Monday, November 22, 2010

NHÂN MÙA TẠ ƠN TRÊN ĐẤT MỸ (2010),
XIN ĐƯỢC CÁM ƠN CÁC ANH : NGƯỜI TPB/VNCH
Mường Giang
Kính tặng tất cả TPB/VNCH


Những ngày tháng Tư năm đó, không biết sao mà trời bỗng đổ mưa thật sớm và lớn hơn bao giờ hết. Mưa làm ngập những chiếc hố tránh đạn và giao thông hào của những người lính trận, tại các chiến trường máu lệ Phước Long, Phan Thiết, Long Khánh, Hậu Nghĩa, Long An, Phước Tuy, Biên Hòa và Sàigòn.

Trong cơn mưa nước mắt năm ấy, có máu, thây người và xác của những cánh hoa học trò, làm nhuộm hồng áo người lính và đồng bào chiến nạn, chạy theo cơn mưa, mịt mù đạn pháo.

"Bồ Đào mỹ tửu, dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà, mã thượng thôi
Tuý ngọa sa trường, quân mạc vấn?
Cổ lai chinh chiến, kỹ nhân hồi"

Bốn câu thơ cổ trong bài "Lương Châu Từ" của Vương Hàn (687-726) đã nói lên thân phận của người lính chiến, sống và chết không có biên giới, nên mấy ai dám nghỉ tới chuyện trở về? Và giọt mưa nào đây vừa lăn trên má, đã khiến cho người lính già bồi hồi nhớ lại, một thời chinh chiến cũ, những căn hầm tránh pháo ngập mưa, những nấm đất đào đấp vội vàng, để vùi bạn vữa ngã gục và những thương binh rên xiết, đang chờ cấp cứu.

Tất cả đã thành cổ tích. Giờ chỉ còn biết ngồi đây mà nhớ lại những ngày xa cũ. Chúng ta, tất cả đều là những người VN tội nghiệp, trót đầu thai lộn trong thế kỷ này, nên đã cùng nối vai lần lượt bước lên những giàn lửa đỏ. Cuối cùng, kẻ chết thì bị dầy mồ, tan xác, còn người sống, nếu không sống kiếp mây chiều lang thang, thì cũng lết lê phận bèo trong vùng giặc chiếm, để gục đầu thương hận, mà khóc cho quê hương vì đâu máu xương chất ngất, vì đâu mà kiếp sống của con người, tới nay vẫn không bằng cây cỏ bên đường.

Tất cả chỉ còn là kỷ niệm trong nhớ, vào những ngày đầu đời, mẹ bỏ con trong gánh, dầm mưa chạy loạn, giữa tiếng bom đạn, máy bay gầm thét, của Việt Minh và Pháp. Tóm lại, chúng ta đều ra đời và trưởng thành trong tiếng súng, cùng với bom đạn làm rách vỡ da thịt của quê hương. Rồi cũng vì người, vì tang bồng hồ thỉ nam nhi trái, mà giốc cả tuổi trẻ, đời trai, vào cốc men đắng cay, uống cạn hạnh phúc của chính mình.

Đất nước hai mươi năm chinh chiến, hai mươi năm dài hờn hận, đã dày vò người lính miền Nam, trong mưa bom đạn xéo trùng hằng. Rốt cục những người nằm xuống, những kẻ ra đi hay ở lại chịu cảnh ngục tù khổ sai của VC, ai nấy cũng đã trả xong cái nợ "da ngựa bọc thây", tủi nhìn từng trang lịch sử của nước nhà, bị giặc thù bôi nhọ và khép kín.
Trưa 30-4-1975 Sàigòn thất thủ, miền Nam VN từ bên này cầu Hiền Lương, trên sông Bến Hải, chạy ngang vĩ tuyến 17, tới mũi Cà Mâu, đã chính thức thuộc về lãnh thổ Xã Hội Chủ Nghĩa đệ tam quốc tế cộng sản, có tổng đài ở tận Nga Sô. Cũng từ giờ phút đó, khi mà chiếc mặt nạ hòa bình của người cộng sản đã cởi, để lộ những khuôn mặt thật của các thây ma vô hồn, lạnh băng và hung hiểm, thì cũng là lúc, đồng bào mới sực tỉnh và thương tiếc người lính VNCH. Nhưng than ôi tất cả đã muộn rồi, họ đã ngã gục không phải tại chiến trường vì đạn pháo của VC, mà ngay trên hè phố Huế, Đà Nẵng, Phan Thiết, Sàigòn... bởi chính những viên đạn ích kỷ, hám danh, những miệng lưỡi ngòi bút, của chính phe mình.

Ai chẳng một lần về với đất? khác chăng là sớm hay muộn, vinh với nhục và sống chết sao cho ý nghĩa của một kiếp người. Chỉ tội nhất là những người lính chưa chết nhưng coi như đã chết vì thương tật chiến trận và những vết thương lòng. Họ không chết mà chỉ bị thương nặng và tất cả đã gởi lại chiến trường một phần thịt da của mẹ, ở Khánh Dương, Tháp Chàm, Phan Thiết, Xuân Lộc... và ngay tại Sàigòn, vào lúc mà cây cột đèn cũng muốn chạy, để khỏi bị VC nhổ đem đi bán. Họ ở lại làm vật hy sinh cản xe tăng, hứng đại pháo của giặc thù, để kiếm thêm một chút thời gian, một bầu trời an toàn, một dòng sông lặng sóng, giúp cho mọi người từ dân tới lính, bình yên di tản ra nước ngoài, để tiếp tục sinh con đẻ cháu, ăn học thành tài và thành người ngoại cuộc..

Nay thì từ quan tới lính, ai cũng kiếm cách đi khỏi quê nhà, bỏ lại những bóng ma của quá khứ và những người thương phế binh sống sót, tủi hờn, đang lê lết phận bèo khắp đầu đường xó chợ. Thời gian có thay đổi, lịch sử cũng sang trang nhưng thân phận của người thương binh và gia đình của họ, chẳng có gì mới lạ, vẫn lấy nước mắt làm mưa rửa mặt hằng ngày. Buổi trước, khi VC tràn vào, họ bị bỏ lại ở những quân y viện, làng phế binh, không còn đại bàng, đồng đội và hậu phương. Bây giờ thì dần hồi chết đói, chết nhục trong thiên đàng xã nghĩa, trước sự xa hoa thừa mứa của VC, Việt Gian và Việt kiều muôn phương, vinh quy bái tổ, áo gấm về làng, mà trong dòng người đổi đời này, không làm sao mà đếm hết, những cấp chỉ huy và đồng đội cũ.

Có làm lính mới cảm thông cho kiếp lính nghiệt ngã đoạn trường. Có làm dân thời ly loạn mới biết được thế nào là mạng sống của con người, giữa bom đạn vô tình, héo úa còn thua cây cỏ. Có là người thương phế binh sau khi xuất viện, bỏ lại một phần cơ thể, mới thật tội nghiệp cho tuổi trẻ bạc phước vô phần. Thê thiết tận cùng là đời của người lính về chiều lại còn mang thương tật. Hỡi ôi những mảnh đời cùng khốn ấy rồi sẽ đi về đâu, trong cảnh mưa gió phũ phàng của cuộc đời? "ngày xưa, là lính vì đời chiến đấu là cầu đem người sang sông, hôm nay làm ma cô đơn, gục chết bên vệ đường..."

1.Thân Phận Người Lính VNCH :

Đọc Congressional Record, một trong những tài liệu tuyệt mật của Tòa Bạch ốc vừa được công bố, đã làm cho những lính già của VNCH phải cười ra nước mắt và thương xót cho những đồng đội, đồng bào, suốt hai mươi năm qua, vì chiến đấu chống sự xâm lăng của Bắc Việt, mà chết oan hay bị mang thương tật do đạn bom và bàn tay VC gây ra. Những luật lệ kỳ quái như Lính Mỹ không được bắn VC, trừ phi chúng tấn công trước. Không lực Mỹ không được dội bom vào xe của VC khi chúng ở cách đường mòn Trường Sơn 200m. Phi cơ Mỹ không được tấn công phi cơ Mig nếu chúng không gây hấn, không dội bom các phi cơ VC đậu yên tại phi trường. Cuối cùng, nghiêm cấm quân Mỹ truy đuổi VC, khi chúng chạy sang Lào và Kampuchia.

Chính phủ Hoa Thịnh Đốn, chẳng những cấm Quân Lực Mỹ, Đồng Minh, VNCH không được thẳng tay tiêu diệt kẻ thù, mà còn báo trước những bí mật quân sự, quốc phòng cho VC biết trước, qua những lần oanh tạc tại miền Bắc, trên đường mòn HCM, hành quân Lam Sơn 719... Đó là tất cả những sự kiện lịch sử có thật, được Thứ Trưởng QP Mỹ Phil Golding, thời TT. Johnson, trả lời thắc mắc của hàng ngàn gia đình tử sĩ Hoa Kỳ: "Chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến giới hạn, với những mục tiêu hạn chế. Nói chung đây là một cuộc chiến vì chính trị, nên không thể tiêu diệt VC được".

Do sự phản ứng càng lúc càng đông của người Mỹ, trước cái gọi là "đánh không cần thắng", nên dân chúng đã xuống đường, đả đảo mà báo chí thời đó, gọi là do phản chiến giựt dây. Thật sự, người Mỹ đã quá chán ngấy cái trò đem con bỏ chợ, đem trứng cho ác, dai dẳng từ thời Kennedy, Johnson, kế đó là Nixon, nên đã giận dữ đòi Hoa Thịnh Đốn "Hãy cút khỏi VN ngay, hãy chấm dứt cái trò chiến tranh nướng thịt dai dẳng vô ích này."

Tóm lại qua cuộc chiến VN, do đầu óc con buôn, người Mỹ đã đánh mất tất cả mọi ý thức về trách nhiệm và danh dự, làm tiêu tốn hơn 150 tỷ mỹ kim tiền đóng thuế của dân chúng, hại cho 55,000 chiến sĩ bị chết oan và hơn 300,000 quân nhân các cấp bị thương tật. Trong khi đó, người lính VNCH, dù là một quân đội bất hạnh nhất thế giới, theo báo cáo của MACV, Command History hay Dwight Owen, một cố vấn Mỹ tại VN, thì đối với các quân nhân VNCH, Chỉ Có Chết, Tàn Phế Hay Đào Ngũ, mới mong giải thoát được cái thân phận bọt bèo của người Lính chiến trong thời loạn lạc.

Ngoài ra, tài liệu cũng có nói tới việc lính Nam VN đào ngũ, nhưng không phải họ đầu hàng VC, mà trở về quê nhà gia nhập lực lượng ĐPQ+NQ, để được chiến đấu bên cạnh vợ con, gia đình. Sau rốt, tính đến đầu năm 1975, QLVNCH đã có 231,508 tử sĩ và 95,371 phế binh. Thương tủi nhất là những ngày tháng sau đó, cho tới khi Nam VN sụp đổ vào ngày 30-4-1975, đã có hằng vạn dân lính vô tội gục ngã trên chiến trường và khắp các nẻo đường chạy loạn. Nhiều tử sĩ cũng như thương binh đã bỏ thây, bỏ xác tại chỗ, vì đồng đội không thể làm gì hơn giữa chốn loạn quân. Chính Nhảy Dù từ ngày thành lập cho tới khi tan hàng, cũng đã phải nuốt lệ, bỏ lại xác đồng đội, tại Mặt Trận Xuân Lộc tháng 4-1975, như Phạm Huấn đã viết, khi được lệnh rút quân bất ngờ trong đêm, mịt mù lửa đạn.

Trước sự sụp đổ nhanh chóng và vô lý của Nam VN không phải tại chiến trường, mà ngay ở các thành phố lớn Ba Lê, Hoa Thịnh Đón, New York, Luân Đôn, La Mã, Huế-Đà Nẵng và Sàigòn, khiến cho nhiều trí thức ngoại quốc đã phẫn nộ và bày tỏ thái độ khinh miệt, đối với một số người trong cũng như ngoài nước, một thời lợi dụng tự do, dân chủ và nghề nghiệp, để bẻ cong ngòi bút, xuyên tạc sự thật, phỉ báng đồng bào và quân đội Nam VN với mục đích đầu độc dư luận thế giới, giúp Bắc Việt cưỡng chiếm VNCH. Đề tài quen thuộc, được một số báo chí Hoa Kỳ và Tây Phương viết lách, đem lên truyền thanh truyền hình, đó là người lính VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu nên bị mất tự do và bị người Mỹ khinh miệt.

Hai câu hỏi trên cách đây vài chục năm được bịa chuyện là có, nhưng bây giờ sự thật đã xác nhận "Không". Hoa Kỳ khi tới chiến đấu tại Nam VN, có đủ phương tiện tinh thần cũng như vật chất, vẫn nhiều lần bị thương vong, bại nhục, vẫn không thiếu những binh sĩ đào ngũ, bỏ chạy khi trận địa hỗn loạn, vẫn có tham nhũng và chính cựu TT. Bill Clinton, vì hèn nhát nên đã trốn quân dịch pháp định. QLVNCH chỉ mới thành lập, được coi là một quân đội nghèo nhất trên thế giới, lại bị chiến đấu trong một cuộc chiến không có giới hạn chiến trường, hậu phương, bạn địch.

Thế nhưng những người lính nghèo đó, mà lương năm cộng với tiền tử tuất, phế tật, không bằng một cuốc rượu của những ca ve, me Mỹ, vậy mà họ vẫn một đời đem máu đào xương trắng, phụng sự chính nghĩa, bảo vệ màu cờ, sắc áo và từng sinh mạng cũng như tất đất của quê hương. QLVNCH là sinh mạng của muôn người, nên khi thiếu vắng hay không còn họ, mạng người Nam VN chỉ còn là lá rụng, đã gục ngã tại Mậu Thân Huế-Sàigòn, trên các đại lộ kinh hoàng quốc lộ 1, Kontum, An Lộc mùa hè đổ máu và sau rốt là cùng nhau chết tập thể vào ngày 30-4-1975. Như sử gia Edward S. Creasy viết trong tác phẩm nổi tiếng "Fifteen Decisive Battle Of The World" năm 1851 "Tầm quan trọng của một cuộc chiến, là những gì ta có hôm nay, đối với người thắng cũng như kẻ bai". Những gì đã xảy ra tại Nam VN, sau 35 năm bị cộng sản cưỡng chiếm, đã đủ trả lời về tấn thảm kịch của VN, mà lần nữa Robert S. McNamara, cựu bộ trưởng QP. Thời TT Kenedy, đã giải thích một chiều, trong hồi ký của mình "In Retrospect-The Tragedy and Lesson of VN".
Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều mù quáng và tin tưởng vào truyền thông báo chí lúc đó. Chính những giờ phút cuối cùng, nhìn cảnh đời bi thảm của phận lính bọt bèo Nam VN trên màn ảnh, tờ The New York Times Service, đã thay thế người nhược tiểu, giận dữ tố cáo chính quyền Mỹ là hèn nhát, bỏ đồng minh tháo chạy về nước trước sự tấn công của VC. Họ cũng nêu đích danh Henry Kissinger là kẻ bán đứng VNCH cho VC khi bắt ép họ ký vào bản hiệp ước giả mạo 1973, sau đó tàn nhẫn cúp viện trợ, phủi tay đứng nhìn miền nam sụp đổ.

Không có gì tồn tại với thời gian trừ chân lý. Vì vậy những câu chuyện hề của Henry Winston chủ tịch đảng cộng sản Mỹ, đem diễn tại Hà Nội vào tháng 5-1975, hay lời tuyên bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tích bù nhìn của Mặt Trận Ma giải phóng tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sàigòn thất thủ: "cám ơn báo chí và ký giả Tây Phương, đã góp phần lớn cho chiến thắng của Hà Nội, trong số này đáng kể là người Mỹ".

Đây là tất cả sự thật, vừa được một cựu chiến binh Không Quân Hoa Kỳ là Harry H. Noyes, thay mặt những người lính VNCH, qua tác phẩm "Heroic Allies" nói lên vinh quang và sự hãnh diện của một quân lực, từ lâu đã bị bọn trí thức vô liêm sỉ, tước đoạt một cách hèn hạ, bất nhơn và vô nhân đạo. Sự tuyên truyền lố lăng và cuồng ngạo của Hà Nội cùng những mặt mo bưng bợ, làm cho thiên hạ năm châu chán ghét, sau khi cái thây ma VNCH chỉ còn trơ lại bộ xương gầy đét, không còn gì để cho Huỳnh Liên, Ngô Bá Thành, Huỳnh Tấn Mẫm, Chân Tín và một số quạ đen, diều hâu, bu tới rỉa rói như lúc chợ còn đông khứa.

Trong tài liệu đặc biệt "How Media Bias Distorts Our View of the World" của ký giả Allan Brownnfiels, nói rằng vì hầu hết giới truyền thông Tây Phương, quá mù quáng, ca tụng một chiều về Mao Trạch Đông và Fidel Castro, trong lúc thẳng tay sỉ nhục bôi nhọ Tưởng Giới Thạch và chính phủ CuBa lúc đó, tuy vô tình nhưng đã làm cho cộng sản tại hai nước này chiến thắng mau lẹ. Bài học của lịch sử sau đó lại tái diễn ở Nam VN. Lần này do chính những thành phần được ưu tiên trạng trọng trong xã hội lúc đó, là những công tử tiểu thư đài các của giới địa chủ, địa hào, thương gia, chủ vựa nước mắm, nhờ cha mẹ tổ tiên theo thực dân Pháp bóc lột đồng bào, nên có tiền, có thế, cho con trai, con gái qua Pháp, Mỹ du học thành luật sư, bác sĩ, giáo sư, những thành phần mà Hồ Chí Minh và đảng VC ở miền Bắc, chém giết và khinh bỉ tận tuyệt, sau khi được làm chủ nửa miền đất nước vào năm 1954.

Nhờ cái mặt nạ trí thức và sự tự do quá trớn của Nam VN, những thành phần ăn chén đá bát này, luôn bẻ cong ngòi bút, làm cho thế giới tự do lầm lạc, nghĩ rằng giặc Cộng tại Nam VN là những người bình thường, yêu nước, nên nổi dậy chống lại sự độc tài tham nhũng của chế độ. Tóm lại nhờ những trí thức này, mà VC nằm vùng sau ngày tập kết 1954, VC chính thống từ Miền Bắc xâm nhập, kể cả Tàu Cộng, Liên Xô, Cu Ba, Đông Âu... trong bộ đội Hà Nội đang chiến đấu tại Nam VN, đều không có dính líu tới Hồ và cộng sản đệ tam quốc tế. Sự độc ác trên, nhờ tuyên truyền ngay ở miền Nam và các mạng lưới quốc tế, khiến cho cuộc chiến chống xâm lăng cộng sản, của người Việt quốc gia Nam VN, mất đi cái ý nghĩa chính thống, làm cho Hoa Kỳ cũng gặp nhiều khó khăn khi sang chiến đấu bảo vệ tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Rốt cục, cả Mỹ lẫn Việt đều đại bại trước mặt trận thông tin ca ngợi VC, của báo chí, truyền thông ngoại quốc và ngay trong nước.

Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân dồn dập vào Nam VN, cũng là thời kỳ lửa máu ở hậu phương. Đây cũng là thời kỳ ăn nên làm ra, của những thông tín viên, ký giả ngoại quốc, qua những bài tường thuật, có kèm hình ảnh, không phải để phổ biến những sự thật, mà chỉ để tuyên truyền một chiều, nhằm bôi nhọ những quân đội, đang trực diện với cộng sản Bắc Việt, trên chiến trường Nam VN. Có thể nói bài phóng sự chiến trường đầu tiên, của thông tín viên đài CBS tên Morley Safer, viết về cuộc hành quân của một đơn vị TQLC Mỹ, tại một làng xôi đậu, đã trở thành những mẫu thông tin "ăn khách", theo đơn đặt hàng của thị trường Mỹ và Tây Phương lúc đó. Cũng nhờ báo chí phản tuyên truyền về cuộc chiến Tết Mậu Thân 1968 “ VC chết thảm khắp nơi, đã thành chiến thắng, chiếm được ngay cả Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sàigòn “. Tàn nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là báo chí Tây Phương, trong suốt cuộc chiến Nam VN, đã không hề có một chữ tường thuật những hành vi khủng bố, giết người tàn bạo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 trên Đại Lộ Kinh Hoàng tại KomTum, Bình Đinh, An Lộc, Quảng Trị và những ngày di tản máu lửa hận hờn.

