Tuesday, December 1, 2009

Truyện ngắn Ðào Văn Bình
(Chuyện trong trại tù CS)

Ðối với đám tù khổ sai của trại tù Xuân Lộc Z।30A thì Chủ Nhật là ngày sung sướng nhất của họ. Tại sao vậy? Bởi vì ngày Chủ Nhật họ không phải đi lao động, sẽ có một ngày nghỉ để tắm giặt, viết thư, phơi lại quần áo xem có cái nào bị ẩm mốc, chuột cắn, cậy mấy tấm ván nằm ra để bắt rệp, chẻ củi nấu nướng linh tinh... và hồi hộp chờ đợi gia đình tới thăm nuôi. Tuy nhiên điều hạnh phúc nhất vẫn là tối Thứ Bảy. Như một thông lệ, tối Thứ Bảy là tối của "party", ca hát nhạc vàng, ngồi tụm năm túm ba bàn tán về "hot news", về chuyện phục quốc, chuyện Mỹ bốc, chuyện tiếu lâm, chuyện chưởng, chuyện ma, v.v... Nói tóm lại, tối Thứ Bảy là sân khấu của những giấc mơ, nơi mọi ẩn ức được giải tỏa, nơi bao nhiêu mộng ước được thêu dệt và cụ thể nhất - một đêm được thức dậy trễ để bù lại một tuần lễ căng thẳng vì lao động cực nhọc. Chính vì thế mà ngay buổi chiều khi lao động về ai nấy đều chuẩn bị một cái gì đó cho đêm Thứ Bảy. Trong số hàng ngàn con người đó có Ðại Úy Trang Ðiểm.

Nói về Ðại Úy Trang Ðiểm, mới thoạt nghe cái tên người ta nghĩ anh chàng này có vẻ kiểu cọ bằng cách tự đặt cho mình một biệt hiệu có vẻ lả lướt giống con gái nhưng thật ra ông ta họ Trang, tên Ðiểm। Chàng ta đi tù cải tạo năm mới hai mươi lăm tuổi, lúc còn mang trên vai cấp bậc Ðại Úy Ðại Ðội Trưởng. Như vậy tính tới ngày hôm nay chàng ta đã được năm tuổi tù và ba mươi tuổi đời. Không biết có đúng không nhưng các cụ thường nói cái tên do cha mẹ đặt cho dù muốn dù không cũng mang một định mệnh nào đó. Chẳng hạn các cô tên Bạch Tuyết nước da thường không được trắng cho lắm. Các cô tên Sương cuộc đời tình ái thường trắc trở. Các cô tên Thu Thủy tính tình thường lãng mạn. Các cô tên Hiền cuộc đời thường êm đềm phẳng lặng. Riêng Ðại Úy Trang Ðiểm không hiểu cuộc đời rồi đây sẽ ra sao mà chàng ta có nước da trắng như con gái, đôi lông mày cong và nhất là đôi môi lúc nào cũng đỏ hồng như thể vừa trang điểm cho nên mọi người khi nhìn thấy chàng đều thán phục ông cụ bà cụ nào đó đã đặt cho chàng một cái tên thật "hết sẩy". Chàng ta nói năng rất nhỏ nhẹ và có cái nhìn thật mơ mộng, thư sinh. Mặc dù mang cái tên và dáng vẻ như thế nhưng theo một số người quen biết thì chàng ta trước đây đánh giặc rất "chì " và nhất là trong lúc ở tù ông ta luôn luôn giữ gìn khí phách, không xu thời, làm ăng-ten, báo cáo. Thế nhưng một số các tay "rắn mắt" cùng đội, cùng buồng vẫn cứ nghi ngờ không biết anh chành Trang Ðiểm có "làm tròn nhiệm vụ công dân" được hay không? Hay chàng ta thuộc "típ" chê đàn bà, thuộc trường phái "bất lực"? Th nhưng sau một thời gian bí mật theo dõi, "xóm nhà lá" phải công nhận rằng anh chàng Trang Ðiểm này cũng bình thường như tất cả các chàng trai hào hùng khác.

Chiều nay, cũng giống như các tù nhân cải tạo khác, Trang Ðiểm cũng hối hả chuẩn bị một cái gì đó cho buổi tối Thứ Bảy। Thế nhưng thay vì chuẩn bị cà phê, thuốc lào, củi lửa nấu nướng linh tinh, chàng lại chuẩn bị cho mình một đàn cơ. Sau khi nhận một mảnh ván hòm từ tay một người bạn ở Toán Lâm Sản lấy được từ một nghĩa địa ven rừng, chàng lấy dao gọt thành hình trái tim nhỏ bằng ba đầu ngón tay chụm lại, rồi cẩn thận lấy một miếng giấy nhám xin được từ toán thợ mộc để chà cho trái tim thật nhẵn, thật bóng. Sở dĩ mấy hôm nay Trang Ðiểm cùng một số bạn khác nảy ra ý định cầu cơ là vì một nguồn tin xuất phát từ đám cai tù cho biết trại Z.30A được xây cất trên một nghĩa địa. Ðã là một nghĩa địa thì chắc hẳn phải có nhiều ma. Mà đã có nhiều ma thì chắc hẳn cầu cơ sẽ linh thiêng lắm. Tuy nhiên xét cho cùng đây cũng là tâm lý chung. Cuộc sống tù đày mịt mù thăm thẳm khiến người ta hết tin vào sức người mà tìm cách dò hỏi các đấng thần linh, ma quỷ để biết tương lai của mình ra sao. Chính vì thế mà Trang Ðiểm và các bạn háo hức chờ đợi đàn cơ tối nay.

