái chiến thắng 30/04 chỉ đem lại một sự áp bức trên mọi phương diện cho nhân dân, đất nước và lại nặng nề hơn cả thời Pháp thuộc.
Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?
Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.
Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.
Phạm Hồng Sơn: Xin trân trọng cảm ơn ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn.
© 2012 pro&contra


[i] “Mi” tức là “sắn” theo tiếng miền Bắc

Thursday, February 23, 2012

Những Viên Đạn Hợp Âm

Sau khi nghe cuộc phỏng vấn Nhạc Sĩ Trúc Hồ trên đài SBTN với những lời nói nghẹn ngào như muốn rơi nước mắt khi nói đến người bạn trẻ Nhạc Sĩ Việt Khang đã can đảm dám ký bản án tử tù bằng một nhạc phẩm “Anh Là Ai”. Với một nghĩa cử anh hùng đó không chỉ Nhạc Sị Trúc Hồ rướm nước mắt, mà chính chúng tôi và những đồng hương cũng rơi lệ khi nghe Nhạc phẩm “Anh Là Ai”. Chúng tôi là những người lớn tuổi, niềm hy vọng đã tiêu mòn theo năm tháng, nhưng hôm nay người Nhạc Sĩ trẻ Việt Khang đã bật sáng chiếc que diêm trong trái tim chúng tôi một lần nữa sau Nhạc Phẩm “Việt Nam Tôi Đâu” cũng như Nhạc Sĩ Trúc Hồ trong Nhạc phẩm “Đáp Lời Sông Núi” Hoàng Nhật Thông với “Tuổi trẻ Việt Nam & Nỗi Đau Quê Hương đã khơi lại trong lòng mọi người một trách nhiệm, một bổn phận của người Việt yêu nước.

Hôm nay chúng tôi muốn chia xẻ những suy tư đó với những ai còn ưu tư đến Tố Quốc dân tộc và sự vẹn toàn lãnh thổ.

Tôi gọi Việt Khang là một anh hùng dân tộc vì anh làm những điều mà nhiều người không dám làm, anh dám hy sinh tính mạng cho quê hương Tổ Quốc, anh dám hy sinh cuộc sống tuổi trẻ, tương lai và gia đình của anh cho dân tộc thì xin hỏi chừng đó không đủ là một anh hùng sao? Nếu so sánh với một số Ca Sĩ hải ngoại được cộng đồng nuôi dưỡng, thành danh và kiếm được nhiều tiền, nhưng họ phản bội lại đồng bào về nước ca hát tuyên truyền cho chế độ, thử hỏi chúng ta nên ủng hộ hay cần phải tẩy chay họ? Ca Nhạc sĩ Việt Khang đang sống trong nước, không được tự do, nhưng anh dám cất lên lời hát để biểu lộ tình cảm của mình, để điểm mặt chế độ tàn ác CS. Tại sao anh dám làm vì anh có liêm sĩ, có lương tâm, biết tự trọng không quay về bưng bô cho CS và ngụy biện là chúng tôi là nghệ sĩ làm nghệ thuật.(Chế Linh, Lệ Thu, Elvis Phuơng, Hương Lan, Tuấn Ngọc, Quang Lê..v.v.)....va PHAM DUY...

Nhạc Sĩ Việt Khang hơn các Ca Sĩ dỏm đó nhiều lắm, chúng ta không cần phải nói nhiều những người chỉ biết sống vì đồng tiền, không trái tim, không thể cảm hóa họ được. Nếu đem so sánh Việt Khang với nhưng người chiến sĩ thì anh cũng xứng đáng là một anh hùng, anh không có cơ hội chiến đấu bằng súng đạn để bắn kẻ thù, nhưng anh có cây đàn, nốt nhạc, có ngòi bút để trực diện đâm thẳng vào trái tim địch. Chúng tôi là những người đã từng chiến đấu trên chiến trường, nhiều vị là tướng lãnh là những anh hùng dân tộc, dám chết vì không giữ được thành, đó là chuyện tự nhiển, nhưng dù sao thì các ông ấy cũng có ít nhất một thời gian hưởng bổng lộc của chức vị, cuộc sống, còn Việt Khang chưa được hưởng những ngày tháng của lứa tuổi thanh xuân của mình mà tự nguyện dâng hiến cuộc đời cho Dân tôc, chấp nhận đứng trước họng súng của bạo quyền. Thật cao qúi thay cho những người trẻ hôm nay. Anh đã can đảm dùng tài mọn của mình để gào thét nỗi đau của dân tộc đang trong hiểm họa xăm lăng của Tàu Cộng phương Bắc. Anh biết hành động đó sẽ đẩy anh vào tù, sẽ bị đánh đâp, sẽ tử hình dưới họng súng của bạo tàn. Nhưng anh cương quyết đánh đổi số mệnh như một Mohamed Buoazizi ở lứa tuồi 26 tại Tunisia Bắc Phi, (North Africa) hay những người trẻ ở Libya, Yenmen, Bahrain, Jordan, Algeria, Maroc.v.v đã làm cho những bạo quyền thay đổi đường lối cai trị.