Người lính VNCH vừa đánh giặc phương Bắc, vừa chống đỡ búa rìu truyền thông báo chí trong nước cũng như phong trào phản chiến tại Mỹ và tây phương, được liên kết bởi trí thức, sách báo và tuyên truyền. Đó cũng là lý do đưa đến sự sụp đổ tất yếu của một dân tộc hiền hòa, lễ nghĩa nhưng bất hạnh vì mang thân phận nhược tiểu

2. Thương Quá Người Phế Binh VNCH:

Tất cả hình như chỉ còn có kỷ niệm sau cuộc đổi đời. Là định mệnh mà chúng ta, những kiếp trai thời loạn phải gánh chịu theo vòng đời nổi trôi của dòng sông lịch sử, dù vô lý, dù hờn căm, dù bất công thương hận.

Mất nước nhà tan, nguời lính sống sót sau cuộc chiến, rã ngũ tan hàng đầu sông cuối bể, tha phương thì dần chết trong men đời cay đắng, còn tù ngục chịu cảnh nhục hờn. Nhưng tất cả giờ cũng đã đi hết rồi, chỉ còn ở đây là những thương phế binh xa cũ, những hồn ma cô quạnh, sống với quá khứ liệt oanh, qua những vết thương đời không hề hối hận:

"Di tản khó, sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên
Người chết mấy ngày không lấy xác
Thây sình mặt nát, lạch mương tanh..."
(Tô Thuỳ Yên)

Ta thán phục, ta hãnh diện biết bao, khi đọc được những trang sử cũ. Sẽ vui cười hớn hở cùng với tiền nhân qua những lần giết đuổi giặc Tống, Mông, Minh, Thanh..tận ải Chí Lăng, trên sông Bạch Đằng, đốt tàu Pháp tại Vàm Nhật Tảo. Không biết những trang quân vương dũng tướng thời xưa, hành xử thế nào mà muôn người như một, khiến cho người trong nước, già trẻ lớn bé, đều nguyện một lòng giết giặc cứu nước tại Hội Nghị Diên Hồng. Sau này mới vỡ lẽ, thì ra đó là tinh thần trách nhiệm, cũng như bổn phân của kẻ sĩ thời tao loạn. Hay đúng hơn, đó là đức tính cao quí của thanh niên-sĩ phu, dù họ chỉ là những người bình dân ít học.

"Tôi không là tôi nữa,
Từ khi được xuất ngũ
Có quạ đen đậu trên đầu
Có bao nhiêu đợi chờ đau khổ.
.."
Thanh niên VN thời nào cũng vậy, tất cả đều đặt trách nhiệm làm trai trên hết, nên chúng ta ngày nay mới còn có đất nước, để mà vui sướng, đau khổ. Hỡi ơi, có làm lính mới hiểu phận bèo của lính, có là thương phế binh, sau khi được xuât ngũ, mới thấm thía được nỗi buồn của một kẻ tàn tật, mất tất cả, ngoài người mẹ già từ quê xa, đang đợi con trở về. Thê thiết quá cũng như đau đớn tột cùng, kiếp lính chiều tàn là thế. Sự thật là vậy, có khi còn đau đớn trăm chiều. Ai đã tùng thấy chưa, cảnh vợ lính hay người yêu, chỉ một lần vào thăm người thân nơi quân y viện, rồi chẳng bao giờ quay lại, ngoài những giọt lệ cá sấu, vô tình còn vương vãi đó đây. Ai có một lần ngược xuôi trên các nẻo đường thiên lý, tình cờ hội ngộ những chàng trai tàn tật còn rất trẻ, những người mù, què, mặt mày in đầy thương-sẹo bởi đạn bom, đang lần mò ngửa tay chờ bố thí của mọi người. Họ là lính chiến của một thời oanh liệt, là thương phế binh QLVNCH đó, họ đau khổ mang thương tật không phải do bẩm sinh, mà vì đời, vì người gánh chịu:

Theo sử liệu, ta biết Nha Cựu Chiến Binh và Nạn Nhân Chiến Cuộc, trưc thuộc Bộ Quốc Phòng. Đầu tiên Nha này là một Bộ được thành lập vào tháng 8-1952, có một An Dưỡng Đường dành cho Thương Phế Binh. Sau đó, bộ này bị hủy bỏ, tất cả các vấn đề liên quan tới cựu chiến binh, đều giao cho Bộ Y Tế, với một Nha riêng gọi là Nha Tổng Thư Ký, Cưu Chiến Sĩ và Phế Binh đãm trách.

Thời VNCH, qua một Đại Hội Cựu Chiến Sĩ toàn quốc tại Toà Đô Sảnh Sàigòn. Ngày 29-5-1955, Nha Tổng Giám Đốc CCB và NNCC được thành lập, trụ sở ở đường Đoàn Thị Điểm. Sau Tết Mậu Thân 1968, Nha được cải thành Bộ, gồm các Nha Sở Trung Ương và các Ty trực thuộc.

Năm 1969, một biến cố lớn đã xảy ra tai thị xã Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đó là vụ Y Sĩ Đại Uý Hà Thúc Nhơn, trưởng trại 12 tai, mắt, mũi, họng, thuộc Quân Y Viện Nguyễn Huệ. Vì dám tố cáo Chỉ Huy Trưởng QYV là Thiếu Tá Phùng Quốc Anh, với sĩ quan hành chánh Đặng Mai, toa rập tham nhũng, ăn xén tiền ẩm thực của thương bệnh binh, cũng như mờ ám trong các vụ cứu xét, phân loại trợ cấp, miễn dịch. Đại Uý Nhơn đã cầm đầu các bệnh binh nổi loạn, nên bị Tỉnh trưởng Khánh Hòa lúc đó là Đại Tá Lý Bá Phẩm, nguyên Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 Biệt Lập, ra lệnh cho ĐPQ bắn trọng thương và đã chết khi chở vào cấp cứu tại Cam Ranh.

Ngày đưa tang người xấu số, cũng là thời điểm Phế Binh Khánh Hòa đứng dậy đòi quyền sống. Taị Sàigòn, Trung Úy mù BĐQ Đỗ văn Lai cùng một số phế binh nặng, đang dưỡng thương tại Trung Tâm Chỉnh Hình đường Bà Huyện Thanh Quan, cũng biểu tình, cắm dùi khắp Đô Thành, đòi Chính Phủ phải cứu xét lại quyền lợi của họ, trước vật giá leo thang đắc đỏ, do sự hiện diện của Mỹ và Đồng Minh, vung đô la xanh đỏ qua cửa sổ như khói thuốc. Phong trào tranh đấu bùng nổ khắp nước, làm cho chính quyền trung ương cũng như tại các tỉnh bối rối, vì không thể dùng bạo lực để chèn ép hay khóa miệng, bởi phế binh cũng là lính, nên ai nỡ xuống tay.

Rồi Tổng Hội Thương Phế Binh ra đời tại Sàigòn, bầu PB Nguyễn Đinh làm Hội Trưởng, PB Nguyễn Bính Thịnh, tức nhà văn An Khê, làm phó và PB Đinh Trung Thu, tổng thư ký. Ngoài ra còn có một Hôi Ái Hữu Thương Phế Binh, do cựu Thiếu Tá Nguyễn Văn Hàng thành lập.

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975) bắt đầu năm 1969 trở về sau, quyền lợi của Phế binh, cô nhi quả phụ càng ngay càng được cải tổ, chăm sóc và dễ thở hơn trước. Nạn chèn ép, dìm sổ trợ cấp để làm tiền cũng chấm dứt. Từ năm 1972, chính phủ cho thành lập Ty Cựu Chiến Binh tại các Tỉnh, có quyền hạn rất rộng rãi, ngoại trừ sổ trợ cấp đầu tiên được ký cấp từ Bộ. Cũng từ đó, người cô nhi, quả phụ và thương phế VNCH, được sống an nhàn hơn trước, với các quyền lợi thiết thực, tương xứng, từ trợ cấp, xin việc làm, y tế, cho tới các kỳ thi, tất cả đều ưu tiên cho họ.

Rồi thì hằng loạt Làng Phế binh, lần lượt ra đời tại quận cũng như thị xã. Riêng những phế binh đã có nhà, không muốn vào Làng, được trợ cấp một ngân khoản 60,000 đồng. Tất cả các làng trên, đều bị VC cướp giựt sau ngày 30-4-1975.

Làm người bình thường, sống trong thời loạn, đã phải khốn khổ vì miếng cơm manh áo, huống chi phận lính nghèo, lãnh đồng lương chết đói, vậy mà còn bị trí thức nguyền rủa, là lính đánh thuê cho Mỹ.
"Giọt mưa trên lá, nước mắt mặn mà, thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về..."
"Mẹ lần mò, ra trước ao, nắm áo người xưa, ngỡ trong giấc mơ, tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ..."
(Phạm Duy).
Nhưng chiến tranh chứa dứt và vẫn còn khốc liệt, nhưng người xưa nay đã thành tàn phế, vô dụng, lê lết đời tàn xuân héo, lần mò trở về làng xưa, với những kẻ thân yêu, mong chút tình thân đùm bọc.

Ai có cảm thông chăng người lính mù trẻ tuổi vì đạn B40, lần mò trên chiếc xe lăn, quanh bến phà, bến xe, miệng hát tay đờn kiếm sống? Có thương không những người lính trận, bán thân bất toại, lê lết khắp các nẻo đường phố thị, để bán vé số, sách báo, đắp đổi qua ngày. Và còn nữa, còn trăm ngàn thảm kịch của tuổi thanh niên thời loạn, chân gỗ tay nạng, mắt mũi vàng khè, khô nám, luôn đau đớn bởi những hậu chứng, sau khi giải phẫu. Nhưng họ vẫn lao động để sinh tồn, đi biển, làm nông, lết lê trên ruộng trên sóng, đội nắng tấm mưa. Kiếp sống phận bèo của người phế binh là thế đó, nên phải chiếm đất cắm dùi, cũng là chuyện bình thường.

Hai mươi năm chinh chiến, dù có gọi bằng một thứ danh từ gì chăng nữa, thì xác của nam nữ thanh niên hai miền đất nước, cũng đã chất cao như núi, máu chảy thành sông. Rốt cục chỉ có cái vỏ độc lập, hòa bình, tự do, thống nhất. Người cả nước đói vẫn đói và đời sống càng bị tù hãm tứ phiá, bởi cổ được mang nhiều thứ gông, cả cộng sản, lẫn tư bản và đảng cầm quyền.

Nhưng thê thiết nhất vẫn là những người phế binh VNCH. Ngày xưa lúc chế độ cũ còn, được nói, được hưởng đủ thứ quyền lợi, thế nhưng họ vẫn sống bèo bọt, cực nghèo. 30-4-1975, VC vào tóm thu tất cả, thêm vào đó là chuyện trả thù. Lính sống thì đi tù, lính chết thì cầy mộ, còn lính què đui tàn phế, thì bị xua đuổi ra khỏi các quân y viện, làng phế binh và ngay cả ngôi nhà của mình.

19-4-1975 tại Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch, Phan Thiết. 30-4-1975 tại Tổng Y Viện Cộng Hòa-Sàigòn. Thảm họa gì đã đến với các thương bệnh binh còn đang điều trị, khi giặc về? Có ai cầm được nước mắt trong cảnh đoạn trường máu lệ, khi từng đoàn thương binh, nối gót đắt dìu ra cổng. Người sáng dắt kẻ mù, kẻ bị thương nhẹ cõng người trọng bệnh. Khắp lối ra vào, máu me vương vãi với nước mắt đoanh tròng của những nạn nhân bị bỏ rơi, không đại bàng, chẳng đồng đội và cũng hết hậu phương. Một số chết vì vết thương quá nặng, số khác sống trong cảnh tàn phế vĩnh viễn, vì vết thương không được tiếp tục điều trị. Đời thê thảm quá, cũng may lúc đó quanh họ, còn có những cô gái bán phấn buôn hương ở Ngã ba Chú Iá, Gò Vấp, những người xích lô ba gác, kẻ cho tiền, người giúp công, đưa hết những bệnh nhân xa xứ, tới bến xe về quê sống tiếp kiếp lính bèo.

Cuộc đổi đời nay đã xa lắc nhưng mỗi lần nhớ cứ tưởng mới hôm qua hôm nay. Ba mươi lăm năm rồi ta còn sống được, để nói chuyện văn chương chữ nghĩa trên đất người, đã là điều đại phúc. Trong lúc đó nơi quê nhà ngàn trùng xa cách, những người phế binh năm nào, không biết nay ai còn ai mất. Nhưng chắc chắn một điều, dù họ có sống hay đã chết, thì hận nhục, thương đau cũng đâu có khác gì bóng ma trơi, những mảng đời nghèo hèn tăm tối. Đâu có ai muốn nhắc tới những thân phận hẩm hiu trong vòng đời tục lụy, kể cả những cấp chỉ huy cũ, hiện đổi đời giàu sang, mồm to miệng thét ở hải ngoại.

- Xin hãy thương lấy họ, hãy cứu vớt họ đang trôi nổi trong ngục tù nghiệt ngã.
- Phế binh cũng là một phần của tập thể cựu quân nhân hải ngoại.
- Hãy rớt một chút ân thừa cho những thây người còn sống sót trong bể hận trầm luân.
- Hãy cho họ một chút tình thương trong cơn hấp hối.
- Hãy dành cho họ một chút không gian nho nhỏ, trong căn nhà VN to lớn, đã được các cộng đồng tị nạn hoàn thành trên khắp nẻo đường viễn xứ, để họ an tâm chờ đợi luân hồi và một vòng hoa tặng người chiến sĩ ca khúc khải hoàn, mà chắc chắn phải có trong thời gian gần.

Ngày xưa người chinh phụ, giữ sạch tâm hồn và băng trinh tuổi ngọc, để đợi chồng ngoài quan tái, hy vọng cuộc chiến mau tàn, để phu phụ trùng phùng, kết lại mối duyên xưa:

"Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
Xin vì chàng giũ lớp phong sương
Vì chàng tay chuốc chén vàng
Vì chàng điểm phấn, đeo hương não nùng
Liên ẩm, đối ẩm, đòi phen
Cùng chàng lại kết, mối duyên đến già..."
(Chinh Phụ Ngâm)

Nhưng người chinh phụ VNCH lại không có cái diễm phúc đó, vì khi quê hương vừa ngưng tiếng súng, lập tức từ quan quân cho tới sĩ thứ, những người bại trận, lớp lớp vào tù. Lính chết đã rục tử thi vẫn bị dầy mồ, lính bị thương tàn phế bị xua đuổi ra khỏi cuộc sống. Thử hỏi trên thế gian này, có kiếp người nào, đáng thương hơn người lính VNCH?

"Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương"
(Chinh Phụ Ngâm)

Cuộc đời thanh niên thời loạn ly, rốt cục chỉ còn lại nỗi buồn thiên cổ, xin hãy nâng ly rượu sầu lên môi mà nhớ. Nghiêng mình, cúi đầu cảm tạ những vị ân nhân, đã và đang hết lòng cưu mang, giúp đỡ tận tình "Thương Phế Binh, gia đình kể cả cô nhị quả phụ VNCH", hiện đang sống kiếp trầm luân rách đói, trong địa ngục VN.




Xóm Cồn Ha Uy Di
Tháng 11-2010


Saturday, November 13, 2010

Người tù không án
TônThất Đàn

Con người ta vừa sinh ra khỏi lòng mẹ, ai cũng phải cất tiếng khóc chào đời ! Chứng tỏ rằng cuộc đời nầy chẳng có gì là sung sướng cả? Vì thế Đức Phật đã bảo :”Đời là bể khổ ”.Nhưng khổ thì cũng vừa phải thôi, chứ sao cuộc đời tôi lại phải khổ nhiều như thế nầy ! Ông Trời có bất công xử tệ với tôi không? Nói về cuộc đời của tôi thì nhiều lắm, có thể viết thành một cuốn truyện dài. Tuy nhiên, để ngắn gọn tôi xin trích ngang một đoạn để kể về hai lần tù tội của đời tôi trong hai giai đoạn vừa qua, dưới chế độ bạo tàn của Cọng Sản cho quý vị độc giả nghe.

Người ta thường nói :”Họa vô đơn chí”. Đúng thế, cái sự rủi ro không bao giờ đến với mình một lần thôi đâu ! Đó là trường hợp của tôi : Lần thứ nhất, “ Mùa Hè đỏ lửa “ năm 1972. Sau khi tỉnh Quảng Trị bị thất thủ vào tay Cọng Sản Bắc Việt, đơn vị tôi là chiến xa M.48 phải rút về tại Cầu Dài ( trên Đại lộ kinh hoàng) để di tản vào Mỹ Chánh. Vì chúng tôi là Thiết Giáp, “mình đồng da sắt”, nên được lệnh phải đi sau cùng để chận đứng mọi sự truy kích của địch quân. Vì thế, khi đến Cầu Dài, Chiến xa M.48 của chúng tôi không thể nào lội qua sông được, (vì cầu đã bị phá sập) chúng tôi đành phải bỏ xe, chạy bộ để vào Huế. Nhưng vì lực lượng của đối phương mạnh gấp bội phần, hơn nữa bị lâm vào trận địa pháo và địch quân bao vây tứ bề. Đến khi chạy đến đê Cù Hoan thuộc Huyện Hải Lăng (Quảng Trị) chúng tôi liền bị một đơn vị của đối phương phục kích. Chúng chỉa súng AK vào chúng tôi và bảo :”Hàng sống, chống chết” . Khi đó đơn vị cũng đã tan rã rồi, chúng tôi đành phải đưa hai tay lên đầu hàng thôi ! Đó là vào sáng ngày 2/5/1972 ngày mà tôi bắt đầu bước vào cuộc đời “tù binh” đầy gian nan và nhiều nước mắt !...

Đầu tiên, chúng tập trung chúng tôi vào một ngôi làng (sau nầy tôi biết đó là làng Trung Đơn,Quảng Trị). Đợi đến khi trời tối, chúng mới trói thúc ké hai tay tôi lại và cột dính chùm với nhau cùng những tù binh khác, và cứ thế chúng đưa chúng tôi đi bộ ròng rã hơn một tháng trời mới ra đến Hà Nội. Cứ ban ngày thì nghỉ, nằm dưới những rừng cây già để tránh máy bay Mỹ ném bom, đêm xuống thì lại tiếp tục đi. Ngày nầy qua ngày khác, ăn uống thì không có gì, ngoài mỗi bữa chúng phát cho mỗi người hai tép lương khô của Trung Cộng ăn cầm hơi, uống nước suối để đi đường. Không bao giờ nấu nướng gì được vì sợ lộ mục tiêu, máy bay Mỹ sẽ ném bom xuống. Vì lo sợ chúng tôi trốn chạy, nên chúng lột giày chúng tôi ra hết, và bắt chúng tôi đi chân không, nên người nào người nấy chân cẳng đều bị ứa máu te tua ! Phần thì ăn uống không có gì, phần thì uống nước suối, và bị muỗi rừng đốt, nên nhiều người bị bệnh sốt rét và kiết lỵ, chết rơi rớt dọc đường rất nhiều! Hồi đó tôi không ngờ địch quân lại đưa chúng tôi ra giam giữ tại Cao Bắc Lạng đâu ? Tôi nghĩ rằng, chắc chúng chỉ đưa chúng tôi vào một “mật khu” nào đó của chúng mà thôi. Ai ngờ, sau một tuần lễ đi đến Quảng Bình, chúng bèn thanh lọc ra những Sĩ Quan có cấp bậc từ Chuẩn Úy trở lên đều phải tiếp tục đi ra Hỏa Lò (Hà Nội) hết. Ra đén Nghệ An, chúng bắt buộc mỗi người chúng tôi phải cùi thêm sau lưng một bao gạo 25 ký để ăn dọc đường cho đến tận Hà Nội. Vì những bao gạo đó mà suýt nữa tôi đã bỏ mạng ở thành phố Vinh rồi! Số là đoàn tù binh của chúng tôi đông lắm, mà người nào cũng có cùi gạo trên lưng. Khi đó gặp lúc máy bay Mỹ ra ném bom miền Bắc, bay ngang qua tưởng chúng tôi là đoàn “dân công”, một chiếc F.5 liền sà xuống rất thấp trên đầu, khiến tôi nhìn thấy được cả viên phi công nữa. Khi đó chúng tôi biết rằng thế nào cũng sẽ bị ăn bom chết rồi, bèn liều mình đưa hai tay quơ qua quơ lại làm dấu đại vậy thôi. Không ngờ, chắc viên phi công đó đoán biết chúng tôi là đoàn “tù binh” nên không đánh bom nữa và bay thẳng ra hạm đội. Còn những tên cán bộ áp giải chúng tôi quá sợ hải trốn đâu mất tiêu. Sau khi máy bay qua rồi, chúng mới ló mặt ra điểm danh chúng tôi lại, rồi tiếp tục giải chúng tôi ra tới Hà Nội.