Khi tiếng kẻng điểm tù vang lên, sau một vài phút giây chộn rộn, cả trại tù bỗng trở nên im ắng và lần lượt từng toán xếp hàng hai lầm lũi bước vào buồng giam। Sau khi cánh cửa tù đã được khóa trái ở bên ngoài, thay vì hòa nhập với sinh hoạt hỗn tạp của tối Thứ Bảy, trước sự ngạc nhiên của mọi người, Trang Ðiểm vội vã mắc màn để đi ngủ sớm. Nhưng thực ra đây chỉ là cái kế. Khi trời đã dần dần vào khuya, khi các đám "Party", ca hát nhạc vàng, trà lá đã tan và trả lại sự im lặng cho căn buồng thì Trang Ðiểm ngồi nhỏm dậy. Ðể tránh kinh động những người chung quanh, anh nhẹ nhàng thu gọn chiếc màn rồi thò tay giật chân người bạn tù nằm bên cạnh. Như đã có ước hẹn từ trước, người bạn tù cũng mau lẹ gỡ chiếc màn xuống nhón lên bấu chân hai người bạn tù nằm ở tầng trên. Chỉ trong phút chốc bốn người đã tụ tập trên chiếc chiếu của Trang Ðiểm và của người bạn tù nằm bên cạnh. Trang Ðiểm cẩn thận lấy từ cái kệ đóng bằng vài thanh gỗ trên đầu nằm ra hai cây nến, một bó nhang và một tấm bìa lớn bằng cỡ cái bàn cờ tướng. Dưới sự phụ giúp của mấy người bạn, hai cây nến được thắp lên, ba cây nhang được cắm vào miệng một cái chai nhỏ và bên cạnh đó là một ly nước lạnh và vài cái kẹo. Ðó là tất cả lễ lạc để cầu cơ và được xếp ngay ngắn trên đầu bàn cơ - tức là tấm bìa cứng lấy ra lúc nãy.

Bây giờ là chín giờ đêm. Trại giam đã tắt đèn để báo hiệu giờ đi ngủ của tù bắt đầu. Dưới luồng ánh sáng chập chờn của hai ngọn nến, bốn cái đầu chụm lại trên tấm bàn cầu cơ được thiết trí theo thứ tự từ trên xuống dưới các số từ 0 đến 9, rồi các dấu Sắc, Huyền, Hỏi, Ngã, Nặng - rồi các mẫu tự ABC xắp xếp lộn xộn. Dưới hàng mẫu tự là các ô hình quả trám ghi các chữ Tiên, Thánh, Phật, Ma, Quỷ. Dưới hàng chữ này là hình quả tim. Hai bên tả hữu hình trái tim là chữ Thăng - Giáng. Dưới hai chữ Thăng- Giáng là hai chữ Nam-Nữ. Và chót dưới cùng là hai chữ Ðúng-Sai. Sau khi đã chỉnh đốn lại lễ lạc và hai ngọn nến, Trang Ðiểm từ từ móc trong túi ra miếng ván hòm khắc thành hình trái tim mà chàng vừa làm buổi chiều rồi đặt lên trên bàn cơ. Khi Trang Ðiểm làm dứt động tác này thì mọi người hiểu rằng giờ phút quan trọng đã đến. Một người đưa mắt ra hiệu cho Trang Ðiểm rồi nói khẽ "Khấn đi!" Nghe nói vậy Trang Ðiểm đưa tay cầm lấy cây nhang, chắp hai tay trước ngực, mắt hơi nhắm lại rồi lâm râm khấn một bài khấn nghe lạnh tóc gáy:

Hồn là hồn ma không nơi nương tựa
Hồn là hồn oan nơi bến bãi đầu ghềnh
Hồn là hồn thác lúc tuổi xanh
Hồn là hồn hoang trên nấm mồ cô độc
Xin theo ngọn gió
Xin theo áng mây
Nếu như hồn lạc bước đêm nay
Xin ghé vào đây
Cùng chúng tôi tâm sự
Cho trọn niềm tri kỷ...