Những nốt nhạc của Việt khang sẽ là tiếng chuông báo động, đánh thức tuổi trẻ VN đứng lên đáp lời sông núi, đánh đổ bạo quyền và giải phóng dân tộc. Anh đã đốt lên ngọn đuốc, hy vọng ngọn đuốc này sẽ nung đúc cho hằng triệu trái tim VN vùng dậy. Chúng tôi hy vọng đây là một biểu tượng khơi đầu cho cuộc cách mạng Hoa Sen , Hoa Lài, Hoa cãi, Hoa Hồng nào đó.v.v ở VN. Các bạn trẻ ở Bắc Phi, ở Trung Đông họ dám hy sinh cho đất nước họ thì tại sao các bạn không làm được? các bạn có sẳn lòng kiêu hãnh là con rồng cháu tiên, có lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến, có hằng trăm anh hùng bất khuất thì chẳng nhẽ đành cam phận tôi đày. Chúng tôi cả quyết với các bạn, với con tim và nhiệt huyết tuổi trẻ hôm nay các bạn có thể đánh sập chiếc ngai vàng kiên cố của các nhà độc tài, độc đảng cai trị bằng bạo lực, sẽ bẻ cong họng súng của bọn CSVN. Các bạn hãy nhìn xem, Tổng Thống Zine El Abidine Ben Ali chưa đầy 30 ngày đã phải trốn chạy, một Muammar Kadhafi, phải chết trong cống rãnh, một Bouteflika của Algeria phải run sợ, lòng dân là sức mạnh của bão tố vô địch. Các bạn đừng sợ sẽ bị đàn áp, dù là CS hay Phát xít, Công An hay Quân Đội họ đều còn một chút nhân tính, chúng tôi còn nhớ câu nói của một vị tướng Liên Sô Yazov:Khi đứng trước một khối lượng hàng trăm ngàn người dân chúng ở Moskva xuống đường bảo vệ chính quyền dân chủ, tôi cảm thấy cái trách nhiệm của mình quá lớn trước lịch sử, nên tôi không muốn quân đội do tôi chỉ huy phải bắn giết nhân dân tôi và cuối cùng tôi đã ra lệnh rút ra khỏi Moskva. Tôi nghĩ bọn CS sẽ còn chút lương tâm sẽ không dám nhận cái tội ác giết đồng bào mình trước lịch sử và để nhân loại thế giới nguyền rủa khinh khi.

Các bạn phải mạnh dạn đứng lên để tự do dân chủ về với dân tộc, với nhân loại. Chúng tôi thiết nghĩ đây là lúc thời cơ đã đến, hãy nắm bắt cơ hội để toàn dân đồng đứng lên lật đổ bạo quyền CS cứu nguy dân tộc. Các bạn trẻ trong và ngoài nước hãy noi gương anh hùng Việt Khang đứng lên giải phóng quê hương thoát khỏi gông cùm CS. Hãy noi gương các anh hùng dân tôc Quang Trung, Hưng Đạo Vương, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi. Lê lợi, Ngô Quyền, Nguyễn Thái Học, Hai bà Trưng, Triệu.v.v để không hổ thẹn với tổ tiên. Thà chết vinh còn hơn sống nhục.