Đúng 30 ngày sau (2/6/1972) chúng tôi đén Hỏa Lò (Hà Nội). Tôi nghĩ rằng chắc phải nằm ở đây với tù binh Mỹ rồi ! Nhưng không, mới tờ mờ sáng hôm sau, chúng phân phát cho mỗi người chúng tôi một vắt cơm có muối ở trong ruột, và ra lệnh tất cả đều lên xe Môlotova trực chỉ hướng Tây Bắc mà lên đường. Qua khỏi cầu Long Biên (sông Hồng) , vượt rừng núi Tây Bắc cho gần đến chiều tối mới địa điểm cuối cùng giam giữ tù binh. Đó là làng Thất Khê (thuộc tỉnh Lạng Sơn) mà đối phương đặt tên là trại T.H . Đặc biệt vùng nầy dân địa phương hoàn toàn là dân tộc Tày, nằm sát bên bờ sông Kỳ Cùng. Ở đây thì đành chịu thôi, không biết đường đâu mà vượt ngục. Ra ngoài mà gặp người Tày thì họ cũng bắt và giao lại cho trại tù thôi. Suốt ngày chúng tôi cứ ở trong bốn bức hàng rào , mỗi lần nghe báo động có máy bay Mỹ đến là tất cả đều xuống giao thông hào ẩn núp theo lệnh của trại.

Thú vị nhất là những chiều nắng ấm, chúng tôi được Trại hướng dẫn cho ra tắm ở bờ sông Kỳ Cùng .Đặc biệt giòng sông nầy có hai màu nước : giòng bên kia bờ là nước đục, còn bên nầy bờ của chúng tôi thì nước trong. Riêng tôi nghĩ rằng : Biết bao giờ tôi mới gặp lại được gia đình? Chắc “ngàn năm mây bay” phải ở lại nơi xứ nầy rồi! Cho nên chúng tôi thường nói đùa với nhau rằng : “Bao giờ hai giòng nước nầy hòa thành cùng một giòng nước trong, thì chúng tôi mới được về”! Mà thật vậy, không hiểu sao qua năm sau (1973), môt buổi chiều chúng tôi ra bờ sông tắm thì bỗng nhiên thấy cả giòng sông Kỳ Cùng nước trong xanh vắt một màu. Chúng tôi mừng quá, không biết hiện tượng gì đây? Chắc lời nguyền của chúng tôi được Thần linh báo ứng ? Đúng thế, khoảng một tháng sau chúng tôi được nghe tin trên loa phóng thanh của Trại là Hiệp Định Paris được ký kết, chấm dứt chiến tranh, đó là ngày 27/1/1973, và chúng tôi sẽ được “trao trả tù binh”. Chúng tôi mừng quá đến rơi cả nước mắt. Sau đó chúng tôi chờ đợi mãi cho đến tháng 3/1973 chúng mới đưa chúng tôi về Hà Nội để chuẩn bị “trao trả tù binh” . Riêng tôi thì chỉ còn hai ngày nữa là hết hạn “trao đổi tù binh”, thì tôi mới được đưa đến trao trả tại bờ sông Thạch Hãn (Quảng Trị). Đó là ngày 23/3/1973, cái ngày mà nó đã ăn sâu vào tâm khảm tôi đến chết vẫn không bao giờ quên. Chúng tôi có mặt bên bờ Bắc sông Thạch Hãn đã hơn một tuần lễ nay để chờ đợi được gọi tên trao trả qua bên bờ Nam sông Thạch Hãn. Ngày nào tôi cũng sống trong sự hồi hộp lo âu, không biết mình có được trả về hay không? Có nhiều người đến giờ phút chót vẫn không được trao trả theo Hiệp Định Paris, vì bị đối phương lật lọng. Thế rồi, vào một buổi sáng đẹp trời ngày 23/3/1973 ấy, tôi được Trưởng đoàn “trao trả tù binh” của đối phương gọi lên cùng một số anh em tù binh khác, cho biết rằng hôm nay chúng tôi được “trao trả tù binh”. Thật không bút mực nào tả xiết nổi sự vui mừng của chúng tôi trong lúc nầy. Riêng tôi vì quá mừng mà suýt nữa phát khóc trước sự chứng kiến của đối phương, nhưng tôi cố gắng nén lệ vào lòng, để dành khóc với thân nhân của mình đang ngóng chờ bên kia bờ sông Thạch Hãn !

Thật vậy, khi chiếc cano đưa chúng tôi từ bờ Bắc cập bến bờ Nam sông Thạch Hãn , tôi nhận thấy có rât nhiều quân nhân các cấp ra đón tiếp, kèn trống nổi lên khúc ca khải hoàn, trong đó có bà con thân hữu của tôi đã có mặt ở đấy suốt cả mấy tuần nay nhưng chẳng thấy bóng dáng tôi đâu? Nhất là bà mẹ già của tôi, ngày nào cũng lặn lội từ đèo Hải Vân (Lăng Cô) ra đến Quảng Trị để chờ mong gặp được đứa con trai trở về từ cỏi chết ! Đến ngày hôm nay bà mẹ của tôi mới được thỏa lòng mong đợi. Mẹ tôi đã ôm con trai của bà vào lòng và khóc nức nở trong sự vui mừng! Riêng tôi, có cảm tưởng rằng như mẹ tôi đã tái sinh tôi ra lần thứ hai.

Thế rồi, qua một thời gian ngắn ở “Trung Tâm An Dưỡng”, tôi lại được trở về đơn vị cũ phục vụ như hồi trước. Cấp bậc và chức vụ vẫn như xưa, không có gì thay đổi. Tôi tưởng rằng cuộc đời tôi rồi đây sẽ lên hương, vì tôi sẵn sàng chiến đấu và phục vụ lại quân đội cho đến cùng. Nhưng than ôi ! Chữ “nhưng” quái ác nầy đã làm cho cuộc đời tôi lại phải vào tù một lần thứ hai nữa.!...
Đó là ngày 30/4/1975. Sau khi miền Nam bị bức tử, đối phương một lần nữa lại bắt tôi trình diện để đi “lao cải” tức là đi ở tù lần thứ hai ! Lần nầy chúng giam tôi hơn 6 năm vì cái tội “ngoan cố”, đã được “trao trả” về rồi mà vẫn còn tiếp tục đánh phá chúng. Âu cũng là số phận thôi !

Trong suốt hơn 6 năm trời ở tù lần thứ hai nầy, tôi đã phải trải qua rất nhiều trại từ Bình Thuận ra đến Tuy Hòa (Phú Yên). Trại giam cuối cùng của tôi là “Trại A.30” (ở Thạch Thành, Tuy Hòa) . Qua nhiều trại, nhưng cái trại nầy do Công an trực thuộc Bộ Nội Vụ quản lý, nên chúng hành hạ và bắt chúng tôi lao động rất khổ sở. Vì ăn uống thiếu thốn, mà lao động thì quá sức người, nhất là vấn đề thăm nuôi chưa có, nên sức khỏe của hầu hết anh em tù “cải tạo” đều bị sa sút.

Cho đến một hôm, vào tháng 12/1978 chúng tôi nhận được lệnh cho phép viết thư về gia đình báo tin cho thân nhân được phép ra thăm nuôi, đồng thời cho gia đình biết địa điểm nơi đến gặp gỡ. Tôi cũng không ngoài ngoại lệ, liền viết thư báo tin cho vợ con biết để đi thăm. Khi vợ tôi nhận được thư thì mừng quá, vì lâu ngày không được gặp mặt, nhất là 3 đứa con rất nhớ Ba chúng nó, và tôi cũng vậy! Vì thế, “bà xã” tôi đã dắt díu luôn cả 3 đứa con từ Phan Rang (Ninh Thuận) ra đến Tuy Hòa để thăm Ba. Khi ra đến nơi, vợ chồng, cha con gặp nhau rất mừng rỡ, thỏa lòng nhớ mong, tưởng rằng sẽ còn có ngày gặp nhau nữa ! Ai ngờ !!!...Đó là lần cuối cùng tôi gặp đứa con trai đầu lòng yêu dấu của tôi !!! Số là , sau khi ra thăm nuôi xong, trên đường trở về, khi xe đò xuống đèo Cả (Nha Trang), xe bị đứt thắng, tài xế không làm chủ được tốc độ, nên cho xe húc vào thành núi làm cho trên xe chết 6 người trong đó có một đứa con trai đầu lòng của tôi. Còn vợ và hai đứa con còn lại của tôi đều bị thương rất nặng. Đứa thì bị gãy chân, đứa thì bị sứt trán. Riêng vợ tôi thì bị mê man bất tỉnh, tất cả đều được đưa vào bệnh viện Nha Trang. Còn đứa con trai đầu lòng bị tử nạn đó đã được một người bà con ởNha Trang đưa về chôn cất tại quê nhà.

Tất cả những sự việc xãy ra đó, tôi ở trong trại hoàn toàn không hay biết gì hết. Sau khi ở quê nhà , thân nhân có báo ra cho “trại cải tạo” biết tình trạng bi đát của gia đình tôi như vậy, nhưng trại cũng đã dấu luôn không cho tôi biết gì hết! Mọi người lo sợ tôi bị giao động tinh thần trong lúc nầy không có lợi cho bản thân, nên đều giữ kín không cho tôi biết. Sau đó một thời gian, có vài gia đình ở quê vợ ra thăm nuôi thân nhân , họ có cho bạn bè tôi biết, nhưng khi đến tai tôi thì mọi sự đã quá muộn ! Chuyện xãy ra như vậy mà mãi 3 tháng sau tôi mới hay tin .Lòng tôi như rối bời, thân xác kiệt quệ. Mấy lần tôi đã ngã quỵ, tưởng không thể sống nổi. May nhờ bạn bè an ủi, giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần, tôi đã qua khỏi. Tôi quá đau buồn , và nghĩ rằng cuộc đời tôi sao cứ khổ mãi thế nầy? Tôi liền lên trình bày hoàn cảnh bi đát của tôi cho Ban Chỉ Huy trại và xin phép được về nhà ít ngày để thăm gia đình. Nhưng làm gì có chuyện được phép về thăm nhà trong lúc nầy? Chúng bảo : “Ráng “cải tạo” tốt thì sẽ được về với gia đình.” Ôi ! Thế nào là tốt? Đến khi nào thì tốt? Đối với tôi, tôi thấy chuyện đó rất mơ hồ và quá viễn vông, và mãi mãi sẽ không bao giờ tốt nổi với lủ Cọng Sản. Tôi nghĩ, riêng tôi chắc phải ở nơi rừng thiêng nước độc Thạch Thành nầy “mút mùa lệ thủy” rồi ! Vì chúng đã xếp tôi vào loại “ngoan cố”, khó cải tạo, nên đã vào tù lần thứ hai.

Thế rồi, một hôm chúng tôi nhận được một tin vui do những người đến thăm nuôi cho biết là tất cả các Sĩ quan dưới chế độ cũ, ở tù trên 3 năm đều được đi định cư ở Mỹ cùng với gia đình. Tôi mừng quá, nhưng vẫn còn bán tín bán nghi, cho đến một hôm tôi được gọi ra thăm nuôi, nhưng chỉ có vợ tôi và bà mẹ già thôi ! Mấy con tôi, đứa thì ra đi vĩnh viễn, hai đứa còn lại thì vẫn đang còn nằm trong bệnh viện. Ôi ! Tình Mẹ thật là bao la ! Nghĩa vợ chồng thật là thắm thiết ! Trong hoàn cảnh khắc nghiệt nào, người Mẹ bao giờ cũng nghĩ đến đứa con trai của mình. Trong đau thương, khó khăn nào , người vợ cũng chung thủy với chồng mình ! Ôi ! Tình yêu thật là cao cả và nhiệm mầu ! Gia đình cũng cho biết tình hình như vậy, và khuyên tôi cứ hy vọng mà sống, và nhất là ráng giữ gìn sức khỏe , bảo toàn mạng sống để về sum họp với gia đình. Những lời vàng ngọc đó như một liều thuốc hồi sinh vực tinh thần chúng tôi dậy. Chúng tôi rất phấn chấn và sống trong sự hy vọng…

Người ta thường nói: “Tam thập nhi lập” , nghĩa là tuổi đời sung mãn nhất, tạo dựng nên được sự nghiệp huy hoàng nhất là ở độ tuổi từ 30 đến 40. Nhưng trong cái độ tuổi ấy của tôi, đều đã phải trải qua trong trại tù Cọng Sản từ Bắc chí Nam. Chúng vắt kiệt hết sức lực của tôi rồi! Đế khi về được với gia đình sau 7 năm trời tù tội thì thân tàn ma dại, sức khỏe đã mất hết rồi ! Cọng thêm 10 năm ở tù ngoài đời nữa, (trong tù là trại tù nhỏ, ra ngoài đời ở VN là traị tù lớn) thì còn gì nữa là sức trai trẻ? Cả cuộc đời vừa qua, tôi chưa làm một điều gì nên nổi để đền đáp công ơn sinh thành và sự hy sinh của Mẹ tôi. Đến khi có được điều kiện để lo cho Mẹ, thì Mẹ đã ra người thiên cổ . Hôm nay ngồi viết những dòng nầy như một nén hương lòng kính dâng lên Mẹ, con luôn luôn nhớ về Mẹ và rất biết ơn Mẹ ! Con rất hối hận vì chưa làm tròn được bổn phận hiếu thảo của một thằng con trai đối với Mẹ. Xin Mẹ hãy tha thứ cho con, và xin Mẹ phù hộ cho gia đình con, cũng như cháu chắt của Mẹ được mọi sự an lành.!

Viết đến đây vì quá xúc động ! Tôi không tài nào viết tiếp được nữa ! Nếu những dòng chữ nầy vô tình lọt vào mắt những bạn nào đã từng bị bắt làm tù binh, ở chung cùng trại T.H (Lạng Sơn , năm 1972 – 1973 ) với tôi . Hoặc những bạn nào đã từng ở tù “cải tạo” cùng với tôi tại Trại A.30 (Thạch Thành, Tuy Hòa) 1975 – 1981 . Nếu được, thì xin liên lạc với tôi qua số điện thoại : (908) 810 – 8057
Hoặc Email : tonthatdan@yahoo.com
Chúng ta cùng nhau hàn huyên tâm sự, để ôn lại những kỷ niệm đau thương trong cuộc đời trầm luân và ô trọc nầy ! Mong vậy thay !.

Sunday, November 7, 2010

Kissinger nhìn nhận :
“Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chớ không phải do VNCH.”


ĐÃ ĐẾN LÚC PHẢI ĐÒI LẠI DANH DỰ CHO QUÂN DÂN VNCH -
Le thanh Nhan


Date: Friday, November 5, 2010, 9:02 PM
Đã đến lúc Kissinger thành khẩn nhận tội !...
KMT.


ĐÃ ĐẾN LÚC PHẢI ĐÒI LẠI DANH DỰ CHO QUÂN DÂN VNCH
Lê Thành Nhân


Trong vòng chỉ 3 tháng nay một loạt biến động lớn lao về chánh-trị, ngoại-giao và quân-sự đã dồn dập diễn ra trong khu vực Á châu và Thái Bình Dương.

- Ngày 23-7-2010 Nữ Ngoại-trưởng Hilary Clinton nhân danh đại cường quốc Hoa Kỳ long trọng khẳng định tại Hội-nghị ASEAN ở Hà Nội: ”Hoa Kỳ xem Đông Nam A là khu vục thuộc lợí ích quốc gia của Hoa Kỳ về các phương diện anh ninh, kinh-tế, thương mại.”

- Ngày 24-9-2010, Tổng thống Obama đích thân triệu tập và chủ tọa Hội-nghị thượng-đỉnh tại New York (Second ASEAN Leaders Meeting) với các người đứng đầu các nước ASEAN để chủ động kết hợp các nước ấy trong một thế chiến lược mới. Một bản Tuyên bố chung (Joint Statement) quan trọng đã được công bố, và Tổng thống đã bỗ nhiệm ngay một Đặc sứ thường trực bên cạnh ASEAN tại Trụ sở của ASEAN tại Djakarta .

- Chỉ 5 ngày sau: ngày 29-9-2010: Bộ Ngoại-giao Hoa Kỳ tổ chức một cuộc hội-thảo ngay tại Bộ Ngoại giao tại DC dưới sự điều hợp của Đại-sứ Brynn với đề tài “Kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Đông Nam Á” (The American Experience in Southeast Asia : Historical Conference) trong đó diễn giả chính là Henry Kissinger.

- Trong khi chúng tôi đang viết bài nầy thì các đại diện ngoại giao, quân-sự cao cấp của các nước thuộc ASEAN và Hoa Kỳ, Nhựt, Úc, Ấn-độ, v.v...đã bắt đầu Hội nghị các Tổng-trưởng Quốc-phòng (ADMM plus) tại Hà Nội từ ngày 12-10-2010 rồi tiếp tục với những phiên họp riêng giữa các thành viên ASEAN và các cường quốc trong vùng: Hoa Kỳ, Nhựt bản, Ấn độ, Úc, v.v...Phiên họp ngày 28-10-2010 là một phiên họp cao cấp quan trọng với sự tham dự của NT Clinton.

Giữa lúc đó thì chiến hạm Hoa Kỳ tiến sát và tập trận dọc thềm lục địa Á Châu từ Biển Nhựt Bản xuống Ấn-độ dương…có lúc vào tận cảng Tiên Sa (Đà Nẳng) của Việt Nam .

Tất cả những diễn biến đó không phải là những điều ngẫu nhiên.

Trong bài nầy chúng tôi chỉ chú trọng đến cuộc hội-thảo tại Bộ Ngoại-giao ngày 29-9-2010 để tìm hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của các lời phát biểu của Henry Kissinger tại cuộc hội-thảo này (Đọc giả có thể tham khảo bài tường trình ngày 6-10-10 của Người Việt Online)

Các ý-kiến của Kissinger phát biểu trong cuộc hội-thảo nói trên được tóm gọn như sau: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chớ không phải do VNCH.”

Nhân dân Việt Nam và thế giới công chính đã chờ đợi câu nói đó từ 35 năm rồi, nay mới được thốt ra từ chính cửa miệng của Henry Kissinger, vào một thời điểm và tại một địa điểm có tính toán. Bởi vậy, nó có một giá trị vô cùng quan trọng. Nó trả lại danh dự cho hàng triệu chiến sĩ tự do của VNCH, từ nguời dân đen đến cấp lãnh-đạo cao nhứt. Nó giải oan cho hàng triệu linh hồn người Việt đã hi sinh cho Tự do. Nó trả lại DANH DỰ VÀ CHÍNH NGHĨA cho toàn thể Quân Dân VNCH từng bị bọn phản chiến và truyền thông bất lương bôi lọ.

Xin nhắc lại: Henry Kissinger là người chịu trách nhiệm về chánh sách ngoại giao của Hoa Kỳ từng đưa đến việc bán đứng VNCH cho Bắc Việt qua Hiệp-định Paris 1972, sự rút lui của Hoa Kỳ khỏi Đông dương 1975, và giao cho Trung Cộng làm “cai thầu khu vực” với bản Tuyên ngôn Thượng Hải (1972.)

Nixon và Kissinger bị mù mắt vì cái thị-trường khổng lồ béo bỡ của Hoa Lục, không ngần ngại phản bội lại đồng minh của mình. Cảnh tượng xót xa, bẽ bàng nhứt là Đệ 7 Hạm đội Hoa Kỳ nhẫn tâm án binh bất động, đứng nhìn hải quân TC cưỡng chiếm Hoàng Sa của đồng minh VNCH hồi tháng Giêng 1974. Ngày nay, khi Trung cộng trở mặt, sử dụng Hoàng Sa làm pháo đài khống chế Đông Nam Á và Thái Bình dương thì nước Mỹ mới mở mắt và nhận thấy hối hận về sự phản bội đồng minh VNCH của mình 35 năm trước.

Thực vậy, dân tộc Việt Nam là nạn nhân gánh chịu hậu quả thảm khóc nhứt của chánh sách Nixon-Kissinger với “Ngày 30 tháng 4 năm 1975.” Chính chánh-sách đó đã đưa gần 30 triệu nhân dân Miền Nam tự do vào cảnh điêu linh, thống khổ, nhà tan cửa nát, con mất cha, vợ mất chồng, kẻ thì bỏ xác trong ngục tù CS, người thì làm mồi cho hải tặc hoặc vùi thây dưới đáy biển. Không bút mực nào tả hết những tội ác của cộng đảng VN đối với gần 30 triệu dân Miền Nam từ 1975 đến nay.