Giữa ánh nến bập bùng, giữa cái không khí vắng lặng của nhà giam, lời khấn vang lên như lời kêu gọi, mời mọc, lời truyền giao cách cảm giữa cõi âm và cõi dương, giữa người sống và người chết, giữa ma và người để cùng hội ngộ về đây giữa đêm khuya cho trọn niềm khao khát. Khấn xong Trang Ðiểm cẩn thận cắm cây nhang vào cái chai rồi cùng Ðại Úy Trọng, mỗi người đặt ngón tay trỏ lên trên chiếc ván hòm... và hồi hộp chờ đợi. Khoảng một phút sau miếng ván hòm bắt đầu cục cựa rồi như có một lực vô hình thúc đẩy, miếng ván vọt mạnh rồi đảo quanh chiếc bàn cơ như một người lên đồng. Thiếu Tá Hiệp - một người lớn tuổi và kinh nghiệm nhất trong bọn, thấy cơ đã giáng cho nên mau miệng nói:
- Nếu hồn về chơi với chúng tôi, xin mời hồn ăn kẹo đi.
Thiếu Tá Hiệp vừa nói dứt lời thì miếng ván hòm đang quay vòng vòng quanh bàn cơ, đột nhiên ngưng lại rồi xẹt về mấy cái kẹo... nằm im. Chỉ ít giây sau áng chừng hồn đã ăn kẹo xong, Thiếu Tá Hiệp lại lên tiếng:
- Xin mời hồn uống nước.
Theo đúng lời yêu cầu, miếng ván hòm lại nhích về phía ly nước lạnh rồi nằm im. Vài giây sau Thiếu Tá Hiệp nói như dỗ dành:
- Nếu hồn đã về chơi với chúng tôi, sau khi ăn kẹo, uống nước xong hồn có thể về chỗ để chúng tôi hỏi được không?
Thiếu Tá Hiệp vừa nói xong thì miếng ván hòm vọt về chỗ hình vẽ trái tim rồi nằm im, chờ đợi. Ðại Úy Tuấn, người nãy giờ chỉ im lặng, hồi hộp quan sát nay bỗng lên tiếng hỏi:
- Thế hồn cho biết hồn là Tiên, Phật, Thánh hay Ma, Quỷ?
Miếng ván hòm nghe hỏi từ từ chạy về phía chữ Ma, dừng ở đó vài giây rồi quay trở lại vị trí cũ.
- Thế hồn là Ma thì hồn là Nam hay Nữ?
Từ vị trí vẽ hình trái tim, miếng ván hòm chạy ngay về phía Nữ.
- Thế hồn là Nữ thì năm nay hồn bao nhiêu tuổi?
Ðại Úy Tuấn vừa hỏi dứt câu thì cây cơ từ từ lướt về phía số 2 rồi số 4 ý muốn nói năm nay hai mươi bốn tuổi.
- Thế hồn có biết anh chàng đẹp trai này tên gì không?
Trước sự hồi hộp của mọi người, miếng ván hòm đảo một vòng như thể chọc ghẹo rồi từ từ chạy về phía chữ T rồi chữ Ð, rồi cứ chạy tới chạy lui hai chữ T, Ð như thế.
Dường như chưa thỏa mãn lắm với câu trả lời, Ðại Úy Tuấn láu lỉnh hỏi:
- T, Ð có phải là Trang Ðài không?
Nghe hỏi vậy, miếng ván hòm đảo một vòng thật lớn rồi xẹt vào chữ KHÔNG.
- Nếu anh ta không phải là Trang Ðài thì có phải là Trang Ðiểm không?
Ðại Úy Tuấn vừa nói dứt câu thì cây cơ lướt ngay về chữ ÐÚNG.
Có lẽ sự thử thách đã quá đủ để chứng tỏ đàn cơ rất linh thiêng cho nên bốn tay cùng đưa mắt nhìn nhau với vẻ thán phục. Sau một vài phút giây im lặng. Thiếu Tá Hiệp lại lên tiếng:
- Thế hồn có biết tụi tôi là ai không?
Khi hỏi câu này có lẽ trong thâm tâm Thiếu Tá Hiệp cũng dự đoán câu trả lời sẽ là "sĩ quan". Thế nhưng từ vị trí ÐÚNG, miếng ván hòm chạy vụt qua vụt lại hàng hàng mẫu tự ABC để rồi tất cả đều nhận ra câu trả lời rất thông minh và cũng rất tức cười đó là "tù cải tạo".
Tới mức này thì dường như hồn ma và người cũng đã thể nhập làm một, đã tin cậy nhau cho nên người thì muốn hỏi dồn dập mà ma thì cũng sẵn sàng giải đáp:
- Thế hồn có biết anh chàng đẹp trai này bao giờ được thả không?
- Sáu tháng.
- Thế còn tụi tôi?
- Một năm.
Suốt từ đầu đàn cơ đến giờ, người ngồi cơ là Ðại Úy Trọng vẫn chưa hỏi một câu nào. Vốn là tay ngang tàng chẳng sợ trời đất, chàng ta hỏi như thể chọc ghẹo cô gái ma:
- Hồn tên gì?
- Thu Thủy
- Hồn đẹp không?
- Ðẹp.
- Hồn có chồng chưa?
- Chưa.
- Thế hồn có muốn lấy chồng không?
- Có!
Thấy hồn ma đáp thế tất cả bốn người đưa mắt nhìn nhau. Chàng Trang Ðiểm nhà ta, như một định mệnh xui khiến, từ nãy giờ vẫn ngồi im, không hiểu sao lại buột miệng hỏi:
- Thế hồn muốn lấy ai?
Miếng ván hòm sau một vài giây bỗng vụt chạy qua hàng mẫu tự ABC để rồi mọi người đều nhận ra người mà cô gái ma muốn lấy làm chồng là chàng Trang Ðiểm.
Câu trả lời làm sửng sốt mọi người. Tuy nhiên vốn mang trong người giòng máu lì, Ðại Úy Trọng ghé tai Trang Ðiểm nói nhỏ:
- Ð।M. bọn mình kể như rạc gáo. Có ma lấy còn hơn chẳng có ma nào chịu lấy mình! OK. Cứ lấy! Chẳng chết thằng Tây nào mà sợ!
Ðối với chàng Trang Ðiểm thì họa phúc chưa biết thế nào, tuy nhiên buổi cầu cơ đến đây được coi như quá đủ. Sau một vài câu hỏi qua loa về tương lai, hậu vận, Thiếu Tá Hiệp khéo léo mời hồn thăng để chấm dứt buổi cầu cơ để bốn người lục đục quay về chỗ nằm, giăng mùng nằm vắt tay lên trán để theo đuổi những ý nghĩ riêng tư.
* * *
Sau những giờ phút chộn rộn chạy qua chạy lại để tham dự "Party", quay phim, nấu nướng linh tinh, tắm giặt, thăm nuôi, v.v... đám tù nhân của trại Z.30A dường như cũng đã thấm mệt. Họ tản mát thành từng tốp nhỏ tập trung dưới bóng mát của mấy cây xoài, cây mãng cầu xiêm để vừa nấu nước trà, hút thuốc lào, tán gẫu hoặc đàn ca. Những bếp lửa giờ đây đã đầy ắp than hồng. Thỉnh thoảng một vài ngọn gió từ mé rừng thổi tới làm đong đưa hàng lá xoài. Một vài tiếng gà gáy trưa vọng tới làm tăng thêm niềm cô đơn và nỗi nhớ nhà trong lòng người tù khổ sai biệt xứ.
Cũng như các người tù khác, chàng Trang Ðiểm cũng đã thấm mệt với những sinh hoạt của buổi sáng Chủ Nhật। Chàng ngồi dựa lưng vào hàng chấn song sắt vừa để nghỉ trưa và cũng vừa để vá lại quần áo cho ngày mai lao động. Buổi cầu cơ tối qua đã làm chàng mất ngủ cho nên sau một vài mũi kim, mắt chàng trở nên nặng trĩu và chàng thiếp đi vào giấc ngủ trưa lúc nào không hay.