Hoàn cảnh hôm nay chúng ta đừng nói hoa mỹ hai tiếng tự hào dân tôc mà hãy làm những điều mà dân tộc tự hào. Các bạn trẻ hãy cùng nhau đứng thằng người, tay trong tay, đi bằng đôi chân và con tim can trường của các bạn đến Quãng Trường Ba Đình, vứt xác tên tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh vào xọt rác và chưởi thẳng vào mặt bọn chớp bu ở Ba Đình đừng hút máu dân lành, đừng mị dân để bán nước. Các bạn trẻ trong quân đội hãy quay súng lại làm lịch sử, bắn vào đầu những tên bán nước, dâng đất, dâng biển cho Tàu Cộng. Tôi cam chắc nhân dân sẽ đứng về phía bạn, một người làm, một Tiểu Đội làm, một Đại Đội làm và toàn Quân lực sẽ làm để cứu nguy đất nước. Nước mất các bạn sẽ mất tất cả. Đừng đắng đo, thời gian không còn để chúng ta chọn lựa, hãy hành động để VN còn tồn tại trên bản đồ thế giới, các bạn có muốn đất nước chúng ta trở thành như Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông và hiện nay VN mất Ải Nam Quan, Bản Giốc, Lạng Sơn. Xin các bạn hãy đi một vòng từ Ải Nam Quan đến tận mũi Cà Mau, các bạn có thấy gì không? có bao nhiểu Tầu Cộng đang lộng hành trên quê hương đất nước chúng ta từ Cao Nguyên đến duyên hải? Họ đã làm chủ quá nhiều đất đai tài sản. Họ xuất nhập tự do không cần giấy thông hành(Visa), xin hỏi các bạn, bao lâu nữa thì chúng ta sẽ không còn đất sống? Các bạn trẻ hãy đứng lên làm lịch sử để con cháu các bạn không hổ thẹn và nguyền rủa vì cha ông hèn nhát.

Chúng ta thường tự hào một dân tôc anh hùng, dám sống, dám chết cho lý tưởng thì hôm nay là cơ hội cho các bạn chứng tỏ thế giới thấy điều đó, là niềm hy vọng của Tổ Quốc, các bạn đừng trở thành con giun nằm khoanh trong chiếc lá, hay một con ruồi chỉ đậu quanh quẩn trên hạt cơm. Đời người quá ngắn hãy sống sao cho cuộc sống mình có ý nghĩa, Hãy trở thành một quả bom nổ giữa lòng đất mẹ để cứu vớt toàn dân. Các bạn hãy nhìn tuổi trẻ trên thế giới họ hành động ra sao, chẳng lẽ họ không biết qúi mạng sống của họ sao, nhưng vì Tồ Quốc dân tôc họ chấp nhận hy sinh để lương tâm họ không xấu hổ là con dân của một đất nước biết yêu chuộng tự do, công bằng và dân chủ.

Hãy mang nhạc phẩm “Anh Là Ai” của Việt Khang để làm ngòi nổ giữa lòng dân tộc, một tác phẩm xứng đáng và hay nhất thế kỷ. Nhạc phẩm này còn hay gắp ngàn lần những tác phẩm của tay bưng bô Phạm Duy, tay nằm vùng Trịnh Công Sơn. Quí vị nghĩ lại xem tên Việt Gian Phạm Duy có xứng đáng để so sánh với Việt Khang không? chắc chắn là không, không thể đem kẻ tiểu nhân mà luận anh hùng. Các bạn hãy tưởng tượng xem, nếu hôm nay Đại Nhạc Sĩ Phạm Duy nghe được nhạc phẩm Anh Là Ai của Việt Khang, ông sẽ cảm nhận thế nào? đây có phải là một gáo nước lạnh của thế hệ con cháu tát vào mặt ông ở cuối đời! Dù là một nghệ sĩ ở tầm mức nào, điều quan trọng để mọi người quí trọng là phải có liêm sỉ, tự trọng, biết hy sinh và trái tim chân chính không tráo trở.

Hởi đồng bào trong và ngoài nước, các tôn giáo nghĩ gì khi đất nước điêu linh? Chúng tôi cảm thấy xấu hổ cho chính mình vì thiếu trách nhiệm với cộng đồng với dân tộc. Có bao giờ qúi vị nghĩ rằng trong nhiều năm qua chúng ta sống như một ký sinh trùng không mang lợi ích cho tha nhân. Có người đã nói: “Cái nhục không phải là cái khiếp sợ trước cường quyền Cộng sản đàn áp, nhưng cái ghê tởm nhất là cái thờ ơ vô cảm của con người hèn nhát bị Cộng Sản nhồi sọ, đe dọa trước sự đánh đập dã man, giết người vô tôi của cán bộ CS…mà chính mình ngoảnh mặt làm ngơ..”