Lời tuyên bố của Kissinger hôm nay, tuy rất ngắn, nhưng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chớ không phải do VNCH.”

Bằng những lời phát biểu ngày 29-9-2010 tại ngay thủ đô nước Mỹ, lãnh đạo nước Mỹ hiện nay dường như muốn nhờ Kissinger thay mặt nước Mỹ (Bộ Ngoại giao tổ chức) nói lên lời tạ tội và sám hối của nước Mỹ đối với gần một triệu sinh linh của chế-độ VNCH đã chết oan uổng, trong đó hơn nửa triệu đồng bào vượt biên chìm dưới đáy biển, hàng trăm ngàn Dân Quân-Cán-Chính VNCH chết trong các trại tập trung lao-động khổ sai, cộng với hàng trăm ngàn vợ con họ chết trong các “vùng kinh-tế mới” vì đói rét, bệnh tật và rắn rết.

Tại hội-nghị các Bộ-trưởng Quốc-phòng ASEAN (ADMM Plus) họp sau đó tại Hà Nội ngày 12-10-2010, Bộ-trưởng Quốc-phòng Hoa Kỳ Robert Gates đại ý tuyên bố ngay trước mủi của tên BTQP Trung cộng: ”Hoa Kỳ sẽ nhận trách nhiệm bảo đảm an ninh và tự do cho tất cả các quốc-gia ĐNA, nhứt là hải lộ xuyên Biển Đông, vì khu vực nầy thuộc quyền lợi quốc-gia của Hoa Kỳ về các phương diện an ninh, kinh-tế và thương mại.” Trong khi đó thì tàu chiến Hoa Kỳ trang bị vũ khí nguyên-tử đang tập trận với hải quân Nam Hàn ngoài khơi vùng biển của Trung cộng.

Gần hai tỷ dân trong khu-vực Á châu –Thái-Bình-dương thở phào, nhẹ nhỏm! Vì, từ nay, cái “lưỡi bò” hung hăng của tên bá quyền Hán tộc bổng teo lại thành……cái lưỡi gà bé tí tẹo! Không ai còn nghe các tướng lãnh TC khoác lác vung vít về sức mạnh quân sự của CHNDTQ và tham vọng độc chiếm Biển Đông của chúng. Không ai còn nghe cái loa khoác lác của Bộ Ngoại giao TC hàng ngày bô bô lên tiếng đe dọa các quốc gia tiếp giáp với “cái lưỡi bò đói khát”, nhứt là Việt Nam, Nam Dương, Phi-luật-tân, Brunei. Ngay sau khi Bộ-truởng QP Hoa Kỳ tuyên bố như trên, phát ngôn nhân của con cọp giấy Trung cộng bèn rêu rếu thông báo trả tự do vô điều kiện cho 9 ngư dân của đảo Lý sơn/Quảng Ngải bị chúng bắt giữ gần đảo Hoàng Sa cả tháng trước đó.

Các sự kiện trên đây chứng minh là vì cả tin nơi những tính toán sai lầm của tên con buôn chính-trị Kissinger, nước Mỹ phải để gần 40 năm (1972-2010) mới học được cái chân-lý đơn giản: Người CS marxist dù Nga hay Tàu hay Việt, chúng đều phản phúc như nhau. Nhờ sự giúp đỡ trong 40 năm qua của Hoa Kỳ nước Tàu mới thoát khỏi tình-trạng đói khát, lạc hậu và bắt đàu hơi khấm khá. Nhưng chưa chi thì chúng đã quay lại định ăn tươi, nuốt sống người thi ân cho mình. Đó là bản chất của người Cộng-sản Marxist. Hai dân tộc Đức và Nhật cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ tái thiết sau chiến tranh, nhưng họ không mang tính phản phúc đó.

Vấn đề mà chúng ta muốn bàn hôm nay là: vì cần mua bán, đổi chác với Trung cộng để trục lợi, bọn chánh khách vô liêm sĩ ở Hoa Thạnh Đốn, đã ra sức gán cho VNCH đủ thứ tội: nào là quân đội không chịu chiến đấu, nào là công chức tham nhũng, v.v…Bọn chánh khách bất lương Âu châu thì kết tội VNCH là tay sai Mỹ chỉ vì ganh ghét với Hoa Kỳ. Nếu quân dân VNCH không chịu chiến đấu thì làm sao giữ vB0ời Việt Quốc-gia càng sáng tỏ hơn bao giờ hết. Bây giờ thì không một ai còn nghi ngờ nữa: VNCH còn là còn tất cả! VNCH mất là mất tất cả! Chúng ta đòi hỏi lịch sử và nhân dân thế giới phải trả lại sự công bằng và danh dự cho Quân Dân VNCH, từ người thứ dân cho đến các cấp lãnh đạo Quốc-gia. Trong nội bộ người Việt, yêu cầu những kẻ vô ý thức hay bị CS tuyên truyền tẩy não trong 35 năm qua hãy chấm dứt những luận điệu tự phỉ nhổ mình bắng cách gọi các vị lãnh đạo Quốc-gia, các tướng lãnh của VNCH bằng thằng nọ, thằng kia. Cái cuộc “đổi đời” năm 1975 đã biến “THẰNG thành ÔNG” và đem “ÔNG xuống làm THẰNG” nay đã chấm dứt rồi, vì đó là cái thang giá trị Marxist trong đó “trí thức không bằng cục phân” (lời Mao Trạch Đông.) Thang giá trị (échelle des valeurs) của một xã hội Việt Nam văn minh đạo đức truyền thống phải được tái lập để làm nền tảng cho một nước Việt Nam hậu Cộng-sản. Chúng tôi sẽ bàn đến “hệ thống giá trị chân chính” của người Việt trong một bài khác. Hải ngoại, ngày 28-10-2010 Lê Thành Nhân - Ngày 23-7-2010 Nữ Ngoại-trưởng Hilary Clinton nhân danh đại cường quốc Hoa Kỳ long trọng khẳng định tại Hội-nghị ASEAN ở Hà Nội: ”Hoa Kỳ xem Đông Nam A là khu vục thuộc lợí ích quốc gia của Hoa Kỳ về các phương diện anh ninh, kinh-tế, thương mại.” - Ngày 24-9-2010, Tổng thống Obama đích thân triệu tập và chủ tọa Hội-nghị thượng-đỉnh tại New York (Second ASEAN Leaders Meeting) với các người đứng đầu các nước ASEAN để chủ động kết hợp các nước ấy trong một th�=E1��ng được Miền Nam đến 1975, khi mà Mỹ và Trung cộng ngã giá xong vụ buôn bán bẩn thỉu trên đầu nhân dân Việt Nam?

Ngoài ra, sau tháng 4, 1975, nhiều tướng lãnh liêm sĩ Hoa Kỳ đã viết lại hồi ký công nhận tinh thần dũng cảm và khã năng chiến đấu xuất sắc của QL/VNCH. Chúng ta không cần lặp lại ở đây. Còn nếu nói: vì tham nhũng mà chánh quyền VNCH sụp đỗ thì cứ hỏi chả lẽ nhà nước CHXHCN hiện nay ở VN ít tham nhũng hơn VNCH ngày trước? Thế tại sao nó còn nguyên đó hơn 35 năm nay? Cũng trong cùng thời gian với VNCH ai cũng biết ở các lân bang như Thái Lan, Phi Luât Tân, Nam Dương tình trạng tham nhũng trầm trọng hơn cả chục lần, nhưng có nước nào sụp đổ đâu!

Tóm lại, các chánh khách thiển cận, mù quáng của nước Mỹ lúc bấy giờ đã “hi sinh” quyền lợi của đồng minh VNCH với ảo tưởng đổi lấy một thị-trường béo bỡ của nước Tàu. Nhưng sự thật phủ phàng hôm nay là chính cái nước Tàu mà nước Mỹ vỗ béo đó đã đang quay lại ăn thịt nước Mỹ để giành ngôi vị đệ nhứt cường quốc trên thế giới. Và nước Mỹ ngày nay đã tỉnh ngộ, đang trở lại làm y chang cái công việc mà Quân Dân VNCH đã làm trước 1975, tức là chiến đấu chống đế quốc CS Trung quốc. Thế thì VNCH đã bị bức tử một cách oan uổng. Nhờ giương cao ngọn cờ chống lại bá quyền Trung cộng, bảo đảm an-ninh và tự do cho khu vực nên hiện nay Hoa Kỳ đang được nghênh đón trở lại Việt Nam như là môt “hiệp-sĩ.” Như vậy bọn CSVN không còn coi Hoa Kỳ là “đế-quốc xâm lược” nữa. Trái lại chúng coi Hoa Kỳ là vị cứu-tinh, và trả lại danh dự cho nước Mỹ.

Thế còn công lao hi sinh chiến đấu của Quân Dân Miền Nam để ngăn chận làn sóng đỏ của Nga, Tàu trong hơn 50 năm thì sao?

Vì thế, Quân Dân VNCH đòi hỏi nước Mỹ và thế giới phải trả lại danh dự cho họ vì họ đã hi sinh chiến đấu cho Tự do và An ninh của cả thế giới mà đã bị đối xử bất công bằng sự phản bội và bức tử oan uổng năm 1975.

Trên thực tế thì nhân dân Việt Nam trong nước đã làm việc nầy từ khi bọn “cách mạng” đặt chân vào Miền Nam vì, đối với mọi người dân trong nước thì cái gì của “ngụy” cũng tốt hơn “cách mạng”: bác sĩ “ngụy” cũng giỏi hơn, nhạc “ngụy” cũng hay hơn, nhân bản hơn, nếp sống “ngụy” cũng văn minh hơn, người dân “ngụy” cũng ấm no, hạnh-phúc hơn, v v...

Cuối cùng, sau khi chiếc mặt nạ của đảng CSVN kể công đánh ngoại xâm Pháp, Mỹ để giành độc lập bị rơi xuống đất, để lộ cái mặt thật của những kẻ bán nước đem tổ quốc dâng cho Tàu thì cái chính nghĩa bảo quốc của Quân Dân VHCN, của Người Việt Quốc-gia càng sáng tỏ hơn bao giờ hết. Bây giờ thì không một ai còn nghi ngờ nữa:

VNCH còn là còn tất cả!
VNCH mất là mất tất cả!

Chúng ta đòi hỏi lịch sử và nhân dân thế giới phải trả lại sự công bằng và danh dự cho Quân Dân VNCH, từ người thứ dân cho đến các cấp lãnh đạo Quốc-gia. Trong nội bộ người Việt, yêu cầu những kẻ vô ý thức hay bị CS tuyên truyền tẩy não trong 35 năm qua hãy chấm dứt những luận điệu tự phỉ nhổ mình bắng cách gọi các vị lãnh đạo Quốc-gia, các tướng lãnh của VNCH bằng thằng nọ, thằng kia. Cái cuộc “đổi đời” năm 1975 đã biến “THẰNG thành ÔNG” và đem “ÔNG xuống làm THẰNG” nay đã chấm dứt rồi, vì đó là cái thang giá trị Marxist trong đó “trí thức không bằng cục phân” (lời Mao Trạch Đông.) Thang giá trị (échelle des valeurs) của một xã hội Việt Nam văn minh đạo đức truyền thống phải được tái lập để làm nền tảng cho một nước Việt Nam hậu Cộng-sản.

Chúng tôi sẽ bàn đến “hệ thống giá trị chân chính” của người Việt trong một bài khác.

Hải ngoại, ngày 28-10-2010

Lê Thành Nhân

Sunday, October 31, 2010



Tâm Tình Người Lính VNCH Tỵ Nạn Thái Lan
( Trích trong hồi ký : Cuộc Đời Đổi Thay )
Mũ xanh Nhuyễn Minh Châu

Thưa quý vị,
Mỗi năm tới ngày lễ Halloween là tôi nhớ đến ngày đầu tiên tôi bước chân đến mảnh đất tự do để tạm dung thân. Tôi đã được may mắn vô cùng, trong khi có hàng vạn người thật vô phước đã không bao giờ tìm được hai chữ Tự Do. Một số người đã bỏ mình vì bị chìm ghe bởi sóng to gió lớn của biển cả và một số người khác bị hải tặc hãm hại đến chết hoặc bị tàu của hải tặc đánh chìm. Trong số những người bất hạnh nầy có ông Cảnh, Phó quận hành chánh của tôi ở Đức Hoà bị chết chìm khi lội vào bờ biển của xứ Thai Lan và một ông Phó quận hành chánh khác của tôi bị bọn cướp Thái Lan ném xuống biển lúc ông đã chống đối lại khi chúng làm hại vợ ông. Vì tôn trọng người quá cố và không muốn gợi lại nỗi buồn và đau khổ cho gia đình ủa ông nên tôi không tiện nêu tên ra.

Hai ông Phó quận nầy là hai vị Đốc sự hành chánh có khã năng nghề nghiệp và rất giỏi giắn. Hai ông đã giúp tôi tôi rất nhiều về việc điều hành cơ quan hành chánh quận, xã và ấp. Tôi rất buồn vì Hai ông đều vắn số, nhưng tôi được nghe những cựu viên chức của quận Đức Hoà và Dĩ An cho biết là vợ con của các ông ấy đã có cuộc sống rất ổn định nơi xứ người. Vợ chồng chúng tôi xin chia mừng cùng các bà và các cháu. Chúng tôi nghĩ là hai ông cũng yên phận nơi chín suối.

Lộ trình vượt biển.

Trong những tháng dài hơn một năm sống ẩn dật vì trốn việt cộng địa phương bắt tôi lại để trả thù khi tôi được miền Bẳc thả ra sớm hơn vì lý do tàn phế, vợ tôi đã tìm đường và đưa tôi đi vượt biển hai lần tại Nha Trang, nhưng bị bại lộ phải trở về Saigon và một lần thứ ba tại Cà Mau mà chuyến đi bị đình hoản quá lâu nên chúng tôi đành bỏ cuộc.

Nhưng rồi cuối cùng lần thứ tư, tôi đi lọt trên chiếc thuyền con chỉ dài có hơn chín thước do người em trai của vợ tôi tổ chức đi ra cửa Vàm Láng Gò Công. Tôi chỉ tốn tiền mua một cái hải bàn của ghe đánh cá thường dùng đi biển và tôi làm hoa tiêu để hướng dẫn con thuyền đi đến vùng vịnh Thái Lan.

Tất cả phụ nữ và co nít đều được dấu dưới khoan ghe, còn vài người đàn ông chúng tôi giả dạng dân đánh cá ngồi phía trên và thay phiên nhau lái ghe và tát nước khi những lượn sóng to đưa nước vào thuyền.

Chúng tôi xuất phát bằng xe đò từ bến Xóm Củi Chợ Lớn đến quận lỵ Cần Giuộc, rồi đi bộ đến bờ sông Cần Giuộc để lên ghe nhỏ và bắt đầu chuyến đi giữa ban ngày. Khi chiếc thuyền của chúng tôi bắt đầu nổ máy thì tên du kích trong làng phát giác biết được là ghe vượt biên bèn bắn mấy phát súng AK 47 để chận chúng tôi lại, anh tài công xả hết ga và chạy thoát.

Chúng tôi ra khỏi cửa biển lúc trời sẫm tối và còn thấy lờ mờ những ánh đèn của Thị xã Vũng Tàu. Nhưng, ánh đèn pha thật sáng trên đỉnh núi Lớn vẫn còn hiện rõ phía sau lưng chúng tôi. Nhờ cái đèn pha nầy mà tôi dễ định được vị trí của con thuyền và nhắm hướng ra khơi dễ dàng.

Tuy ghe nhỏ nhưng dùng đầu máy mạnh và chở ít người nên thuyền của chúng tôi đã mau đến vùng hải phận quốc tế rất an toàn vào lúc lúc trời ẩm tối ngày hôm sau. Tất cả trên ghe ai cũng đều thở phào nhẹ bổng vì chúng tôi đã thoát khỏi bàn tay khát máu của cộng sản.

Lúc bấy giờ tôi nghĩ rằng nếu có chết chìm trong chuyến hành trình trên biển chúng tôi cũng được chết giữa dòng nước trong lành hơn là chết tức tửi trong dòng nước hôi tanh mùi máu của bọn cộng sản Việt Nam. Bây giờ tôi cứ giữ con thuyền cho đúng hướng mà đi tiếp giữa vùng trời biển cả bao la rất đẹp. Chúng tôi đã qua khỏi những giờ phút sợ hãi và không còn :

Phập phòng bao nỗi lo âu
Bôn ba trốn chạy, trông mau thoát nàn
Có đâu tâm trí ngắm nhìn
Trăng sao, mây nước, để làm thành thơ

( Trich trong bài thơ Vượt Biên thơ của vợ tôi )

Bây giờ chúng tôi đang lênh đênh trên vùng biển quốc tế, tâm trí được thảnh thơi, tôi nghĩ ngay tới cái đèn pha Vũng Tàu và cám ơn nó đã giúp tôi làm điểm chuẩn để ra khơi.

Rồi một vài kỷ niệm vui buồn thoáng qua trong tâm tôi vì tôi đã nhớ lại là tại đỉnh núi Lớn nầy tôi đã lái chiếc xe Jeep lên đó vài lần để ngắm nhìn cảnh bình minh của biển Vũng Tàu thật là ngoạn mục. Lúc bấy giờ là đầu năm 1965, thời gian Tiểu đoàn 3 TQLC được nghỉ dưởng quân tại Bải Dâu Vũng Tàu một tuần lễ sau cuộc hành quân mệt mỏi tại đảo Phú Quốc khoảng ba tháng và hành quân tại vùng núi rừng Bình Gỉa hai tháng.

Từ cuối năm 1964 chiến trường miền Nam bắt đầu gia tăng khi Cộng sản đã cho xâm nhập các đơn vị của chúng từ cấp Trung đoàn để mở các cuộc hành quân đánh phá các đơn vị của chúng ta. Bắt đầu là trận Bình giã ( 31/12/1964 ) rồi các trận Ba Gia, Phụng Dư, Đồng Xoài, Đức Cơ, Bố Đức, Pleime, …TĐ3 TQLC đang hành quân tại đảo Phú Quốc được cấp tốc không vận tiếp cứu cho TĐ4 TQLC tại Bình Gỉa.và hành quân truy kích các Trung đoàn Q761 và Q762 tại vùng Xuyên Mộc, Long Lễ, Bà Rịa. Xong được không vận ra vùng 2 Chiến thuật để giải tỏa áp lực của SĐ 3 Sao vàng CSBV đang uy hiếp các quận Bồng Sơn, Tam Quan, An Lão, Phù Cát, Phù Mỹ vv…thuộc tỉnh Bình Định. Nơi đây Trung tá Nguyễn Thành Yên chỉ huy Chiến đoàn TQLC gốm có TĐ2, TĐ3 và TĐ4 làm cho SĐ 3 Sao vàng phải chịu nhiều tổn thất rất nặng nề tại các trận đánh đèo Bình Đê, Chợ Bộng thuộc quận Bồng Sơn…và chúng phải nể danh các đoàn quân TQLCVN.

Các đơn vị tổng trừ bị và thiện chiến phải hành quân liên miên trong những năm dài gian khổ để truy lùng và tiêu diệt quân Cộng sản hoăc mở các cuộc hành quân tiếp viện. Tôi bèn nhớ lại những thuở mà anh em chiến sĩ chúng tôi đã tung hoành trên bốn miền Chiến thuật và được dịp nhìn thấy nhiều cảnh rất đẹp của quê hương Việt Nam mà ngày hôm nay tôi bắt đầu phải bỏ xứ để ra đi không biết ngày trở về.

Đến khoảng 1 giờ sáng ngày thứ nhì, ghe nhỏ vẫn tiếp tục lướt sóng ngoài biển khơi thì bị một cơn mưa bảo với sóng to gió thổi mạnh. Nước vào ghe nên mọi đàn ông thanh niên phải rán sức mà tát nước. Chúng tôi thấy cái chết trong gang tất. Nhưng tôi vẫn bình tỉnh điều khiển ghe cố gắng lướt sóng ngang mà đi tới.

Thật là may mắn, sau bốn ngày đêm lênh đênh trên biển chúng tôi vừa cạn hết nước uống thì được tàu đánh cá Thailand cứu vớt vì ông thuyền trưởng nhìn thấy chiếc ghe nhỏ quá mà có phụ nữ và trẻ con, nếu ông không giúp thì chắc chắn ghe không chịu nỗi những lượn sóng to của đại dương, chúng tôi sẽ là mồi ngon của loài cá mập. Toán người vượt biển chúng tôi phải theo tàu họ đánh cá suốt hai tuần lễ rồi họ chở cá bán cho Singapore và luôn tiện thả thuyền nhân vào bờ. Trong hai tuần lễ trên tàu chúng tôi được họ nuôi ăn ở rất thoải mái và đối xử rất tử tế.