Vừa chợp mắt được một ít phút chàng thấy từ phía cổng trại bóng một người con gái thoăn thoắt bước vào। Dáng đi của nàng rất uyển chuyển. Nàng xách trên tay một chiếc giỏ cho nên Trang Ðiểm nghĩ rằng đó là một nữ cán bộ vào nhờ vả anh em tù cái gì đó hoặc cán bộ phụ trách thăm nuôi đem dùm quà cho một anh em nào ở trong trại cho nên Trang Ðiểm cũng không chú ý lắm. Thế nhưng chỉ thoáng sau người con gái đã xuất hiện ở đầu nhà rồi lanh lẹ bước vào buồng, tiến tới chỗ Trang Ðiểm ngồi. Khi Trang Ðiểm còn đang ú ớ: "Cán... bộ.... muốn kiếm... " thì cô gái đã nhoẻn miệng nói:

- Bộ anh không nhận ra em à? Em là Thu Thủy đêm qua nói chuyện với các anh đây này.
Dù đang ở trong giấc ngủ, đầu óc của chàng cũng còn đôi chút minh mẫn để nhớ ra rằng nếu cô gái này là Thu Thủy thì chắc chắn cô nàng phải là ma cho nên chàng ta giật thót mình, ấp úng nói:
- Thế cô là... là ma hả?
Cô gái lại nhoẻn miệng cười đáp:
- Nếu em là ma thì anh có sợ không?
Quả thật đối với Trang Ðiểm thì đây là câu hỏi trẹo bảng họng. Ðường đường trong quá khứ là Ðại Ðội Trưởng tác chiến vào sinh ra tử rồi năm năm cải tạo cọ sát với địa ngục mà nói sợ ma thì yếu quá; còn nói không sợ thì... cũng kẹt cho nên Trang Ðiểm nói bừa:
- Sức mấy mà sợ!
- Nếu không sợ thì anh thử rờ tay em xem có phải là ma không?
Nói xong cô gái kéo tay chàng Trang Ðiểm rồi đặt lên trên cánh tay trắng muốt của mình। Chàng Trang Ðiểm nhà ta, giống như các chàng cải tạo khác, năm năm qua phải " ăn chay nằm đất", không hề biết đàn bà là gì thế mà bỗng nhiên được nắm cánh tay trắng muốt của một cô gái như thế này thì tay chàng có run lên bần bật cũng là lẽ thường. Có điều dù trong giây phút xúc động đến tột cùng như thế chàng vẫn còn tỉnh táo để nhận ra rằng bàn tay của cô gái mềm mại và ấp áp chứ không lạnh tanh như ma - như người ta vẫn thường nói cho nên chàng nghĩ rằng cái ám ảnh ma quái kia là không có thực và người con gái đang đứng trước mặt chàng đây là người thực một trăm phần trăm... cho nên chàng ta hứng chí nói:

- Ồ, em đâu phải là ma!
Nghe nói thế cô gái chỉ nhoẻn miệng cuời, nàng tự nhiên ngồi xuống bên cạnh Trang Ðiểm, tay thoăn thoắt lấy ra từng món đồ trong chiếc giỏ, miệng mau mắn nói:
- Lần đầu tiên đi thăm nuôi em không biết phải mang những gì। Em mang tạm ít trà, cà phê, thuốc lào, đồ hộp, mì gói, thịt kho và ít xôi nếp để anh dùng đỡ. Kỳ sau muốn gì anh cho em biết em sẽ mang vào.

Lợi dụng lúc cô gái đang sắp xếp đồ đạc, Trang Ðiểm lén ngắm nhìn cô gái। Dưới con mắt tinh đời của chàng thì chàng phải công nhận rằng cô gái rất đẹp. Dù đang mặc chiếc áo cánh màu hoa cà và chiếc quần lãnh đen nhưng thân hình nàng rất cân đối, uyển chuyển. Nàng có đôi mắt quyến rũ đến lạ lùng. Nàng vừa có cái vẻ đằm thắm của người vợ hiền, lại vừa có cái ranh mãnh của cô gái thông minh cho nên càng nhìn Trang Ðiểm lại càng ngất ngây.

Khi lên tiếng hỏi thế mà chẳng thấy Trang Ðiểm trả lời gì cả thì cô gái ngửng đầu lên và nàng bắt gặp ngay anh chàng đang ngây người ra nhìn mình. Cô gái bật cười nói:
- Anh đa tình vừa vừa chứ. Mới có gặp nhau có một lần mà nhìn người ta như muốn ăn tươi nuốt sống vậy?
Nói rồi cô gái thu dọn mớ đồ thăm nuôi vào cái giỏ rồi cẩn thận đặt trên chỗ cửa sổ ngay đầu nằm của Trang Ðiểm rồi bạo dạn leo lên ngồi dựa lưng vào tường, ngồi ngay bên cạnh Trang Ðiểm.
Bị cô gái chế riễu thế Trang Ðiểm đỏ bừng cả mặt nhưng với bản tính gan lì bạo dạn, chàng tấn công lại liền:
- Thế sao em chọn anh?
Nghe hỏi vậy cô gái cười khúc khích đáp:
- Anh đẹp trai thế này không yêu cũng uổng.
Lời nói của cô gái như mật rót vào lòng làm cho Trang Ðiểm không còn kiềm chế nỏi men tình đang bốc। Nhìn trước nhìn sau, thấy căn buồng vắng hoe, chàng đưa tay ôm đại Thu Thủy vào lòng mà nàng cũng chẳng phản đối gì. Và hai người cứ ngồi yên như thế một hồi lâu. Lát sau Thu Thủy gỡ tay Trang Ðiểm ra, vừa sửa lại mái tóc vừa nói:

- Anh lo gì, tối nay em sẽ ở lại với anh... tha hồ. Nè, anh cũng thuộc típ háu ăn lắm đấy nhé.
Lúc này hai người đã vuợt qua mọi hàng rào ngăn cách। Ngồi một hồi lâu nhìn ra ngoài bóng nắng áng chừng tới giờ cơm chiều, Thu Thủy nói:

- Thôi đến giờ em phải về. Tối nay khoảng mười giờ em sẽ đến thăm anh.
Nói xong nàng đứng dậy tần ngần nắm lấy tay Trang Ðiểm, nắm một hồi lâu rồi từ từ buông ra, rồi nàng quay lưng ra phía cửa rồi bóng nàng vụt tan biến mất vào chiếc sân trại tù rộng mênh mông.
Khi Thu Thủy vừa đi khỏi thì ngoài sân đã có tiếng ồn ào rồi tiếng người tru tréo:
- Ê, Trang Ðiểm! Bộ ông nói chuyện với ma trong đó hay sao mà không chịu ra lấy cơm? Bộ chê cơm tù rồi phỏng?

Ðó là tiếng réo gọi của mấy người bạn cùng buồng। Tiếng ồn ào đã kéo chàng ra khỏi cơn mê. Khi chàng vừa dụi mắt vừa lảo đảo đứng dậy bước ra ngoài, dù trong lúc đầu óc chưa được tỉnh táo lắm, chàng vẫn còn nhận ra mùi hương thoang thoảng đâu đây. Và trên đầu nằm hình như vẫn còn nguyên chiếc giỏ xách với đầy đủ các món thăm nuôi mà Thu thủy vừa đem tới lúc nãy.

Hôm đó vào khoảng mười giờ tối khi mọi người trong buồng đã ngủ yên thì Thu Thủy lại xuất hiện ngay chỗ nằm của Trang Ðiểm। Nàng mặc một bộ bà ba trắng, tóc nàng để xõa cho nên dưới bóng trăng rọi qua hàng chấn song, nàng trông đẹp như một cô gái Liêu Trai. Khi Trang Ðiểm nhỏm dậy thì chàng đã thấy nàng nhoẻn miệng cười rồi vén mùng lên, chui tọt vào, rồi nằm ngay bên cạnh. Thế là anh chàng diễm phúc nhà ta đêm đó tìm lại được cái lạc thú tuyệt diệu nhất trong đời của người đàn ông đó là đêm "động phòng hoa chúc". Và cứ thế cuộc sống của đôi tình nhân này kéo dài mãi cho đến gần sáu tháng sau.

Ðấy là thế giới riêng của chàng Trang Ðiểm, nhưng đối với bạn tù cùng buồng thì sao? Kể từ sau đêm cầu cơ nguời ta thấy chàng ta như kẻ mất hồn। Anh thường lang thang thơ thẩn một mình và nói vớ vẩn chẳng chuyện nào vào chuyện nào cả. Tệ hại nhất là vào những bữa cơm chiều chàng ta thường dọn thêm một cái chén, một đôi đũa như thể chờ ai đến... rồi vừa ăn vừa lảm nhảm như nói chuyện với người thuộc thế giới vô hình. Một số người thấy vậy tỏ ra ái ngại và có ý trách cứ mấy tay tổ chức buổi cầu cơ hôm ấy là đã chơi chuyện dại dột. Tuy nhiên một số khác lại cho rằng biết bao nhiêu người cầu cơ nhưng có sao đâu. Vả lại theo các sách vở nói về ma quỷ thì ma quỷ vốn rất sợ nhà tù. Tại cái địa ngục này thì đám cải tạo nhà ta không thành ma thì còn thành cái gì nữa? Nào là ma đói, ma khát, ma bị vợ bỏ, ma tứ cố vô thân... ma ở tập trung đông đảo thế này thì còn ma nào dám đến phá nữa? Do đó chuyện cầu cơ đêm đó chỉ là chuyện tào lao hơi đâu mà tin. Có điều lúc sau này Trang Ðiểm trông hốc hác và gầy đi rất nhiều. Nhiều đêm anh ta không chịu ngủ mà cứ lục đục nói năng lảm nhảm lúc cười lúc khóc khiến Buồng Trưởng phải báo lên công an để có thể phải chở anh ta đi nhà thương điên không biết chừng. Mới đầu thì bọn chúng không chịu tin nhưng sau một thời gian cử người bí mật theo dõi thì đám công an cai tù phải công nhận rằng anh đã mắc bệnh tâm trí, tức bệnh điên khá nặng nếu không thả ra thì phải xiềng chân ở nhà cách ly để anh ta khỏi phá phách người khác.