Xin qúi vị lãnh đạo tôn giáo, những người mệnh danh là kẻ tu hành, chẳng lẽ đi tu chúng ta chỉ biết gõ mõ, đọc kinh để mau lên Thiên Đàng, Niết Bàn, như vậy có ích kỷ lắm không ? chúng ta hãy hiệp lực để cứu nguy dân tôc. Nếu qúi vị cố tình ngoảnh mặt làm ngơ, không hy sinh cứu nhân độ thế thì qúi vị sẽ không bao giờ thăng hoa đến nơi nào tốt hơn đâu. Hãy dấn thân như một Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Nguyễn Văn Khải, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, LM Phan Văn Lợi và nhiều Mục Sư khác, hay như các nhà tranh đấu Nguyễn Văn Đài, Lê Quốc Quân, Trần Văn Bá, Phạm Hồng Sơn, Hồ Thị Bích Khương, LS Lê Trần Luật, Nguyễn Bắc Tuyển, LS Lê Thị Công Nhân, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Luật Gia Phạm Thế Hải, Bùi Thị Minh Hằng, Bloger Điếu cày.v.v. Hãy một lòng đứng lên để tìm chút tự do cho dân tộc. Đạo nào cũng tiến đến mục đích chân thiện mỹ, nhưng đạo mà không hy sinh để giải phóng con người, cho nhân loại thì khi chết đi khó đạt được miền cực lạc hay Thiên Đàng vì lòng chúng ta còn quá nhiều ích kỷ. Tôi còn nhớ trước năm 75 nhiều vị dám xuống đường hàng chục ngàn người, dám tự thiêu trên đường phố để phản đối những gì qúi vị không thích. Chính phủ thời đó thật ra chưa đến nỗi nào như chế độ gian ác, tàn bạo hôm nay, nhưng qúi vị dám xuống đường. Hôm nay thì sao, quí vị sợ gì? Súng đạn, tiền bạc hay ham sống? Sự thật sẽ giải phóng con người, hành động để giải thoát nỗi trầm luân, khổ đau của dân tộc, nếu tất cả các tôn giáo cùng đứng lên thì ngọn sóng thần sẽ cuốn trôi bạo quyền trong chớp mắt.

Xin qúi vị hãy biết độ lượng, cảm thông, yêu thương tha nhân và thấy được nỗi bất hạnh của đất nước. Hiện nay đất nước VN đang bị bọn CS đàn áp dân lành, đang cướp công cướp của, cướp ruộng đất và giết chóc người dân vô tội. Chúng ta nghĩ sao với 90 triệu người VN đang bức hại hiện nay? Liệu chúng ta có lên Thiên Đàng hay Niết Bàn khi chúng ta ngoảnh mặt làm ngơ trước thời cuộc đảo điên của vận nước? đường lên Thiên Đàng hay Niết Bàn không thể bằng tiền bạc cúng dường thật nhiều, lần hạt mỗi đêm, gõ mõ mỗi giờ để được ghi danh lên với Chúa với Phật. Tôi tin chắc không phải thế, trời Phật muốn chúng ta hành thiên cứu thế như Nhạc Sĩ Việt Khang, Nhạc sĩ Hoàng Nhật Thông như Cha Nguyễn Văn Lý, như Trần Văn Bá, như anh Đoàn Văn Vươn không khíếp sợ trước bạo quyền, mới xứng đáng lên cõi trên. Cất chùa, nhà thờ thật nhiều, thật to để làm gì khi con người xung quanh ta đang khổ đau, đang đưa tay nhờ ta cứu giúp. Đừng đọc những lời cầu nguyện mà hãy làm những gì trong lời cầu nguyện đó mới thực đi tu cứu nhân độ thế.

Chúng ta là những người may mắn sống ở nước ngoài có đầy đủ tự do, dân chủ, nhân quyền. Chúng ta no cơm ấm áo, con cái chúng ta học hành thành đạt gắp trăm ngàn lần những người trong nước. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi, hay nói với con cháu biết lý do tại sao chúng ta có mặt tại đây không? Thậm chí, có nhiều người chối từ căn cước tị nạn CS của mình, khi được trời cho chút may mắn ăn nên làm ra, có chút danh vọng đã quên cội nguồn, dân tộc và ngoảnh mặt trước khổ đau của đồng bào ruột thịt. Họ đã quên những uất hận đầy máu và nước mắt của những đêm đào đất chôn vài lít dầu, mướn ghe để tìm đường vượt biên. Chúng ta là ai? là những người tị nạn CS hay vì kinh tế?