Lúc tàu đánh cá chạy gần tới bờ biển Singapore thì phi cơ tuần biển của nước nầy phát giác ra một số thuyền nhân nên báo cáo về nhà cầm quyền Singapore. Chúng tôi hồi họp và nôn nóng cả ngày chờ đợi sự chấp thuận của chính quyền cho nhập cư hay không. Nhưng sau rốt Singapore chẳng cho tàu Thái vào hải cảng bán cá lại còn cho một chiếc tuần dương hạm kè chiếc tàu Thái trở về tới biên giới Thái và Mã Lai.

Ông thuyền trưởng không dám cho tàu đánh cá vào sát bờ để thả chúng tôi xuống đất liền và ông cũng căn dặn kỷ là không cho chánh quyền Thái biết là tàu của ông đã giúp chúng tôi. Ông cũng không cho biết danh tánh và địa chỉ của ông để sau nầy chúng tôi có thể liên lạc. Ông đích thân điều khiên thuỷ thủ đóng một chiếc bè cho chúng tôi đẩy vào. Phụ nữ và trẻ con ngồi trên bè, đàn ông và thanh niên cặp theo bè lội vào bờ.

Vì tay và chân mặt tôi bị yếu nên tôi đã đánh rớt chiếc túi nhỏ trong đựng bộ đồ tôi mặc lúc vượt biên và vài bộ đồ lót. Khi lên tới bờ thân tôi chỉ còn mỗi một chiếc quần đùi rách mông để che thân.

Tôi còn tiếc mãi bộ đồ tây nầy mà tôi đã từng mặc đi tù từ Nam ra Bắc, rồi mặc từ Bắc trở về Nam và mỗi lần chuyển trại tù cũng với bộ đồ nầy. Ba lần tìm đường vượt biển cũng bộ đồ nầy, rồi lần cuối cùng đi vượt biển lọt tôi cũng đã mặc lấy nó. Tôi dự định khi qua tới nước Mỹ sẽ giữ lấy bộ đồ phong trần nầy làm vật kỷ niệm qúi giá vô cùng, như một kỷ vật lịch sử của đoạn đường đời của tôi đầy gian truân.

Tới bến bờ tự do.

Chúng tôi đến bến bờ Thái Lan an toàn và cảm thấy vui sướng vô cùng đến xúc động vì biết là tôi còn sống. Tôi bèn hít một hơi thở thật dài và rất khoan khoái trên mảnh đất không có cộng sản. Từ nay tôi sẽ được sống an toàn và tự do mặc dù nơi vùng trời xa lạ. Tôi nghĩ chắc mọi thuyền nhân khác cũng như tôi rất vui mừng như được tái sinh vì đã thoát chết lúc đi biển.

Số phận tôi đã yên, nhưng vợ con tôi còn bị kẹt lại nên lòng vẫn ưu phiền vì nỗi nhớ vợ thương con và nỗi nhớ quê hương không biết bao giờ được trở lại. Tôi buồn lắm ! vì :

Mang Thân mất nước lưu vong
Lạc loài xứ lạ kiếm tìm tự do
Nước ta xứ bé nhỏ nghèo
Nhưng không đâu sánh cho bằng Việt Nam
Và :
Gẫm thân xa xứ lạc loài
Buồn nhiều vui ít ôi đời ly hương .
(Thơ Bơ Vơ. TN)

Nơi chúng tôi đổ bộ vào bờ là một quận ở tận cùng phía Nam của đất Thái, bên kia con sông thuộc vùng đất Mã Lai. Chính quyền địa phương cho toán thuyền nhân tạm trú trên một sân khấu công cộng dùng để trình diễn văn nghệ cho dân chúng xem vào những dịp lễ hay ngày cuối tuần và sân khấu nầy nằm ngay trung tâm quận lỵ.
Nghe tin đồn thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam mới tới đây, dân Thái Lan nơi quận gồm có đàn ông, đàn bà và con nít lũ lượt đến xem chúng tôi mỗi lúc càng đông. Họ xí xô xí xào bằng tiếng Thái, chỉ chỏ đoàn người tỵ nạn và cười thích thú mà tôi không biết họ nói những gì. Tôi cũng bật cười vì tưởng chừng như họ đi xem chúng tôi như xem đoàn khỉ của một gánh xiệc. Chắc là dân nơi đây họ chưa thấy người Việt Nam bao giờ.

Từ người lớn tới đứa bé gái nhỏ hai tuổi trong toán thuyền nhân chúng tôi đều bơ phờ và hốc hác vì thiếu ăn, thiếu ngủ và thiếu nước uống. Thời tiết thì ngày thật nóng bức, đêm lại lạnh căm. Riêng tôi làm hoa tiêu nên phải ngồi trên mũi ghe suốt bốn ngày đêm dưới ánh mặt trời nóng cháy da và đêm lạnh nên mặt tôi bị nứt nẻ và nám đen như anh Chà Ấn Độ.

Một chuyện buồn cười mà tôi không bao giờ quên là mỗi khi tôi di chuyển qua lại trên sân khấu tôi phải lấy tay bụm cái mông lại vì cái quần càng rách to ra mỗi lần tôi xê dịch. Một cô giáo Thái ở nhà bên cạnh thấy tôi như vậy cô cười thương hại nên mang qua cho tôi cái quần tây cũ của cô màu vàng sáng chói, nhưng tôi cắt hai ống dài bỏ ra thành một cái quần short mặc vào cũng thoải mái.

Tôi cảm thấy tủi thân lắm ! vì mới năm nào trước đây mình là một cấp chỉ huy trong binh chủng TQLC, và một quận trưởng đã chỉ huy một cơ quan hành chánh và đã từng chỉ huy bao nhiêu chiến sĩ thuộc quyền mà bây giờ tôi chỉ là một kẻ vô quốc tịch, vô gia cư và vô nghề nghiệp. Tôi không còn một manh áo để che thân. Nhưng, tôi hy vọng người Mỹ sẽ chấp nhận tôi vào đất nước của họ theo diện tỵ nạn và rồi từ đây tôi sẽ cố gắng vươn lên để tạo dựng lại cuộc sống mới.

Tại vùng đất hứa nơi tôi sẽ tới
Quyết vượt khó khăn dựng lại cuộc đời
MC

Trại tỵ nạn Songkhla, Thailand.

Trong thời gian ở quận Tarkpay, Thailand, mỗi ngày toán thuyền nhân chúng tôi được chính quyền quận cung cấp thức ăn và chúng tôi cũng được dân chúng lai rai tiếp tế nên không sợ bị đói khát. Nhưng chúng tôi rất lo âu chờ đợi quyết định cho nhập cư hay không của chính quyền cao cấp hơn.
Sau ba tuần lễ ăn ở và làm trò vui cho dân chúng địa phương trên sân khấu công cộng của quận Tarkpay, đoàn thuyền nhân chúng tôi được chánh quyền Thái cho phép vào trại tỵ nạn Songkhla nằm phía Nam của Thủ Đô Bangkok. Thật là mừng vui không thể tả vì trước khi chúng tôi tới trại nầy cơ quan chánh quyền quận định cho chúng tôi tháp tùng một chiếc tàu chở chật ních người đi theo diện đăng ký để kéo ra khơi, vì lúc nầy họ không được phép nhận thuyền nhân nữa.


Số hồ sơ Tỵ nạn - 60-662

Trại Songkhla trước đây mấy năm nằm trong đất liền, nhưng nay vì dân số thuyền nhân càng ngày càng đông nên nhà cầm quyền Thái cho dời ra vùng đất trống nằm sát bờ biển có vị trí rộng rãi hơn. Những dảy nhà tôle không đủ để cho mấy thuyền nhân tới sau ở nên chúng tôi phải xin hoặc mượn tiền của những người tới trước có thân nhân trợ giúp để mua tre và lá xây dựng tạm những mái che mưa nắng và làm sạp để ngủ.

Điều kiện sống thật là dơ bẩn nên ruồi lằn đầy dẫy khắp nơi dễ sanh ra nhiều thứ bịnh cho thuyền nhân. Trại không đủ nhà vệ sinh cung ứng cho số người quá đông đảo. Tội nghiệp cho một số người vì không thể sắp hàng dài lê thê phải đứng xa tít phía sau mà chờ đợi lâu, nên bất cần sự kín đáo riêng tư, họ ngồi đại ngồi càng ngoài đồng trống trải không có gì để che thân, trông thật là kỳ cục nhưng thật tội cho họ, không biết làm gì hơn trong lúc khẩn cấp quá đi.

Mỗi ngày những thuyền nhân được Cao Uỷ Tỵ Nạn cung cấp thức ăn như thịt cá và đường cát trắng tương đối đủ sống hằng ngày. Gạo Thái Lan trắng thơm ngon thì được cấp quá dư thừa. Tôi nhìn những đống cơm thừa cá cặn bị đổ bỏ phung phí mà cảm thấy tội nghiệp cho vợ con tôi bên nhà phải ăn bo bo cứng như đá và thiếu thức ăn để dinh dưởng.

Tôi đã từng sống trong cảnh nghèo khổ lúc còn thơ ấu, nhưng chưa bao giờ thấy cái nạn thiếu ăn, thiếu mặc và thiếu mọi nhu cầu cho cuộc sống của đồng bào Việt Nam quá khổ sở dưới sự thống trị của bọn cộng sản vô lương tâm.

Trong thời gian chờ đợi để được phỏng vấn tôi tận lực trao dồi Anh ngữ qua sách báo để ôn lại và học hỏi thêm từ ngữ Anh văn. Khả năng Anh văn của tôi chỉ có thể nói chuyện thông thường được chút ít nhờ trong thời gian làm việc phải tiếp xúc với cố vấn Mỹ. Nhưng dù sao đi nữa tôi cũng có chút căn bản hơn nhiều người không biết một chữ sinh ngữ Anh và Pháp. Có một số người mang sách vở Anh văn đến nhờ tôi giảng nghĩa và tôi rất sẵn lòng giúp đở đồng thời để học ôn lại luôn thể và họ quí trong tôi như một ông thầy dạy học.

Bây giờ tôi nhớ lại mà buồn cười cho cái thân tôi vì không khác gì câu chuyện mà người đời hay nói rằng “ giữa một nhóm người mù tôi là thằng chột được làm vua “.

Ngoài ra tôi cũng có dạy kèm Pháp văn mà tôi còn chút vốn vì lúc xưa đã học chương trình Pháp. Nhờ dạy kèm Anh và Pháp ngữ mà tôi được cung cấp mỗi ngày hai bưa cơm cũng đở đói lòng trong hoàn cảnh cô đơn nơi trại tỵ nạn.

Trong thời gian sống nơi trại Songkha tôi có viết thơ cho vài bạn bè để báo tin mừng và thăm hỏi cùng với dụng ý muốn xin tiền để sắm một bộ đồ mặc đi Mỹ mà ngại ngùng không dám nói ra. Tôi rất vui mừng nhận được một bức thư đầu tiên với số tiền $50.00 của Thượng sĩ Nguyễn Văn Phẳng, trước là Hạ sĩ quan thường vụ của Bộ chỉ huy Chi khu Dĩ An. Ông mừng rỡ khi nhận tin tôi nhắn trong báo Việt ngử bên Mỹ gởi qua cho dân tỵ nạn đọc. Trong thư ông có lời xin lỗi tôi vì ông đã không tuân lịnh tôi ở lại cố thủ mà đào ngũ để xuống tàu di tản trước ngày 30 tháng 4.

Tôi rất thông cảm ông vì các nhà Lãnh đạo cùng nhiều Tướng lãnh và nhiều sĩ quan Cao cấp đã bỏ biết bao lính tráng dưới quyền để bỏ nước ra đi. Chi khu của chúng tôi có mất đi một Thượng sĩ mà nhằm nhò gì ? Lý do mà ông Phẳng phải bỏ tôi ra đi mặc dù ông rất quí mến tôi là vì ông đã biết rõ sự gian manh của bọn Việt Minh mà ông thường hay kể cho vợ chồng chúng tôi nghe những gì ông đã chứng kiến vào những ngày cuối cùng của thời hạn di cư vô miền Nam sau Hiệp định Génève năm 1954. Lúc đó ông còn là binh sĩ của đơn vị Commando của Pháp ở ngoài Bắc.

Tôi cũng có nhận được năm mươi dollars của cựu Đô Đốc Cang gởi cho và $20.00 của anh Trung tá Nguyễn Thế Thứ, người đã thay thế chức Quận trưởng Dĩ An khoản một năm và vào lúc cuối tôi lại trở về Dĩa An từ quận Đức Hoà. Một trăm hai mươi dollars bên Thái lúc bấy giờ là một số tiền khá lớn đủ cho tôi sắm sửa và may quần áo.
Ngoài ra tôi chẳng được một chữ hồi âm nào của một vài anh bạn rất thân với vợ chồng chúng tôi và rất kính nể chúng tôi trước kia. Thật buồn ! Lúc mình sa cơ rồi mới thấy rõ tình đời bạc trắng như vôi.

Ông Thượng sĩ Phẳng đã mất vì bịnh tim hơn mười năm nay tại thành phố Denver tiểu bang Colorado. Tôi vẫn còn nhớ thương ông rất nhiều vì lúc xưa ông rất gần gủi vợ chồng chúng tôi, và ông là cứu tinh của tôi trong lúc túng thiếu nơi trại tỵ nạn. Tôi cũng nhớ ơn cựu Đô đốc Cang và anh Thứ đã sốt sắn giúp đở tôi.

Phong trào phục quốc.

Lúc nầy mọi người dân trong nước đều rất mong chờ một phong trào phục quốc từ bên ngoài về để quang phục quê hương đang sống dưới sự cai trị độc tài của loài quỉ đỏ. Đã có rất nhiều tin đồn trong nước rằng nơi nầy có ông Đại tá …đã trở về nước và đang chỉ huy một đoàn quân tại núi Bà Đen, Tây Ninh, nơi kia có một ông Tướng… về nước chỉ huy Sư đoàn TQLC tại khu rừng Sát vv…

Tôi là một cựu Trung tá với 21 năm trong quân đội và đã làm Quận trưởng tám năm nên tôi biết rất nhiều cấp chỉ huy trong quân đội và trong cơ quan hành chánh. Mặc dù một số đã di tản trước 30 tháng 4, nhưng cũng còn rất nhiều cấp chỉ huy ở lại trong nước. Riêng trong binh chủng TQLC mà tôi đã từng phục vụ, từ vị Tư Lịnh Phó Sư đoàn đến vài Lữ đoàn trưởng và Tiểu đoàn trưởng hầu hết đã vào rọ rồi, còn ai đâu mà chỉ huy binh lính. Khu rừng Sát sình lầy có vị trí nhỏ hẹp chổ đâu mà cho binh lính của một Sư đoàn đóng quân. Chỉ có người thường dân không hiểu biết về quân sự mới tin những lời đồn nhảm đó mà thôi.

Trước khi vượt biển vợ chồng chúng tôi đã biết trước là thế nào cũng có phong trào nầy phong trào nọ và phục quốc vv…bên các trại tỵ nạn. Vợ tôi đã tiên đoán chuyện sẽ xảy đến, nên có khuyên tôi rằng : Em thấy cuộc đời nhà binh của anh đã quá gian khổ, nào là thương tích bị tàn phế, đi tù rồi về nhà bị bắt lại thoát chết và sau đó sống ẩn dật quá khổ sở. Mấy đứa con nhỏ của chúng mình thì sống nheo nhóc, con đau em phải bán từ cái quần cái áo để mà lo thuốc men cho con. Anh thấy không ? bây giờ gia đình mình tự gánh chịu đủ thứ vất vả trong cuộc sống đau đớn ê chề. Em nghĩ là bổn phận của anh với đất nước cũng là tạm đủ rồi. Hậu quả là nay anh và vợ con anh được cái gì ? bây giờ có ai giúp gì cho gia đình mình không ?. Hơn nữa anh chỉ còn lại cái thân tàn ma dại. Nếu anh qua tới trại tỵ nạn họ có lôi kéo anh vào con đường phục quốc nữa thì anh nên dứt khoác đi. Anh không còn sức để mà chiến đấu nữa đâu. Qua tới Mỹ anh lo tìm việc làm để ổn định cuộc sống và gởi tiền về lo cho các con anh.

Khi anh đã vượt biển lọt rồi, em cũng sẽ tìm cách dẫn con rời bỏ cái quê hương nầy mà theo anh để cho con chúng mình có một tương lai vững chắc. Em biết bọn cộng sản chúng nó không bao giờ cho con mình ngóc đầu lên nổi.

Tôi nghe những lời vợ tôi khuyên răn và giải thích mà cảm thấy thấm thía cho cuộc đời mình đã dấn thân 21 năm trong binh nghiệp và buồn rũ rượi muốn rơi nước mắt.

Thật đúng như sự tiên đoán của vợ chồng tôi, khi tôi mới bước chân vào trại Songkhla vài ngày thì có ông Lê Quốc Tuý từ bên Pháp qua, ông mời tôi và một số cựu sĩ quan, công chức và giáo chức đến Ban chỉ huy trại nghe ông ấy nói về tổ chức phục quốc của ông. Ông Tuý tự giới thiệu ông là cựu sĩ quan Không quân của thời Pháp và theo thành phần của chánh phủ Trần Văn Hữu sống lưu vong bên Pháp từ khi cố Tổng thống Ngô Đình Diệm về nước. Ông Tuý cũng cho biết là ông lãnh đạo phong trào nầy và lo về mặt ngoại giao, nên ông đi đến các trại tỵ nạn vận động và tuyển mộ binh lính. Ông cũng cho biết sẽ có hai cựu Tướng lãnh lo về việc chỉ huy mặt trận. Ông nầy nhờ quen biết với em của Phó Thủ tướng Thailand giới thiệu nên ông được tự do vào các trại tỵ nạn Thailand dễ dàng để mộ quân.

Vì ông được biết tôi là cựu Trung tá Quận trưởng ra tù từ Yên Bái nên ông đưa ra vài hình ảnh của hai cựu Tướng lảnh mà tôi thường tiếp xúc trước kia và hình của hai cựu Đại tá bạn của tôi để chứng minh và để lấy lòng tin của đồng bào trong trại.

Tôi có hỏi ông Lê Quốc Tuý về thể thức đưa quân trở về Việt Nam bằng ngỏ nào và nước nào đứng ra yểm trợ phong trào nầy. Ông Tuý trả lời rằng : quân sẽ được đưa về từ ngả Cambodia và phong trào nầy do Trung cộng yểm trợ. Tôi có ý kiến sơ qua với ông ấy là hiện nay đã có cả chục Sư đoàn cộng sản Việt Nam đang chiếm đóng trên đất Miên thì không dễ gì những toán quân phục quốc qua lọt được cái hành lang đó. Một điều nữa mà tôi không đồng ý là miền Nam đã bị bọn cộng sản Việt Nam cưởng chiếm bây giờ lại nhờ thằng cộng sản Tàu giúp thì không khác nào chạy ô mồ lại mắc ô mả.

Sau đó vài tuần ông Tuý và anh cưu Đại tá bạn tôi đã bắt đầu trở vào trại Songkhla nhận người tình nguyện gia nhập phong trào và lập danh sách.

Lúc bấy giờ trong trại Songkhla rất sôi nổi về chuyện phục quốc. Có đa số ghi danh gia nhập là thanh niên, một ít cựu quân nhân các cấp mà lúc đó chỉ có vài cựu Đại uý còn đa số là Hạ sĩ quan và Binh sĩ. Mấy em thanh niên nầy chưa bao giờ đi lính và rất hãnh diện và hãn iện với cái tiếng “ người hùng sắp trở về cứu nước “.

Tôi đã trả lời dứt khoát là tôi không tham gia, tuy nhiên các ông Tuý và Đại tá bạn tôi nhờ tôi trả lời dùm nếu anh em có hỏi thì tôi cho họ biết rằng mấy ông nầy là người của quốc gia thật sự để anh em đừng có nghi ngờ họ là những người do Việt cộng gài vào để bắt bớ ai có tinh thần phục quốc.

Có một số anh em cựu quân nhân hỏi tôi rằng : Ông thầy nhận xét thế nào? Tụi em rất muốn tham gia phong trào nầy và xin cho tụi em biết ý kiến là có được hay không?
Vì việc phục quốc là một cuộc chiến đấu có chính nghĩa cao cả mà tôi chưa biết hư thực ra sao nên tôi không có ý kiến là nên hay không nên tham gia. Nhưng tôi cảm thấy xót xa cho sự trở về của anh em và tôi chỉ nói với mấy em ấy rằng công cuộc phục quốc là đại chính nghĩa của người có lòng yêu nước nhưng mấy em cũng phải biết rằng con đường phục quốc sẽ đầy cam go và gian khổ lắm. Tuỳ sự lựa chọn của mấy em, tôi không khuyến khích mà cũng không ngăn cản.