Hôm nay là sáng Chủ Nhật cũng như hàng trăm sáng Chủ Nhật khác। Tuy nhiên có điều đặc biệt là chiều hôm qua có một toán tù mới chuyển trại đến trong đó có một vị thượng tọa tên Thích Minh Tâm. Nghe nói thầy Minh Tâm tu theo Mật Tông cho nên thầy rất sành về trị tà ma và bùa chú. Theo tâm lý chung, mỗi khi tù được chuyển đến trại mới họ thường chạy qua chạy lại các buồng để tìm người quen. Vậy thì thầy Minh Tâm có ghé qua đây thì cũng chẳng phải vì chàng Trang Ðiểm này. Tuy nhiên vừa mới bước vào buồng thì thầy hơi khựng lại và thầy xoay qua nói với anh buồng trưởng:

- Cậu ạ, buồng này lạ lắm. Chuyện người chết trong tù là chuyện thường. Sau khi chết rồi thì oan hồn hoặc vào địa ngục hoặc đầu thai chứ không có ai ở nhà tù cả. Thế nhưng buồng này lại có nhiều âm khí. Ðể thầy xem...
Nói xong thầy bước hẳn vào bên trong vừa đi vừa trầm ngâm để rồi cuối cùng thầy dừng lại nơi chỗ nằm của Trang Ðiểm lấy tay chỉ rồi nói:
- Âm khí tụ ở chỗ này. Lạ lắm! Lạ lắm!
Ngay lúc đó thì Trang Ðiểm cũng từ ngoài thất thểu bước vào। Khi nhìn thấy thầy Minh Tâm anh khựng lại và có ý quay lui. Nhưng chỉ cần nhìn sắc diện của Trang Ðiểm thì thầy cũng đoán ra câu chuyện rồi cho nên thầy nói khẽ với anh buồng trưởng:

- Âm khí phát ra từ người này.
Nghe nói thế anh buồng trưởng giật mình và bắt đầu thú thực với thầy những dấu hiệu bất thường của Trang Ðiểm gần sáu tháng qua. Nghe xong thầy gục gặc đầu nói:
- Thầy có thể chữa được người này। Gọi anh đó đến gặp thầy.

Thế rồi dưới sự vỗ về của thầy Minh Tâm, của anh Buồng Trưởng và một số bạn, Trang Ðiểm dần dần tỉnh táo trở lại và anh thú thực kể từ sau đêm cầu cơ anh đã ăn nằm với Thu Thủy như thế nào। Nghe xong thầy Minh Tâm thở dài nói:

- A Di Ðà Phật! Họa phúc khôn lường। Người âm này chưa hẳn là người xấu. Thế nhưng người âm không thể chung sống với người dương. Nếu cứ tiếp tục như thế này thì khoảng nửa tháng nữa con sẽ mất hết tinh khí mà chết. May cơ duyên gặp thầy, thầy cho con tấm bùa này thì người đó không thể nào gần con được nữa.

Nói xong thầy tháo chiếc tượng Phật đeo ở cổ, thầy niệm chú rồi choàng cái tượng Phật đó vào cổ Trang Ðiểm। Làm xong thầy ra hiệu cho mọi người im lặng rồi thầy ngồi thế kiết già, tay bắt ấn Tam Muội như thể xuất hồn để đi vào một cõi xa xăm nào đó.

Hôm ấy vào khoảng mười giờ đêm Thu Thủy lại xuất hiện trước chỗ nằm của Trang Ðiểm. Thay vì nhoẻn miệng cười như mọi lần, nàng bật khóc như mưa như gió. Khóc xong nàng nói:
- Cái tượng Phật kia làm em không thể nào gần anh được nữa. Nhưng duyên nợ của em với anh tới đây là hết rồi. Hôm qua em gặp thầy nghe thầy khuyên giải em đã giác ngộ.
Nói đến đây như thể quá xúc động nàng lại bật khóc। Khóc một hồi nàng kể lể:

- Năm xưa em là cô gái giao liên việt cộng ở vùng này. Trong một chuyến công tác em bị lính của Sư Ðoàn 18 bắn chết. Mới đầu em hận các anh lắm. Nhưng sau ngày 30-4-75 em thấy bọn việt cộng chúng nó tàn ác quá. Bao nhiêu người chết oan xuống đây gặp em, em đâm ra tỉnh ngộ và thương các anh. Vì muốn làm một cái gì đó chuộc lỗi nên em đã tình nguyện làm... làm... vợ anh.
Nói đến đây nàng lại tấm tức khóc. Hồi lâu sau nàng lấy tay quệt nước mắt nói tiếp:
- Vì em theo chủ nghĩa Mác-Xít vô thần không tin vào luật luân hồi nhân quả nên khi chết em không được đầu thai thành người mà thành kiếp chồn. Ngày mai đúng hạn sáu tháng anh sẽ được thả và nghiệp của em cũng đã hết rồi. Nếu như anh không quên ân tình cũ, trên đường về nhà anh nhớ ghé ngang cây đa lớn ở mé rừng, nếu thấy xác của con chồn nằm ở đó thì tức là em đã hóa kiếp và được đầu thai. Xin anh chôn cất em tử tế anh nhé...
* * *
Sáng hôm sau khi các đội đang tập họp ở sân trại để chuẩn bị đi lao động thì tên công an Trưởng Ban Hồ Sơ từ ngoài cổng bước vào। Hắn lấy ra một tờ giấy rồi khoát tay ra lệnh cho tất cả im lặng để đọc lệnh tha đặc biệt trong đó chỉ có một người duy nhất được thả là Ðại Úy Trang Ðiểm với lý do: Bị bệnh tâm trí.

Thế rồi dưới sự phụ giúp của các bạn tù, Trang Ðiểm được hộ tống lên văn phòng trại để làm thủ tục phóng thích। Khoảng hai giờ sau trên con đường từ trại Z.30A ra Ngã Ba Ông Ðồn người ta thấy bóng dáng thất thểu của Trang Ðiểm trên con đường đất đỏ. Khi tới ngã ba bìa rừng, nhớ lời Thu Thủy chàng tiến tới một gốc cây đa cành lá la đà. Và ngay dưới gốc cây đa, trên đám cỏ khô xác một con chồn hương nằm chết ở đó. Chàng vội vàng quỳ xuống ôm xác con chồn hương vào lòng. Xác của con chồn vẫn còn mềm mại và tự nơi nó tỏa ra một mùi thơm gạo nàng hương giống như mùi da thịt của Thu Thủy... và chàng bật khóc. Khóc một hồi chàng lượm một cành cây, đào một cái hố nhỏ rồi chôn xác con chồn ở đó.