Hôm nay, khi con người quá đầy đủ thì lòng thương xót cũng vơi đi. Chúng tôi đã nhìn thấy trong những sinh hoạt tranh đấu cho đồng bào, cho đất nước lâm nguy, còn rất nhiều người vô cảm đến rợn người, thậm chí còn buông lời chê trách. Những ánh mắt, những hành động thờ ơ trước thời cuộc với đồng bào, với Tồ Quốc, thật không còn gì đau xót cho bằng. Thậm chí có một vài bạn trẻ đã thành công nơi xứ người, Bác Sĩ, Kỹ Sư, nhưng họ đã mau quên dĩ vãng của mình, sự ra đi đầy nước mắt và máu của cha mẹ mà buông lời miệt thị những người già trong những cuộc xuống đường tranh đấu. Cũng như có một số người trong Cộng Đồng chúng ta, khi sinh hoạt không dám nói, không dám hô hào, không lên tiếng, né tránh chụp hình, camera vì sợ có hình ảnh trên báo chí không về được VN. Thử hỏi có những con người như thế thì làm sao ngọn lửa đấu tranh có thể bùng cháy được, làm sao có cơ hội cứu đất nước? Hãy nhìn Việt Khang dám anh dũng trước họng súng của bạo tàn.

Nhạc Sĩ Việt Khang thật sự là một anh hùng, anh không cần khoác lên mình bất cứ một thứ nhãn hiệu nào, anh không sợ bị bỏ tù, không sợ chết vì trong anh có trái tim can trường biết hy sinh vì dân tộc, anh không cần khoe khoang bề ngoài, không cần ai vinh danh, không cần ghi ơn, không cần phủ cờ tuyên dương công trạng, mà anh cần sự hy sinh đề cứu đất nước dân tộc. Tiếng Việt Khang gào thét bằng trái tim chân tình của một người trẻ VN ưu tư vận nước. Anh mang dòng máu Lạc long không muốn hổ thẹn cùng núi sông, cùng đồng bào và tiền nhân, Tổ Quốc, trong khi có nhiều người không biết mình là ai.

Xin hỏi anh là ai?
sao bắt tôi,
tôi làm điều gì sai
Xin hỏi anh là ai?
sao đánh tôi, chẳng một chút nương tay
Xin hỏi anh là ai?
không cho tôi xuống đường để tỏ bàytinh yêu quê hương nàydân tộc này đã quá nhiều đắng cay
.Xin hỏi anh ở đâu?
ngăn bước tôi, chống giặc tàu ngoại xâm
Xin hỏi anh ở đâu?
sao mắng tôi,
bằng giọng nói dân tôi dân tộc anh ở đâu?
sao đan tâm, làm tay sai cho tàu
để ngàn sau ghi dấu bàn tay nào,
nhuộm đầy máu đồng bào.
Tôi không thể ngồi yên
khi nước việt nam đang ngã nghiên
dân tộc tôi, sấp phải đắm chìm một ngàn năm hay triền miên tăm tối
Tôi không thể ngồi yên
để đời sau cháu con tôi làm ngườicội nguồn ở đâu?
khi thế giới này đã không cònViệt Nam.
Tôi không thể ngồi yên
 khi nước việt nam đang ngã nghiên
dân tộc tôi sấp phải đắm chìm
một ngàn năm hay triền miên tăm tối
Tôi không thể ngồi yên để đời sau
cháu con tôi làm người cội nguồn ở đâu?
khi thế giới này đã không còn Việt Nam.

Xin hỏi có tiếng kêu nào thống thiết hơn của những người trẻ hôm nay, một tiếng kêu vì số phận quê hương nghiệt ngã, một bất công của xã hội, của một chính phủ độc tài đảng trị. Nhạc Sĩ Việt Khang và Hoàng Nhật Thông đã hỏi chúng ta phải làm gì cho Tổ Quốc? chúng ta còn chút tình tự dân tộc để tranh đấu mang lại chút công lý, dân chủ, nhân quyền cho quê hương. Những uất hận hôm nay có làm chúng ta đau xót ngậm ngùi? Nếu chúng ta thờ ơ, vô cảm thì một ngày không xa VN sẽ không còn tên gọi trên thế giới như những nốt nhạc Việt Khang đã viết: Khi thế giới này đã không còn Việt nam

Linh Vũ