Sau khi lập danh sách rồi hai ông trong tổ chức phục quốc thông báo ngày giờ họ sẽ cho xe vào trại để rước đoàn quân phục quốc xuất trại và lên đường. Tới ngày đã được ấn định, họ mang xe GMC vào trại và loa phóng thanh kêu gọi những người đã ghi tên lên trình diện tại Ban chỉ huy để được di chuyển ra khỏi trại Songkhla đi đến một nơi khác. Nhưng loa phóng thanh cứ gọi mãi mà chỉ có khoảng hơn một tiểu đội cựu quân nhân trình diện tại sân cờ, còn mấy trăm người khác trốn tránh không chịu ra trình diện.

Sau khi chính thức được nhận nhập cư tại Mỹ tôi được đưa về Bangkok để làm thủ tục và khám sức khoẻ trước khi sang Hoa Kỳ. Tôi có đến thăm hai anh cựu Đại tá trong Ban tham mưu phục quốc đang tạm trú tại một ngôi biệt thự ngay trung tâm Bangkok. Họ có cho tôi biết là một ngày nữa một vi cưu Tướng lãnh sẽ đến và ông nầy sẽ là Tư lịnh chỉ huy trực tiếp lực lượng phục quốc. Tôi có gặp lại mấy anh em đã sống trong trại Songkhla với tôi đã được đưa đến tạm đóng quân tại đây để chờ ông Tuý đến các trại tỵ nạn khác ở vùng biên giới Thái Miên tuyển thêm quân.

Lúc ấy tôi rất cảm thương mấy anh em nầy vì biết rằng anh em sẽ rất gian khổ và tôi kính phục vô cùng sự hy sinh lớn lao của anh em với tấm lòng yêu nước cao cả. Sau khi tôi qua Mỹ vài tháng thì hay tin ông Tuý và Bộ tham mưu hành quân gồm có hai cựu Tướng lãnh và các cựu Đại tá bạn của tôi đã bất đồng chánh kiến và tan rã. Tất cả những người trong mặt trận nầy đã trở về Mỹ.

Vài năm sau tôi nghe tin là phòng trào nầy đã về Việt Nam hoạt động với những nườc từ bên Pháp và bị bại lộ nên đại sự không thành. Tuy nhiên tôi rất khâm phục tấm lòng của ông Tuý cùng những vị hết lòng yêu nước đã can đảm dấn thân vào cuộc quang phục quê hương. Tôi đã nghe tin tinh buồn là ông Tuý đã qua đời tại nước Pháp trong nhiều năm qua và ông Trần Văn Bá đã bị tử bọn Việt cộng xử tử hình. Tôi kính cẩn nghiêng mình tưởng mộ chiến sĩ Trần Văn Bá và một số chiến sĩ nữa không nhớ rõ tên đã anh dũng hy sinh vì tổ quốc .


Khi mới vào trại Songkhla tôi đã nghe nói rằng bên xứ Mỹ nầy : Nhứt là phái nữ, hai con nít, ba là … rồi mới tới bọn đàn ông chúng tôi là hàng thứ kế.

Mà quả thật như vậy, trong hai tháng ở Songkhla tôi nhận thấy những người phái nữ có chút nhan sắc mặn mà và dễ coi qua cặp mắt xanh của các anh Chờ đợi phỏng vấn.

Mỗi thuyền nhân phải qua cuộc phỏng vấn của các phái đoàn của nước mình muốn xin định cư tỵ nạn. Có người được đi theo diện bảo lãnh từ các nước mà thân nhân đang sống. Còn những cựu quân nhân như chúng tôi thì được người Mỹ chấp nhận cho định cư theo điều kiện ba.

Một điều làm tôi chán ngán và bất mãn vô cùng là những anh trong phái đoàn Mỹ phỏng vấn có những thái độ rất là bất công và không còn coi chúng tôi là những ngưới lính đồng minh của quân đội Mỹ đã chiến đấu sát cánh bên nhau trong thời chiến tranh Việt Nam trước đây.
phỏng vấn cũng là yếu tố để được chấp thuận cho định cư dễ dàng. Xin lỗi có thể mấy chị em ăn chơi nét đẹp duyên dáng còn có giá hơn chúng tôi.

Trong khi đó những anh em cựu quân nhân bị hạch hỏi đủ điều mà tôi cho là quá đáng. Có những anh em sĩ quan trẻ bị mấy anh Mỹ trong ban phỏng vấn hạch hỏi rằng cây súng lục hiệu Colt 12 cân nặng bao nhiêu và dài mấy inches ?

Tôi nghĩ thật cho buồn tủi cho người lính bại trận mất nước lưu vong. Thuyền nhân mới vừa bước chân tới bến bờ đất Thái như chết đi sống lại, thể xác và tinh thần còn tả tơi, tên tuổi của vợ con mình chưa chắc còn nhớ hay không mà làm gì nhớ những cái thứ lẩm cẩm nầy ? Có một em cấp Thiếu uý than thở với tôi rằng : ông thầy ơi! họ bảo em tả hình dạng cây súng Colt thì em còn nhớ được, nhưng khi ông Mỹ hỏi em sức nặng và kích thước em nói trật nên họ nói em khai gian, họ nói em là sĩ quan tại sao không biết rõ kích thước của cây súng lục. Họ bảo em về chờ để xét lại rồi sẽ quyết định. Và mỗi lần được phỏng vấn lại phải mất mấy tháng nữa nên em nản quá !

“ Những điều nầy làm cho tôi có nỗi suy tư và rất buồn cho thân phận của một nước Việt Nam nhỏ bé phải chịu biết bao ảnh hưởng của chính trường quốc tế “.

Sau cuộc chiến mà dồng minh đã tháo chạy và bỏ lại một miền Nam đau khổ và chúng tôi, những cựu quân nhân và công chức của chế độ cũ bị đày đoạ trong các trại tù khổ sai, mất cả nhân phẫm của con người. Các vị cựu lãnh đạo của miền Nam, các vị chỉ huy Cao cấp cũ trong Quân đội của chúng tôi có lẽ vì bận lo ổn định cuộc sống mới nơi xứ người nên không có thì giờ mà nghĩ đến việc cứu sống sống sinh mạng anh em trong tù .

Nước Mỹ đồng minh và cả thế giới đều bỏ mặc hay quên lãng chúng tôi ?, mặc tình cho bọn cộng sản tha hồ đày đoạ.
Chúng tôi đã từng ngày mong ngóng và lắng nghe những tiếng nói của các vị đã bỏ nước đi trước và thế giới bên ngoài với lương tri nhân loại sẽ binh vực và cứu giúp chúng tôi. Nhưng niềm mong đợi của chúng tôi chỉ là sự tuyệt vọng. Tôi tưởng chừng như Việt Nam lúc bấy giờ bị bức màn sắt ly cách với thế giới bên ngoài. Tha hồ cho bọn cộng sản là kẻ chiến thắng mặc tình thao túng.

Người dân Việt không thể sống nổi dưới chế độ của chúng phải đánh liều mạng sống mà vượt trùng dương bằng những chiếc thuyền con để đổi lấy hai chữ tự do.

Chúng tôi là cựu quân nhân đã bị tù đày cộng sản thật là nhục nhã, bây giờ cũng cảm thấy nhục lắm vì phải xin xỏ để được một nước thứ ba chấp nhận cho định cư tỵ nạn. Khi lên gặp phái đoàn Mỹ phỏng vấn vài em chiến sĩ trẻ nhẹ dạ cũng muốn xón đái lên rồi, bởi vì nếu bị bác lần phỏng vấn nầy là phải chờ đợi thêm một thời gian mấy tháng dài mới được gọi phỏng vấn lại.

Tôi may mắn được anh cựu Thiếu tá Mỹ giúp đở tận tình. Lúc bấy giờ ông ấy là Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tại Thailand. Lúc xưa ông không có phục vụ tại Việt Nam, nhưng ông có làm cố vấn cho Quân đội Cao Miên. Ông nghe nói có một cựu Trung tá của QLVNCH đã đi tù ngoài Bắc mới vào trại. Ông ta đã mời tôi lên văn phòng để hỏi tình hình trại tù ra sao. Tôi kể lại rõ ràng tất cả những tình trạng mà tôi đã sống ngoài Yên Bái. Tôi có khai cấp bực và chức vụ cũ, khai cả ba huy chương Mỹ mà tôi nghĩ rằng cũng là yếu tố để chứng minh. Tôi cũng có cho biết rằng trong thời gian tôi làm Quận trưởng Dĩ An, Biên Hoà, ông Đại sứ hiện tại tên White House tại Bangkok là Lãnh sự tại Biên Hoà trước năm 1975. Vị Cao uỷ nầy rất tin lời khai của tôi và ông đã tận tinh giúp tôi. Tôi vẫn còn nhớ chiếc áo thun TQLC mà ông đã tặng tôi. Ông cũng giúp tôi ưu tiên được phỏng vấn thật sớm.

Trong thời gian khoảng hai tháng tại trại Songkha tôi đã chứng kiến tận mắt và nghe tận tai những hành động man rợ của bọn hải tặc Thái. Lúc đó có vô số người đã chết vì bị hảm hiếp hoặc bị đấm chìm giữa lòng đại dương thật quá đau thương chỉ vì hai chữ Tự Do.

Trong những năm chiến tranh, các chiến sĩ đồng đội của tôi đã phải bỏ nhiều xương máu trong chiến cuộc vì chiến đấu cho chính nghĩa tự do, nhưng nay cũng vì đi tìm một cuộc sống tự do mà anh em đồng đội chúng tôi lại tiếp tục hy sinh máu xương thêm nữa trên đường vượt biển. Những hậu quả nầy là do bọn cộng sản bạo tàn gây ra cho một dân tộc triền miên đau khổ.

Sau cùng tôi được một gia đình Mỹ bảo trợ và lòng tôi cảm thấy vui, buồn và lo âu lẫn lộn. Tôi rất vui là sắp bước chân lên vùng đất tự do. Tôi lo là vì qua xứ Mỹ văn minh mà không có một cái nghề nghiệp gì và chân tay lại không được khoẻ mạnh như người bình thường. Tôi vẫn còn nỗi ưu phiền là vì vợ và con còn kẹt lại bên nhà mà đến nay đã xa nhau mấy tháng rồi vẫn chưa có tin tức. Tôi không biết được chuyện gì lại xảy ra cho vợ con tôi bên nhà ?

Và tôi không quên những anh em chiến hữu của tôi còn lại trong trại tỵ nạn đang hồi họp chờ đợi phái đoàn Mỹ chấp thuận cho định cư càng sớm càng tốt. Nếu vì lý do gì mà họ bị kẹt lại sáu tháng, một năm hoặc hai năm thật là thời gian uổng phí cho cuộc đời.

Thân tôi đã yên phận rồi
Nhưng còn bao nỗi âu sầu đắn đo
MC

Kỷ niệm ngày mới bước chân lên đất Mỹ tỵ nạn đúng lễ Hallowen.

Monday, October 25, 2010

Đưa anh về nhà

Trần Như Hùng
Đây là bài ghi lại nguyên văn câu chuyện do em gái cố Th/U Lưu Đức Linh, phòng Tâm Lý Chiến Sư Đoàn TQLC thuật lại.

Th/U Lưu Đức Linh, khóa 3/72 Trừ bị Thủ Đức, đầu tiên được bổ sung về TĐ 9 Mãnh Hổ, sau đó thuyên chuyển về phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến SĐ. Tháng Ba năm 1975 anh mất tích ở Đà Nẵng khi SĐ/TQLC triệt thoái về Nam. Ba mươi hai năm sau, các em anh về lại VN tìm được di cốt và cải táng, đưa anh về nằm bên cạnh mồ mẹ.

Cuối tháng Ba 1975, ở Sài Gòn khi nghe tin toàn bộ Sư đoàn TQLC ở Đà Nẵng di tản về Vũng Tàu bằng đường thủy Ba em có ra đó để đón anh Linh. Chờ hoài không thấy, Ba em hỏi thăm những người về, có người thì nói thấy anh Linh em bơi ra
(Th/U Lưu Đức Linh (Phòng TLC) đứng bìa trái, kế đó là 3 MX không rõ tên, đứng bên bìa phải là Th/U Đặng Phạm Hùng, Phòng ANQĐ/SĐ)
biển nhưng bị chết chìm, người thì nói anh Linh bị chân vịt của tàu chém vào chân nên bị chìm … Oái oăm là có người bà con phía bên Ba em nói chính mắt ông thấy anh Linh chết trên biển. Nghe tin như vậy xong, Ba em trở về SG đi thẳng vào tiệm hớt tóc cạo đầu trước rồi mới về nhà. Đến nhà Ba nói với Má em thằng Linh chết rồi xong ông đi thẳng lên lầu. Má em òa lên khóc vật vã làm cả nhà náo loạn, chúng em còn quá nhỏ cũng chỉ biết ngồi bên cạnh ôm Má khóc theo, không giúp được gì. Cả nhà chìm trong đau thương, dù Ba Má em trong thâm tâm vẫn tin (hay vẫn ước mong?) rằng anh Linh còn sống và thế nào rồi cũng sẽ về với gia đình.

Qua tháng Tư 1975 khi làm sóng di tản ở Sài Gòn bắt đầu ồ ạt, gia đình em cũng có tên trong danh sách đi Mỹ bằng phi cơ qua phi trường Tân Sơn Nhất nhưng Ba em quyết định chờ xem anh Linh có về không. Và ngày 30/4 đến. Thế là xong.

Sau ngày 30/4/1975 Ba Má và chúng em vẫn tiếp tục chờ, nhưng ngày này sang tháng nọ anh vẫn biệt tăm. Đến năm 1976 thì Má em có lẽ đã tuyệt vọng nên cuối tháng Ba 1976 bà làm mâm cơm cúng rồi bảo tụi em “tụi bay cúng anh Linh bay đi”. Thế nhưng chúng em không cúng và cãi lại “anh Linh chết hồi nào mà Má kêu tụi con quỳ cúng”. Mặc cho Má khóc tụi em nhất định không cúng!

(Cũng trong năm 1976, một hôm có một anh tới nhà nói với Má em rằng “con là bạn của Linh, cùng bị bắt chung. Chúng con có giao với nhau ai trốn thoát về được thì ghé nhà người kia báo tin. Con vừa trốn về được nên ghé đây báo ngay”. Khi tụi em đưa 2 tấm hình, 1 của anh Linh, 1 của anh Tư em ra, anh đó chỉ đúng hình anh Linh. Má em mừng lắm, hỏi “ con có thể chỉ giùm bác chỗ giam để bác đi thăm Linh không?” . Anh ấy nói để ghé về Đà Lạt thăm gia đình rồi sẽ quay trở lại cho biết tin chi tiết nhưng rồi từ đó hoàn toàn bặt tin, gia đình em không hề gặp lại. Em không biết tên anh đó là gì.

Có người nữa thì nói với chúng em là trước đó có biết anh Linh (từng cùng nhau đi nhậu ở Huế), khi mất Đà Nẵng thì gặp anh Linh cũng bị bắt tập trung tại 1 trường học, sau đó phân tán mất tin.

Tháng Tám 1978 chị Ba em sinh bé trai đầu lòng. Được vài tuần, một tối chị nằm mơ thấy anh Linh về. Chị hỏi “ anh đi đây đây?” thì anh trả lời “ Tao nghe mày sanh nên về thăm, nhưng thôi để tao lên lầu thăm Ba Má đã”. Sau đó anh trở xuống nắm tay chị Ba em kéo đi. Chị Ba em không biết gì cứ theo anh Linh, đi, đi mãi. Một lúc sau anh Linh dắt chị Ba em rẽ vào một lùm cỏ tranh, anh đi trước hai tay vẹt cỏ tranh, chị Ba em theo sau. Đi một đoạn thì thấy ngôi mộ có bia đề tên “Lưu Đức Linh”, ngay trước mặt có con suối nhỏ. Rồi chị Ba em tỉnh giấc, kêu cả nhà dậy và kể lại đầu đuôi câu chuyện. Ai cũng nghĩ “nếu đúng vậy thì anh Hai em đã chết trong rừng nhưng biết anh chết ở tỉnh nào, nơi nào mà đi tìm?” Chúng em rất phân vân vì nhớ đến trước đó có nhiều người nói anh Linh em đã chết ngoài biển, mà nay linh hồn anh lại về báo mộng là chết ở đất liền? Sau đó chị Ba em đi coi bói, đưa tấm hình của anh Linh thì người coi nói liền “anh này chết rồi, chết trên đồi núi cao, không chết sông chết biển …”

Thế rồi sau đó trong năm 1978, Má em cố gắng xoay sở cho chúng em lần lượt từng đứa vượt biển. Chuyện này dài giòng, em xin bỏ qua, vì nghĩ chắc mấy anh cũng hiểu, sau khi đến được bến bờ tự do, chúng em, như mọi người, cũng lo bương chải, vật lộn với cuộc sống nên quên mất việc tìm kiếm tin tức người anh xấu số của mình. (Viết tới đây mà em không cầm được nước mắt vì thấy ân hận đã quá có lỗi với linh hồn anh Linh em!)

*

Bẵng đi một thời gian, đến năm 2006, em Việt gửi thư cho trang web Tổng Hội TQLC nhắn tin nhờ tất cả các bạn của anh Linh hay các anh trong TQLC tìm giúp tin tức về anh. Có một vài anh cùng khóa liên lạc lại và nói để hỏi thăm tìm kiếm, nhưng rồi … cũng chẳng có tin gì. Chúng em buồn vô cùng, vì như vậy, chính các anh cũng không biết tin gì về anh Linh hết.

Đầu năm 2007 chúng em họp lại, bàn bạc và thưa với Ba em xin phép về Việt Nam đi tìm tung tích anh Linh. Ba em gạt đi bảo rằng cát bụi trở về cát bụi, đi tìm làm gì nữa. Chúng em đồng phản đối, thưa với Ba rằng Ba Má cho tụi con qua đây, nay tụi con được sống sung sướng tại sao không quay về tìm cho được xem anh nằm ở đâu để đưa xương cốt anh về chứ tội nghiệp anh nằm bơ vơ xa gia đình đã 32 năm rồi; và mặc cho Ba nói gì thì nói, tụi em quyết định với nhau là phải làm cho được chuyện này.

(Trước đó năm 2006 có người cùng quê với Ba em là chú Lan từng về Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình nhờ được 1 ông thầy tâm linh tên là thầy Quýt giúp đã tìm được cốt người mẹ vợ của ông trước kia chết vì bị Pháp bắn và chôn sống. Chú Lan liên lạc hứa sẽ giúp đưa chúng em đến tìm ông thầy Quýt để nhờ tìm anh). Chúng em nhờ người bà con ở Huế ra Đồng Hới trước, tìm gặp ông thầy Quýt, đưa ngày tháng năm sanh của anh Linh cho ông ấy xem. Vừa xem xong ông ấy nói ngay “anh này chết rồi”. Hỏi làm sao chết thì ông ấy nói “anh ấy là lính bên kia, đang lao động làm cỏ thì có người rủ đi trốn nhưng 5 người trốn thì bị bắt lại 3…” Nghe vậy chúng em háo hức vô cùng mong từng ngày cho đến lúc về đi tìm anh Linh. Khi chúng em lên đường, lúc đó Ba mới nói các con đi kiếm được anh Linh rồi thì thiêu đem về đây cho Ba ôm nó một chút, Ba nhớ nó lắm.

*

Lần đầu về Việt Nam

Tháng Hai năm 2007, 3 chị em gái tụi em cùng về Việt Nam. Nghỉ 1 đêm ở nhà trọ, hôm sau chúng em lên thăm mộ bà nội và má rồi bay ra Huế. Phi cơ đáp xuống Phú Bài lúc gần 5 giờ chiều, chúng em lên taxi đi ngay ra Đồng Hới.

Tới Đồng Hới thì trời đã tối khuya nên chúng em thuê phòng khách sạn ngủ qua đêm để sáng hôm sau sẽ đến nhà thầy Quýt. (Đêm đó cả 3 đứa chập chờn, trằn trọc không ngủ được, mới 2 giờ sáng đã lồm cồm dậy hết ngồi bó gối mong cho trời mau sáng!) 9 giờ sáng chúng em tìm đến nhà thầy Quýt, đến nơi ông đang xem cho 2 gia đình khác nên chúng em phải ngồi chờ. Đến lượt chúng em, đợi chị Ba em thắp nhang trước bàn thờ Phật bà Quan Âm xong thầy Quýt nói “tìm gì nữa đây? Bữa trước tôi có mách cho người tới đây tìm anh ấy rồi mà”. Tụi em thưa “ Dạ đúng, tụi con có nhờ người bà con tới hỏi nhưng nghĩ lại nếu đích thân tới hỏi Thầy thì chính xác hơn”. Rồi tụi em đưa hình anh Linh cùng ngày tháng năm sinh của anh và xin thầy “chỉ vẽ giúp anh con còn sống hay chết và chết thì chết ở đâu”.