Trên con đường mòn trở ra con đường đất đỏ bóng của Trang Ðiểm nổi bật lên trên khu đồi bắp bạt ngàn vừa mới thu hoạch xong, nằm gục chết như một khu rừng khô cháy. Trên đôi mắt của Trang Ðiểm vẫn còn ngấn lệ. Chàng vừa đi vừa lẩm bẩm:
- Xin cám ơn Thu Thủy. Trong cái xã hội cộng sản đầy thú tính như thế này sống với em mà anh cảm thấy ấm cúng hơn là sống với người. Xin cám về sự có mặt của em trong những ngày tháng cay đắng nhất của kiếp tù! Xin cám ơn Thu Thủy.
Ðào Văn Bình
(Trich trong tuyen tap Huong Xot Xa xuat ban nam 1995)
Chú thích:
(1) Nhạc vàng: Bọn cộng sản cho rằng nhạc miền Nam ủy mị, đồi trụy cho nên chúng gọi là nhạc vàng
(mầu vàng mầu yếu đuối)
(2) Toán Lâm sản: Toán đốn gỗ trên rừng.
(3) Thăng: bỏ đi.
(4) Giáng: nhập vào, tới.
(51) Quay phim: kể chuyện
(6) Mật Tông: một tông phái Phật Giáo chuyên đọc tụng các thần chú.
(7) Thế kiết già: xếp bằng tròn, hai lòng bàn chân hướng lên trời.
(8) Ấn Tam Muội: các ngón tay ở một vị thế mà Phật Giáo nghĩ là có thể an trụ tâm.

Trở vê đàu trang

Monday, November 30, 2009

Một bài thơ chưa từng công bố

Đã 34 năm trôi qua,hòa bình cũng dài ngang bằng cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử,chưa có cuộc chiến nào ám ảnh một dân tộc cho bằng cuộc chiến tranh này,nó thay đổi hình thái xã hội.thay đổi số phận con người.

Công bố bài thơ viết năm 27 tuổi,bảy năm sau hòa bình(1982).nay nhìn lại ,tôi cũng không hiểu điều gì đã dẫn dắt cho những dòng chữ này.

Khi làm xong nghĩa vụ một thanh niên thời hậu chiến ,người có lý lịch may mắn không vướng phải chuyện lính tráng dù thế hệ tôi sau“mùa hè đỏ lửa 1972” hầu hết cũng đã” yên vị “ khói hương trên bàn thờ gia đình.còn nhớ những năm của thập niên 80,giáo sư Nguyễn Khắc Viện viết một bài đanh thép trên báo Sài Gòn Giải Phóng”sen hay bùn” về danh xưng khi nào thì gọi là thành phố Hồ Chí Minh,khi nào thì gọi là Sài Gòn?và ông khẳng định cái tốt thì gọi tp HCM,cái tệ nạn ,cái xấu ,cái "tồn đọng"thì gọi là Sài Gòn.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan đã đối thoại bằng một bài báo khác(tất nhiên ông không thể đăng bài phản biện ấy trên báo SGGP như trong một xã hội bình thường),ông nhắc rằng hiện tại sau 10 năm giải phóng, thành phố vẫn còn một tờ báo lớn tiếng nói chính thức của “Đảng bộ và nhân dân thành phố” tờ Sài Gòn Giải Phóng( nó vẫn còn đến tận hôm nay),còn một nhà máy thuốc lá Sài Gòn,còn một đội bóng danh tiếng mang tên Cảng Sài Gòn(nay đã không còn)…bài thơ này,có lẽ là cái nhìn đau đớn đầu tiên của một người trẻ tuổi vừa từ chiến trường K trở về với bao nhiêu hoài bão sau khi chứng kiến những hy sinh cao đẹp của một thế hệ thanh niên Sài Gòn,những con người thành phố tuổi chỉ mới đôi mươi…hai mươi bảy tuổi và một bài thơ dài nhất của đời mình...

Đỗ trung Quân


TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN
(1982)

1.
Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Các anh từ Bắc vào Nam
Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc
Các anh đến
Và nhìn Sai Gon như thủ đô của rác
Của xì ke,gái điếm, ,cao bồi
Của tình dục,ăn chơi
“Hiện sinh-buồn nôn-phi lý!!!”
Các anh bảo con trai Sai Gòn không lưu manh cũng lính ngụy
Con gái Sai Gòn không tiểu thư khuê các,cũng đĩ điếm giang hồ
các anh bảo Sai Gòn là trang sách “hư vô”
văn hóa lai căng không cội nguồn dân tộc
ngòi bút các anh thay súng
bắn điên cuồng vào tủ lạnh ,ti vi
vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ
các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản
các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn
là thiêu thân ủy mị,yếu hèn
các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương
mang tuổi trẻ Sai Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

2.
Tội nghiệp Sài Gòn quá thể
Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý
Có anh thợ điện ra đi không về
Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống mỹ
Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me
Tội nghiệp những người sài gòn đi xa
Đi từ tuổi hai mươi
Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc
Có ai hỏi những hàng dương xanh
Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hóa thân vào sóng nước
Tội nghiệp nhưng đêm Sài Gòn đốt đuốc
Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không
Tội nghiệp nhưng ông cha rời khỏi nhà dòng
Áo chùng đen đẫm máu
Tội nghiệp những chiến trường văn chương,thi ca ,sách báo
những vị giáo sư trên bục giảng đường
ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc
Sài Gòn của tôi-của chúng ta.
có tiếng cười
và tiếng khóc