Bàn tay của thầy bỗng run lên , thầy lấy tấm giấy vẽ bản đồ và nói “anh ấy chết rồi, chết trong trại học tập”.

Thầy vẽ hình “con đường đi lên núi, chú thích con đường rất hẹp, tới đó có 1 miếng đất hình vuông, đi vào trong thì có nhiều nấm mộ mới của những người mới chết, có bia xong mới tới mộ của anh Linh, kế bên có 1 cái mộ đã bốc đi rồi , còn lại mộ anh và mộ 1 người khác nằm gần ngay đó”. (Anh có biết ngôi mộ đã bốc đi là mộ của anh Lê Đình Lời, TQLC không? Người bạn tù chôn anh Lời khi được về đã chỉ cho gia đình anh biết để ra bốc mộ anh).

Thầy nói với tụi em “ anh muốn về nhà lắm rồi 32 năm rồi linh hồn của anh vẫn ở giữ cái mộ đó không đi đâu hết, tội nghiệp anh lắm, đưa anh về đi” Thầy cũng nói rõ là “ mộ trên trại Bình Điền, chung quanh có lính gác” và nói thêm “ sẽ có 2 người giúp đỡ, 1 người khoảng 70 tuổi và 1 người cụt tay”…

Quay về Huế , sáng hôm sau chúng em nhờ 1 người quen ở Huế cùng đi dẫn lên trại Bình Điền, cô L. này có 1 người bạn học cũ thời Trung học, bây giờ làm Trại phó trại Bình Điền. Cô L. gọi điện thoại cho hắn thì hắn bảo tới chợ Bình Điền thì ngồi chờ gọi hắn sẽ xuống. Tuy nhiên tới chợ Bình Điền ngồi chờ 1 lúc lâu hắn lại kêu chúng em lên thẳng Trại. Chúng em thuê honda ôm , 2 người 1 xe, đến cổng đi bộ vào văn phòng gặp hắn. Bấy giờ hắn bảo sẽ còn phải lục tìm hồ sơ xem có tên Lưu Đức Linh không đã, rồi lấy xe chở đưa chúng em lên núi đến khu nghĩa trang chỉ cho xem nhưng thấy trong đó toàn là mộ có bia của những người mới chết. (Trong thâm tâm em nghĩ nhờ anh Linh phù hộ nên hắn có vẻ dễ chịu với chúng em). Hắn cho xe đưa chúng em xuống núi, bằng con đường khác để tìm hỏi một số người dân lúc trước 1975 sống tại khu vực trại Bình Điền này. Em gặp 1 gia đình sống ở đó đã rất lâu. Chị chủ nhà nói “hồi các anh lính Cộng Hòa bị bắt học tập, mỗi lần các anh bị đi lao động ngang nhà, tui thường luộc sắn và khoai lang để sẵn ở 1 góc nào đó cho các anh”. Em gởi chị này ít tiền, nhờ chị hôm sau lên khu nghĩa trang phát cỏ tranh vì thấy cỏ quá cao. Người CA quen với cô L. chở tiếp chúng em tới 1 khu trại nữa cùng khu vực này nhưng lúc đó đang giải tỏa làm đường, hắn nói là sẽ mang tất cả hài cốt của lính Cộng Hòa và cả bộ đội VC chôn ở đó sang nơi khác, bởi thế không vào được. Trên đường ra hắn đưa chúng em ghé nhà 1 người cai tù cũ ở trại 4 Bình Điền tên là Bình, hỏi có biết ai ở đó từng là cai tù ở trại 1 hay không. Người tên Bình nói “ tất cả đều đã về hưu, đa số là về Quảng Trị, chỉ có mỗi mình tôi (Bình) sau khi về hưu xin ở lại Bình Điền” rồi chỉ cho chúng em cách đi tìm mấy người cai tù (của trại 1) nay sống ở Quảng Trị.

Về lại Huế nghỉ một đêm, sáng hôm sau chúng em chia làm 2 toán, 1 đi ra Quảng Trị tìm nhà mấy người cai tù cũ như được chỉ, 1 toán thì trở lại Bình Điền. Khi tới chợ Bình Điền cô L. lại gọi điện thoại cho viên CA trại phó nhờ giúp thì hắn bảo “ cứ ghé nhà chú Bình chú ấy sẽ đưa đi”. Ông ta dẫn chúng em đi theo 1 con đường hẹp và dốc khá đứng (y như lời thầy Quýt chỉ!). Từ chân núi đi lên chúng em vừa đi vừa thở, vừa than thầm Trời ơi! Từ nhỏ tới lớn có bao giờ đi thế này, bây giờ nghĩ mới thấy thương các anh ngày xưa leo đèo, leo núi hành quân cực khổ ra sao …Thật là mệt gần chết! Lên tới nơi, ngay chỗ nghĩa trang mà chúng em đã tới hôm trước, mấy đứa chúng em đốt bó nhang lớn chia nhau thắp khắp nơi, vừa cắm vừa van vái thầm anh Linh khôn thiêng chỉ cho chúng em tìm ra mộ phần của anh… Bỗng dưng có tiếng chim rất lạ kêu lên, không hiểu sao em nghe thấy tiếng kêu thật thảm thiết và sợ run người . Chúng em lần mò đạp lên đám cỏ tranh (đã nhờ người cắt) len lỏi đi qua khu mộ mới có bia, tới khu trong đường đi khúc khuỷu, khó khăn, lên dốc, xuống đồi , có chỗ phải len lỏi như đang đi xuống vực. Chị Ba của em trượt chân té , cả người chị tuột xuống dốc, chị hoảng hốt đưa tay chụp đám dây leo chằng chịt, nhằm bụi gai bị đâm chảy máu tay ròng ròng … Chúng em tự nhủ “không lẽ đây là máu mủ tình thâm, anh Linh chỉ cho chúng em thấy chỗ chôn rồi hay sao?” Thế nhưng nơi chị Ba em té xuống là đất bằng phẳng , không có dấu vết của ngôi mộ nào hết, đi xuống phía dưới một chút thấy có dòng suối nhỏ . Quanh quẩn mãi đến chiều mà không tìm thấy gì cả, chúng em phần thất vọng, phần mỏi mệt quá nên đành quay về Huế.

Người em họ của em ra Quảng Trị quay về cho hay không tìm được tung tích của những người cai tù trại 1 cũ như được chỉ vì kẻ thì đã chết, người thì đi vào vùng kinh tế mới làm nương rẫy cả rồi … Đêm hôm đó mấy đứa em không ngủ được ngồi bàn với nhau lấy tấm họa đồ thầy Quýt đã vẽ ra xem thì thấy“con đường đi lên núi nhỏ hẹp thì đúng rồi, đi vào đám cỏ tranh, ngang qua khu các mộ mới có bia cũng đúng mà đi xuống nữa thì có thấy ngôi mộ nào đã được bốc đi như ông thầy vẽ đâu?” Loay hoay tụi em cứ nghĩ hoài mà không ra và lại thêm một đêm mất ngủ ( hầu như mấy đêm liền tụi em chẳng đêm nào ngủ được, cứ chừng 2, 3 giờ sáng là mấy chị em lại thức dậy cùng nhau bàn, nghĩ ngợi rồi thở dài!)

Sáng dậy em quyết định trở ra Đồng Hới tìm thầy Quýt. Mấy đứa em quỳ hết xuống năn nỉ thầy cùng đi để tìm giúp mộ anh Linh. Thầy Quýt nói “nếu như anh chết nằm ngoài CôngAn quản lý thì tôi đi với các anh chị”. Chúng em nghe vậy thì thở dài (chứ biết nói gì) Thầy lại nói “ Lúc trước tôi đã đi tìm mộ cho cả 2 bên, tìm được cả ngàn ngôi mộ rồi, tôi là đảng viên, cấp trên thấy vậy tước quyền Đảng viên của tôi, sau này tôi tìm được mộ cán bộ cao cấp hắn đến nói trả lại Đảng viên cho tôi. Nhưng tôi trả lời, tôi không cần nữa, tôi làm việc tìm mộ này là vì lương tâm đạo đức thôi chứ tôi không cằn Đảng nữa đâu, mấy ông lấy đem về đi”. Rồi một lần nữa thầy lấy giấy ra vẽ lại sơ đồ giống y lần trước, thầy còn nằm dài xuống nền gạch, nói “anh nằm đây nè, ở ngay phía dưới là con suối chảy”. Đứng dậy, thầy vỗ 2 tay lên đầu , nói “ anh muốn về với gia đình lắm rồi”. Chúng em chẳng biết nói gì hơn đành đứng lên cám ơn để về Huế. Trước khi đi chúng em nhờ thầy coi giùm Ba em ra sao, thầy nói “Ba đang đau đầu đó, đưa anh về đi. Đưa anh về là Ba hết đau đầu liền”. Chúng em nhìn nhau, không biết nói gì mà lòng thì khâm phục thầy (bởi vì trước khi tụi em về Việt Nam 2 tuần Ba bị bệnh đau đầu, mà đau ghê lắm, phải đưa đi Bác sĩ, tới ngày tụi em đi Ba mới đỡ đau đôi chút!)

Trở lại Huế, bữa sau tụi em quyết định trở ra Quảng Trị lần nữa để tìm người cai tù (trại 1) hôm trước người em họ chưa tới được, không ngờ lần này tụi em lại gặp và thấy ông này … bị cụt tay (!). Tụi em nói rõ là đi tìm mộ anh Hai và nhờ giúp. Ông ta kể là về làm ở trại Bình Điền năm 1977 và nói muốn dẫn tụi em tới 1 ông thầy ở Quảng Trị cũng “hay lắm” để nhờ gọi hồn xem. Tụi em bàn nhau nên đi để xem ông này nói có ăn khớp với thầy Quýt ở Đồng Hới không. Bữa đó ông thầy này không tiếp, hẹn sáng sớm ngày mai quay lại. Tụi em về Huế , sáng hôm sau ra Quảng Trị sớm.

*

Sáng hôm sau đến nhà ông thầy Quảng Trị sớm lắm, chúng em vào cúng, đưa tên tuổi anh Hai cho thầy. Chờ một lúc thầy thắp nhang, khấn vái rồi nói “ anh đây bị đưa đi tất cả 3 trại tù, trại thứ nhất là Phong Điền, (trại thứ hai tên gì bây giờ em không nhớ), rồi trại thứ ba là Bình Điền, anh tù , đói và bệnh nên chết”. Rồi ông chỉ cô em thứ chín của em nói “anh về sẽ vào người cô này nè”. Em Chín của em ngồi im không nhúc nhích hồi lâu rồi cứ lạy bàn thờ và lạy thầy. Thầy nói “ bây giờ anh mở miệng nói đi, người nhà đi tìm anh về đó” . Chúng em ngồi chung quanh mới hỏi “ Anh chết ở đâu, nói cho chúng em biết để tụi em đưa anh về nằm gần Má. Má thương nhớ anh lắm nên Má mới chết, còn Ba nữa, Ba cũng nhớ anh lắm và đang đau đầu nặng lắm.. anh nói đi, nếu anh không nói được thì anh viết ra cho tụi em biết …”. Em lấy cây viết và tờ giấy đưa cho “anh”. “Anh” viết từng nét một, có nét dài, nét ngắn, rốt cuộc đọc ra chữ Điền, xong buông viết xuống khóc một cách tức tối … Thầy nói “có chuyện gì uất ức thì nói ra đi, mở miệng ra nói đi ..” nhưng “anh” không nói mà chỉ khóc và khóc hoài thôi . Em mới hỏi “anh có biết em là ai không” thì không trả lời mà gật đầu, rồi ngả đầu trên vai em và lại khóc nữa. Chúng em cũng khóc và nói “tụi em xin lỗi anh, xin anh đừng giận nữa, 32 năm chúng em muốn nhưng không biết anh ở đâu mà tìm, hơn nữa thời điểm đó chúng em đều còn nhỏ quá, mà Ba có đi Vũng Tàu rồi lại ra Đà Nẵng tìm anh mà tìm không ra …”. Chúng em đứa nào cũng xin lỗi, xin “anh” tha thứ mà “anh” không mở miệng được. Thầy mới nói với anh “ thôi chuyện đã lỡ rồi, đừng buồn nữa, thôi mời các anh chị đây uống bia đi”. “Anh” bèn nín khóc và đưa tay ra mời “uống bia”. Trước khi tụi em rời nhà thầy, “anh” có quỳ lạy bàn thờ.

Tới Bình Điền, tụi em cùng ông Bình đi lên núi theo con đường xe hơi chạy được. Tới ngay nơi bữa trước đã ghé, em gái em nhảy liền xuống xe, đi tới sát bờ vực, tụi em phải giữ chặt sợ em té. Em đứng ngó một hồi rồi qauy lại đi vòng vòng … tụi em đi theo mà chẳng thấy có dấu hiệu gì của một ngôi mộ nào hết . Em Chín ngồi xuống bưng mặt khóc rưng rức một hồi, rồi nói ngộp thở quá, ngộp thở quá và xỉu. Tụi em phải đổ nước cho em tỉnh dậy rồi rủ nhau về Huế. Lúc đó tụi em thất vọng vô cùng, đứa nào cũng rầu rĩ vì nghĩ chẳng lẽ mình đành bó tay? Đêm đó tụi em lại ngồi suốt đêm bàn tính và quyết định sáng bữa sau lên Bình Điền lần nữa.

*

Lần này tụi em cũng mang theo họa đồ , nhang đèn, trái cây và bông hoa. Nhưng trên mặt đất (chắc vì bao năm mưa đổ kéo theo đất đá trên cao xuống lấp hết dấu ) nên không biết đâu là mộ anh hết. Tụi em đi xuống phía dưới chút nữa thì có con suối nhỏ (vậy là đúng như thẩy Quýt diễn tả). Quay trở lại thì quả thiệt, tụi em tìm được dấu của ngôi mộ đã bốc đi và cục đá mà thầy Quýt nói giống cái nấm rơm và nhìn thật kỹ thì đúng là như có ai chặt chém gì trên cục đá đó. Tụi em bày hoa quả nhang đèn ra cúng (oái oăm là tụi em ngồi cúng ngay trên đầu mộ anh mà không biết !) rồi về lại Huế.

Đêm đó cậu em họ của em bày hôm sau tới nhà 1 ông thầy tên Sinh ở Vỹ Dạ thỉnh ông đi theo cúng thì mới mong tìm ra mộ. Lúc đó tụi em nghe ai có ý kiến gì cũng đồng ý vì có lẽ bối rối quá không biết níu vô đâu. 3 giờ sáng tụi em mới đi nằm, mà cứ trằn trọc hoài. 6 giờ sáng cậu em họ chạy qua đập cửa, miệng ú ớ kêu tụi em qua phòng nó . Tới cửa phòng hắn chỉ tay lên cánh cửa thì thấy 1 con bướm màu nâu đen lớn lắm, bằng nguyên bàn tay mình xòe ra, em chưa thấy con bướm lớn như vậy bao giờ. Cậu em nói hay là anh Linh về?

Tụi em ghé mời thầy Sinh cùng đi lên núi và thầy đồng ý. Khi ra xe, anh biết em thấy gì không? Một con bướm đen cũng lớn bằng con bướm đã thấy hồi nãy bay theo vào trong xe. Và đi cùng chúng em lên núi. (lúc này thì đứa nào cũng tin là vong linh của anh Hai đã về cùng đi theo tụi em).

Tới nơi thầy Sinh cúng, khấn vái Sơn thần, Thổ địa xin cho phép gặp thân nhân (ông đọc tên tuổi của anh Linh em). Thầy nói thứ tiếng gì tụi em nghe chẳng hiểu gì hết (nghe như tiếng Tàu mà không phải tiếng Tàu). Thầy cầm cây nhang đi vòng quanh, tới 1 gốc cây quơ tay như tóm lấy một vật gì trong không khí và lấy tờ giấy đỏ gói lại. Thầy chỉ một chỗ dưới đất nói đó là nơi mộ của anh và dặn đi đâu cũng phải mang anh theo (tức gói giấy đỏ này). Chúng em đưa thầy về Vỹ Dạ, tạ ơn rồi quay về khách sạn. Lần này thì tụi em quyết định bữa sau nhờ cô L. gặp tên CA Trại phó xin hắn cho đào ngay chứ trễ quá rồi (tụi em xin nghỉ phép về VN được có 2 tuần, mà bữa đó đã là ngày thứ 10).

Gặp viên CA tụi em trình bày là có coi thầy Sinh và được chỉ cho chỗ để đào. Hắn nói, theo họa đồ như thầy Quýt vẽ thì có tới 2 mộ gần nhau, nên bắt tụi em phải sắm 2 cái quách, và nếu đào lên có 2 cốt thì phải chôn lại 1 chỗ, chờ khi nào họ tìm và liên lạc được với thân nhân người kia mới cho đem về! (Em rủa thầm trong bụng trời ơi, chết mà vẫn không yên, vẫn còn bị nó quản lý!) Nhưng làm sao được? Hắn cũng buộc điều kiện phải để cho tù nhân trong trại ra đào, tụi em đồng ý liền, nên hắn cho đưa 5 người tù ra đào.

Em nhờ chia làm 2 toán, 1 đào ở trên, phía bên trái –nơi viên cai tù cụt tay ở Quảng Trị nói năm 1977 ông ta về đó đã thấy có 2 ngôi mộ) , còn toán kia đào ở dưới, phía bên phải. Đất đai gồ ghề , khó đào lắm, họ đào mỗi bên sâu xuống 1 thước mà chẳng thấy gì. Loay hoay mãi cũng không thấy gì, hết giờ CA đòi đưa mấy người tù về trại.

Đêm đó tụi em nhờ cậu em họ và người cháu ở Huế bữa sau tiếp tục lên coi sóc việc tìm kiếm, còn tụi em phải về Sài gòn để thu xếp ngày mốt về lại Mỹ .

Rời Huế mà đứa nào cũng lòng thì tan nát, còn người thì mệt nhoài vì suốt 10 ngày hết đi ra đi vào, cứ lên núi xuống núi mà không thấy được dấu tích gì hứa hẹn cả.

*

Về tới Sài Gòn tụi em rã rời, tuyệt vọng như người khHCMn, nghĩ tới lúc về Mỹ mà ngao ngán. Không ngờ sáng bữa sau người cháu họ điện thoại vào báo mừng rỡ “Dì ơi tụi con tìm thấy Cậu rồi.” (Em không biết tâm trạng của người trúng số độc đắc ra sao, chứ em lúc đó thì rõ ràng là mừng hết lớn!). Người cháu kể, trước khi đào có gọi điện thoại hỏi lại thầy Sinh, thầy bảo cứ từ phía dưới chân dốc núi bên phải nơi có con suối đào ngược lên, tới gần gốc cây, dưới gốc cây thấy có tảng đá thì đúng chỗ. Đào theo lời thầy chỉ, sâu gần 1 thước, ba con nhảy xuống rờ thấy đất ươn ướt. Đào sâu hơn nữa, ba con rờ và gõ trên mặt đất thấy hơi gồ lên thì nghĩ đó là cái sọ… nên lấy tay cào cào đất ra thì thấy là tấm poncho …kéo hết tấm poncho ra thì tất cả mọi người đều thấy rõ 1 người nằm nghiêng, co rúm như người bệnh, nhưng chỉ trong tích tắc, bóng người tan đi, xương rã thành bột trắng hết …Công An kêu hốt bỏ hết vô quách, đem lên phía trên núi chôn lại làm dấu chờ quyết định … Con thấy mây đen kéo tới như sắp mưa nên nhảy cuống theo hốt bỏ vô quách, vừa hốt vừa thừa lúc CA ngó lơ bốc một nắm bột bỏ vô túi để đem về cho Dì …” (vì em đã dặn cháu nhớ hốt dùm em một nhúm bột xương để đem về Mỹ thử DNA ). Nghe xong em mừng tới run hết chân tay, nhưng vẫn thấy buồn quá, vì qua bữa sau nữa là em quay về Mỹ lại rồi mà di cốt của anh thì vẫn còn bỏ lại ngoài đó!

Rồi tụi em đi lên Chùa cầu siêu cho anh (tụi em đã có đặt sẵn bài vị cho anh Linh). Hôm sau khi người em họ bay từ Huế vô đưa cho gói bột, chúng em chia hai, một nhúm để lại chùa, một nhúm mang về Mỹ.

*

Một tháng sau khi về Mỹ, chúng em liên lạc được 1 phòng Lab ở Arizona, họ nhận phân tích và thử DNA. Gủi đi xong, hơn 3 tuần sau liên lạc lại, họ cho biết trong phần bột xương gửi tới, chỉ có 0,5% là tro xương, còn lại 99,5% là đất! Và cho hay chỉ có thể xác nhận kết quả là 10%. (Thì ra người cháu của em, khi hốt vội nắm tro đã bốc lộn nhiều phần đất cát trong đó). Thế nhưng chúng em vẫn tin tưởng rằng đó chính là tro cốt của anh mình vì nhiều lý do, em sẽ kể sau.

Mấy chị em tụi em ngày nào cũng bàn bạc băn khoăn, không biết là tháng 10/2007 sẽ về bốc cốt cải táng hay để sang năm 2008 . Chưa kịp quyết định thì một bữa, người cháu em ở Huế gọi sang báo “nói chuyện với thầy Sinh ở Vỹ Dạ thì thầy mới cho biết anh Linh về báo mộng cho thầy, nói rằng nhờ thầy giữa giùm ngôi mộ vì các em sắp về cải táng! Vậy là tụi em quyết định tháng 10/2007 về bốc mộ anh cho xong. Chúng em nhờ người em họ ở Saigon ra Huế tìm gặp tên CA giữ danh sách những người tù trại Bình Điền nộp đơn xin bốc mộ. Hắn xem đơn xong nói rằng “không có tên Lưu Đức Linh trong danh sách học tập, và lần trước khi đào lên thì chỉ có nắm bột, muốn bốc phải viết đơn rằng xin bốc chiếc quách trong có nắm đất và áo quần rách mới được” (Anh nghĩ xem nghe vậy có đau lòng không?)

Tháng Tám 2007 ba em trở bịnh nặng phải nằm nhà thương. Chúng em quyết định xin phép Ba để 1 cô em gái ở lại chăm sóc, còn chúng em tháng 10/2007 về cải táng cho anh.

Về VN lần thứ nhì

Tuần lễ thứ nhì tháng 10/2007 chúng em về đến Saigon. Sau khi thăm mộ Nội Ngoại và má em chúng em đi Huế. Lúc ấy đang mùa mưa, trời Huế mưa dầm u ám vô cùng não nuột.

Tới Huế, chúng em về tận quê Ba cầu xin ông bà tổ tiên phù hộ, sau đó quyết định ra Đồng Hới gặp thầy Quýt, xin ông cùng đi bốc mộ để phối kiểm cho chắc chắn (vì lúc bốc lên không có mặt chúng em, và kết quả thử DNA chỉ có 10% nên nói thiệt tụi em cũng có chỗ bán tín bán nghi!). Lần đầu ông từ chối. Sáng hôm sau đến sớm, định năn nỉ lần nữa thì bất ngờ ông nói liền “ ra xe, tui đi với các anh chị. Đêm qua en về kêu tui đi tìm mộ en. Tui thấy en ở trần, mặc mỗi quần đùi kể với tui là chết vì bị bệnh và đói. Vậy nên tui phải đi với các anh chị!” Em nghe xong vừa mừng, vừa thương anh phải quay đi chùi nước mắt!

Thầy Quýt nói thêm phải ghé nhà một ông già cùng quê nhờ đi cùng để phòng khi anh Linh không nhập vào chúng em được thì sẽ nhập vào ông đó. Gặp ông ta chúng em nhờ đi tìm người thân, ông lặng lẽ lên xe cùng đi. (Nhắc lại cho anh nhớ rằng, lần đầu tiên gặp thầy Quýt ông có nói là có 2 người sẽ giúp chúng em tìm được mộ anh Linh, 1 là viên Công An già về hưu tên Nguyễn Thanh Bình ở Bình Điền đó- và 1 người cụt tay)

Xe tới Bình Điền, chúng em lại nhờ người tên Bình giúp đưa lên núi. Lúc đó trời đã bớt mưa, chỉ còn lác đác. Bước vào lùm cỏ tranh, bàn tay và đầu thầy Quýt cứ lắc lư không ngừng, tới ngôi mộ thầy ngừng lại nói “đây rồi, mộ en đây rồi”. Ông Bình nói không phải, cái này là mộ mới chôn, phải đi xuống phía dưới vực kia mới có”. Thầy Quýt lắc đầu , dậm chân và nói không đi đâu nữa. Lúc đó trờ tạnh hẳn, thầy kêu bày đồ ra cúng và phải thật nhanh vì nếu trời đổ mưa là không tốt cho anh.

Chúng em bày nhang đèn hoa quả ra, thầy thắp nhang, ngồi xổm khấn vái một hồi và kêu chị Ba em ngồi xuống bên cạnh để xem anh Linh có nhập vào không. Một lúc lâu, không thấy gì, thầy Quýt lại kêu đứa em trai ngồi xuống, cầm một cây nhang vái theo thầy. Cũng chẳng xong, thầy bèn nói ông già đi theo cùng ngồi xuống. Ông này mới ngồi chỉ 2, 3 giây thì cây tre treo tấm phướn trắng thầy Quýt đã viết tên họ anh Linh trên đó bỗng dưng bật lên và mảnh vải bay phần phật như là cờ gặp gió mạnh! Bất ngờ ông già đứng bật dậy, mắt nhắm nghiền khiến phản ứng của tụi em là lùi hết về phái sau. Thầy Quýt nói với ông già đi mà nhận người thân đi! Ông đi vòng vòng, tới vỗ vai chị Ba, rồi đến cậu em trai cũng vỗ lên vai nó. Em đang đứng gần cậu em họ, bèn hơi lùi về phái sau thì ông ta đi qua người em họ đến vỗ vai em mấy cái!

Vỗ xong, ông quay lại đi tới chỗ tên Bình (từng là cai tù trưởng trại 4 Bình Điền) và đập túi bụi lên người hắn ta. Tên Bình lùi lại và nói thôi thôi, được rồi. (Lúc đó em bỗng có linh tính , hay là ngày xưa tên này hành hạ tù nhân và cả anh Linh nữa nên hồn anh về mới đập hắn ta thay vì vỗ về như đã làm với chúng em?) .

Sau khi đập thằng cha này xong, ông già đi về phía chị Ba, nắm tay chị, dắt tới đầu ngôi mộ (mới) đưa tay chỉ và nói “tụi bay chôn tao xéo rồi thấy không?”

Thầy Quýt nói với ông già rằng Thôi nhận vậy đủ rồi, ra đi, không thì mệt người ta”. Nghe vậy, ông già lắc lắc mấy cái rồi mở mắt ra, một lúc sau thì trở lại bình thường.

Thầy Quýt lại khấn vái lầm thầm nữa, bỗng dưng thầy kêu lên như đang nói chuyện với ai đó. “Cái gì, đi theo làm gì, ở lại đây đi, cho en đi về với gia đình en, khó khăn lắm mới đưa được en về , đừng theo níu kéo nữa. Sao, tên gì? Họ Phan hả? Nhà ở đâu, cũng ở Sài gòn à?” Và thầy giải thích cho chúng em hiểu rằng có 1 cái vong chết cạnh anh Linh, quyến luyến nên cứ muốn giữ anh ở lại!

Thầy Quýt khấn vái thêm một chút rồi gieo quẻ và nói “vậy thì xin anh ở lại chơi 1 đêm rồi sáng mai anh về nghe?” Quẻ ra là được, thầy kêu chị Ba em gieo thêm một quẻ nữa, khấn y như vậy và cũng được, tức anh Linh chịu ở lại 1 đêm. Thầy Quýt cầm chai rượu rót xuống đất nói Rượu đây, en đi mời bạn bè uống đi để mai về. Xong, thầy kêu thu xếp xuống núi, và ngay lúc đó trời lại tối sầm, xuống khỏi núi thì trờ đổ mưa trở lại (anh thấy có lạ không?) Thầy Quýt dặn sáng hôm sau khi đào mộ đem quách đi phải tránh không để trúng một giọt nước mưa nào hết.

Trên đường về ông già đi theo lúc đó mới quay lại hỏi tụi em là gì của người chết. Như thế khi bắt đầu đi, ông ta chẳng biết gì về tụi em hết, vậy mà đến vỗ chính xác từng người, trừ cậu em họ ra. Anh thấy có linh thiêng không?

Về tới Huế, chúng em tạ ơn thầy Quýt và ông già, rồi về khách sạn gọi điện thoại cho tên CA trại phó, xin hắn ngày hôm sau lên bốc mộ. Hắn đồng ý nhưng dặn phải lên sớm nếu không hắn đi họp thì không được đào.

Đêm ấy trời mưa lớn, em mệt quá nên lên giường ngay, trùm mền đi ngủ lấy sức để sáng hôm sau dậy sớm. Đang nằm lơ mơ chưa ngủ thì nghe tiếng gõ cửa. Em nghĩ bụng chắc 2 đứa em trai và em họ ra ngoài chơi quên không đem chìa khóa nên dậy mở cửa. Ai dè mở ra không thấy ai. Em rủa thầm 2 thằng quỷ phá đám, đi ra tìm. Đi hết cầu thang xuống dưới nhà cũng chẳng thấy ai, không khí vắng vẻ làm em rùng mình chạy về phòng đóng cửa. 15 phút sau lại có tiếng gõ cửa, chị Ba em dậy mở cửa thì 2 thằng em kéo vào. Em la chúng nó tại sao chơi trò gõ cửa rồi đi trốn thì 2 đứa trợn mắt ngạc nhiên nói rằng tụi nó mới vừa ở ngoài phố về! Nghe mà lạnh người. Trong khi đó trời đổ mưa tầm tã như trút làm tụi em đâm lo, mưa như vậy sáng hôm sau làm sao bốc anh được? Cả bọn ngao ngán nằm xuống mà không tài nào ngủ được, trằn trọc suốt đêm!

5 giờ sáng chúng em đã dậy chuẩn bị đi. Trời vẫn còn mưa nên xe không dám chạy nhanh . Sau khi mua trái cây hoa quả, tụi em ghé thầy Sinh ở Vỹ Dạ nhờ thầy đi theo để cúng.

Lên tới Bình Điền, nhờ tên Bình đi theo lên gặp tên Trại phó. Hắn mắng tụi em như tát nước vì phải chờ lâu, sau đó hăn cho 1 tên CA dặt lên núi. Tới nơi tên này nói “các anh chị bốc gì thì bốc cho nhanh rồi đi xống, ông Trại trưởng đi họp nên mới cho các anh chị bốc, chứ có ông ấy ở nhà là không được đâu”. Rồi hắn bỏ đi, để mặc tụi em lại.

Lúc này thì trời bắt đầu tạnh mưa hẳn nhưng chúng em cũng lấy tấm bạt nylon mang theo căng ra đề phòng mưa bất tử. Chúng em đào rất nhanh, bốc chiếc quách lên, làm dấu đầu đuôi xong bọc vào tấm nylon và vội vã xuống núi. Lúc đó thầy Sinh đang chờ ở dưới chân núi vì ông tưởng tụi em vào gặp CA sẽ quay xuống đón ông.

Người tái xế của xe hơi tụi em thuê nhất định không chịu chở chiếc quách nên chúng em phải nhờ xe ôm chở 1 người đưa xuống, còn tất cả lội bộ. Xuống gặp thầy Sinh ông kêu đem tới chỗ ngã ba đường để ông cúng

Và làm phép để đưa về Saigon. Tới ngã ba, đến khúc rất vắng vẻ, thầy Sinh bảo rẽ vào con đương mòn cho khuất. Thầy Sinh thắp nhang đèn khấn vái rồi làm phép bắt vong hồn anh Linh vào cây nhang để tụi em cần theo, và tiếp tục khấn vái. Bỗng dưng thầy Sinh lên tiếng quát như nói chuyện với người vô ình (như thầy Quýt hôm qua). Thầy nói “thôi đưa anh tới đây được rồi, về lại trên núi đi, để anh theo người thân về nhà” Rồi thầy lại hỏi Họ gì? Họ La hả” Nhà ở đâu, ở Bà Rịa à? Được rồi, nhớ rối, về đi”.

Xong thầy lấy 3 cây nhang vẽ bùa gì đó lên tấm vải trắng , rồi đâp chiếc quách, trút mớ cốt vào tấm vải, cột lại giao cho chúng em xách.

Chúng em vẫn thuê 3 chiếc gắn máy , 1 chiếc chở 1 người em ôm quách, 2 chiếc kia chạy kè theo, còn đám đàn bà thì lên xe hơi . Và như lúc tụi em bắt đầu đi, lúc này trờ lại đổ mưa!

Về tới Huế chúng em bàn với nhau là phải đi bằng xe lửa chứ không dám đi máy bay sợ tụi nó scan túi xách thấy gói cốt sẽ làm khó dễ. Thế nhưng khi hỏi thuê được 1 chiếc xe van chịu chở vào Saigon với giá 7 triệu đồng, chúng em mừng quá ngay chiếu hôm đó rời Huế ngay!

Xe chạy suốt đêm, chúng em rù rì nói chuyện chứ không ngủ được, khi tới Phan Rang chúng em ghé quán cơm bán khuya ăn cơm rồi đi tiếp. Gần 3 hay 4 g sáng cậu em họ buồn ngủ nên em kêu ra băng sau nằm ngủ cho khỏe. Mới chừng nửa tiếng nó chồm dậy nói “em nằm mơ thấy có người đi theo mình, nhìn không rõ mặt, chỉ thấy mặc quần áo lính màu xanh mà có rằn rằn màu đen ( Năm 1975 hắn còn rất nhỏ nên không biết chuyện lính tráng đâu, nhưng nghe nó diễn tả em biết ngay đó là áo lính TQLC.)

Trên đừmg về Saigon, chúng em gọi điện thoại trước liên lạc với ông thầy tu trong ngôi chùa nhỏ tại nghĩa trang (do Hội tương tế mời thầy về tu và coi sóc) nhờ thầy mua hộ trước chiếc quách mới.

Chúng em đi thẳng về nghĩa trang, về đến nơi thì trời đã trưa. Cả bọn để hành lý trên xe, đưa gói cốt anh vào chùa ngay.

Chúng em chuyển gói cốt vào chiếc quách mới và rũ miếng poncho cùng manh vải đã sờn rách, mỏng tang để gấp lại, Ngờ đâu có 2 chiếc đinh mục rơi ra, chúng em chẳng hiều đó là đinh ở đâu? Hay là mấy chiếc đinh của cái hòm chôn anh Linh đã bị mục nát thành đất? Chúng em thắp nhang, gửi cốt anh lại cho thầy và xin sáng hôm sau lên làm lễ hạ huyệt.

*

Buổi lễ hạ huyệt này có rất đông bà con họ hàng và người quen với gia đình em đến dự, như một tang lễ bình thường. Chúng em bỏ theo quách manh poncho và miếng vải áo tù rách để cùng chôn cho anh. Sau đó lấp đất và tráng xi măng để hôm sau xây mộ. Mộ anh nằm ngay bên cạnh Má.

Hôm sau cậu em họ đến kể em nghe ngay đêm đó,nằm mơ thấy anh Linh về, mặc quần áo đàng hoàng. Anh vào nhà ngồi ngay vào ghế, mặt tươi tỉnh. Cậu em hỏi, anh đi đâu đây thì anh Linh trả lời, tao về xây nhà chứ đi đâu!

Liên tiếp mấy ngày sau đó, bữa nào chúng em cũng lên xem việc xây mộ để xong là về lại Mỹ ngay ( vì Ba em giục xong thì về liền vì Ba cảm thấy trong người không ổn).

Xây mộ xong, chúng em lên cúng , viếng mộ hai bên Nội Ngoại, Má và anh Linh rồi trở về Mỹ.

Buổi trưa ngày em về tới nhà thì sáng hôm đó Ba em nói với em Chín đưa Ba rời bệnh viện về nhà vì Ba đỡ rồi. Mặt mũi Ba tươi tỉnh, vui vẻ và cho hay là đã hết nhức đầu!

Anh có nhớ là trước khi tụi em về VN lần đầu tìm mộ Ba em đau đầu dữ dội lắm, đau tới nỗi Ba nói muốn đập đầu vào tường cho bớt! Thầy Quýt ngay lần đó đã nói :tìm đưa anh về thì Ba hết đau ngay. Lúc đó em nghĩ rằng à thì ra thầy nói là như thế.

Không ngờ sau khi em về lại Mỹ được 2 tuần, một buổi chiều đi làm về thấy Ba còn ngủ chưa dậy. Em vô thăm thì Ba mở mắt, em nói thôi Ba dậy đi, trời chiều quá rồi. Con đi nấu cơm xong Ba ra ăn nghe. Nói xong em về phòng thay đồ, chưa xong thì nghe tiếng Ba kêu, em lật đật chạy trở lại thì thấy Ba đang cầm ống thuốc quang xuống đất và miệng đang nói một thứ tiếng gì nghe lạ lắm, như đang nói chuyện với người khuất mặt nào đó. Em gọi mấy chị em rồi lật đật chở Ba vào lại bệnh viện ngay. Ba nằm bệnh viện thêm một đêm một ngày nữa thì ra đi. Lúc ấy em mới hiểu câu nói của thầy Quýt.

Chúng em buồn quá vì Má mất đã 23 năm ( từ năm 1984) chỉ có Ba ở với tụi em, nay Ba cũng đi theo Má , và theo anh Linh em sau 32 năm xa cách. Rõ ràng cốt nhục tình thâm, Ba em chờ cho đến khi đưa được anh về mới ra đi.

*

Em có nói rằng dù kết quả thử DNA chỉ có 10% em vẫn tin đó chính là cốt của anh Linh em. Vì những điều trùng hợp với nhau quá rõ ràng, từ những giấc mơ của chị Ba em (2 tháng sau khi sanh đứa con đầu lòng), thấy anh về thăm, dẫn chị đi tới một vùng cỏ tranh, pohia1 dưới có con suối nhỏ, rồi hình ảnh trong mơ của chị Ba, cũng như của thầy Quýt đều thấy anh Linh cởi trần mặc mỗi chiếc quần đùi –dù tụi em không kể gì cho thầy hết- Rồi chuyện thầy Quýt cho hay là phải có 2 người giúp mới tìm ra mộ, một là người Công An già tên Bình ở Bình Điền, người kia cụt tay, tức viên Công An tên Phú ở Quảng Trị.

Như vậy rõ ràng anh Linh em đã chết trong oan khuất nên linh thiêng quanh quẩn giữ ngôi mộ của mình rồi về báo mộng cho người nhà máu mủ ruột thịt đi tìm.

Anh ơi, cần nói thêm là anh có biết phần mộ của anh Linh em nằm trong nghĩa trang sát gần căn cứ Sóng Thần TQLC hay không? Năm xưa bà con dòng họ bên Ba em hùn nhau mua 1 miếng đất để làm nghĩa trang đồng hương và trồng cây ăn trái, nhưng không ngờ lại nằm ngay sát bên căn cứ Sóng Thần. Miếng đất nghĩa trang quá rộng nên bên căn cứ Sóng Thần lúc đó mới qua bên nghĩa trang mượn đất để làm sân tập … Họ có làm giấy mượn đến khi nào nghĩa trang cần đất thì sẽ trả lại … Năm 1975 Cộng sản vô, tịch thu miếng đất đã cho mượn đó luôn ... để rồi sau 32 năm anh Linh em lại được về nằm gần ngay căn cứ Sóng Thần ...

Ghi chú của người ghi lại câu chuyện này

Đêm Đại hội TQLC 2008 tổ chức ở Nam California, mấy người em của Th/U Lưu Đức Linh đến tìm vài người bạn cùng khóa của anh để mời đến nhà nghe chuyện đi tìm anh mình. Nhân dịp này, Thiếu Tá Lâm Tài Thạnh, ngay lúc đó tình cờ có mặt, nghe nói Linh đầu tiên được bổ nhiệm về TĐ 9 nên ông nhân danh TĐT cuối cùng của TĐ 9, thay mặt tất cả anh em trong TĐ cũ chia buồn cùng gia đình. Vài ngày sau đó, số bạn cũ của Linh đã đến nhà để thắp một nén nhang tiễn biệt và nguyện cầu cho anh linh bạn mình vãng sinh nơi chốn vĩnh hằng. Nhân đó, mọi người cũng được nghe các em Linh kể đầu đuôi chi tiết cuộc đi tìm hài cốt của anh để đưa anh về nhà, về với Mẹ và về với binh chủng!

Trần Như Hùng
Trở về đâu trang
-------------------------------------------