3-
Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót
Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi
Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện
Những gã du đãng giang hồ cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển
Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình
Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát .hy sinh…

4-
Và khi ấy
Thì chính “các anh”
Những người nhân danh Hà Nội
Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới
Chửi đã đời .
Chửi hả hê
Chửi vào tên những làng quê ghi trong lý lịch của chính mình
Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh
Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!
Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc
Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt
Những bà mẹ làm ra hạt lúa
Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin
Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm
để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch
Bây giờ
Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”
Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân
Các anh
đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân
đã bờm xờm râu tóc,cũng quần jean xắn gấu
Cũng phanh ngực áo,cũng xỏ dép sa bô
Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh ti vi,casette .radio…
Bia ôm và gái
Các anh ngông nghênh tuyên ngôn”khôn & dại”
Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”
Các anh cũng chạy đứt hơi
Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ
Sài Gòn 1982 lẽ nào…
Lại bắt đầu ghẻ lở?

5-
Tội nghiệp em
Tội nghiệp anh
Tội nghiệp chúng ta những người thành phố
Những ai ngổn ngang quá khứ của mình
Những ai đang cố tẩy rửa “lý lịch đen”
Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật

6-
Xin ngả nón chào các ngài
“Quan toà trong sạch”
Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi
Bình thản đổi thay lốt cũ
Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn
Hồn nhiên xanh muôn thưở
để yên cho xương rồng,gai góc
Chân thật nở hoa
Này đây!
Xin đổi chỗ không kỳ kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa
Nơi một góc (chỉ một góc thôi)
Sài Gòn bầy hầy ,ghẻ lở
Bây giờ…
Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào” thượng đế”
Khi sống hả hê giữa một thiên đường
Ai bây giờ
Sẽ
Tạ lỗi
Với Trường Sơn?

Đỗ trung Quân (1982)

(*) năm 1995-nhà xuất bản Trình Bày có ý định in bài thơ này với cái tên tác giả "Chung Do Kwan" trong phần" thơ dịch".sự cân nhắc này là nhã ý của nhà Trình Bày khi biết tác giả thật sự vẫn còn đang sống ở VN.cũng từ đó cái tên Chung Do Kwan ra đời với tinh thần (ngỡ như) hài hước (“phiên âm” từ tên tác giả).nó không liên quan gì đến tay độc tài quân phiệt Chung do kwan trong thập niên 60-70.
(Trich tu Blog Do Trung Quan, mot nha tho noi tieng trong nuoc, moi cac ban doc.)

TRỞ VÊ ĐÂU TRANG

Sunday, November 29, 2009

KHI MUÀ GIÁNG SINH ĐẾN

Duy Khanh,Thanh Tuyen " la thu tran the " nhac truoc 1975




KHI MÙA GIÁNG SINH ĐẾN


Đã tới giờ đi ngủ, tôi dắt cu Bí lên giường. Tôi nằm cạnh nó, vỗ nhẹ vào lưng và kể một câu
chuyện thần tiên giản dị, nhưng mãi nó vẫn chưa ngủ, còn quay ra hỏi tôi.- Bố sắp về chưa mẹ?

- Lúc chiều bố đã nói chuyện phone với con là một tuần nữa bố sẽ về mà.
Trong ánh sáng mờ của ngọn đèn ngủ, cu Bí giơ cả hai bàn tay lên, xòe đủ muời ngón nhỏ xíu ra truớc mặt tôi rồi hỏi:

- Một tuần nữa là mấy ngày? Mẹ đếm đi .
Tôi đếm từng ngón tay của Bí:

- Đây này, 1,2,3,4,5,6,7. Tới ngày này bố sẽ về.
Cu Bí reo lên:

- Con thích quá, bố về với mẹ, với con để đi mua cây thông nhé?
- Đúng vậy, mùa lễ Giáng Sinh này chúng ta sẽ có một cây Christmas đẹp ơi là đẹp như những năm truớc. Bây giờ con hãy ngủ đi nhé.

Thằng bé sung suớng mỉm cuời và khép mắt lại. Tôi tin rằng một giấc mơ đẹp đang đến với nó. Nhưng ngay trong giây phút này một giấc mơ buồn của tuổi thơ tôi hiện ra, khi vừa rồi tôi nhìn thấy con tôi xòe những ngón tay để đếm từng ngày đợi mong bố về sau một chuyến công tác xa nhà…

*************************** Tôi chỉ còn nhớ những hình ảnh mơ hồ, không theo thứ tự, kể từ khi tôi lên 4 tuổi, tôi thấy bố mẹ tôi thường xuyên cãi nhau và có khi đánh nhau, mẹ ném một cái gì đó vào bố và bố cũng ném lại vào mẹ. Những lúc đó tôi sợ hãi khóc ré lên, nhưng mặc cho tôi gào khóc bố mẹ vẫn tiếp tục cãi nhau. Một lần, khi thấy tôi khóc mẹ đã tức giận tát túi bụi vào mặt tôi, làm tôi sợ hãi thêm và nín khóc ngay, từ đó trở đi tôi không dám khóc nữa, mỗi lần bố mẹ bắt đầu to tiếng thì tôi len lén chui vào tủ quần áo, đóng cửa lại, tôi tìm thấy nơi đó một sự trú ẩn bình an. Có hôm tôi ngủ quên trong đó, có hôm tôi chờ đợi sự im ắng thì chui ra, hoặc bố hoặc mẹ đã ra khỏi nhà. Tôi đã biết tự lo cho chính mình, mở tủ lạnh tìm đồ ăn, là một vài miếng cheese khô hay cái hotdog đã mở bọc nằm lăn lóc trong góc tủ. Vì sau trận cãi nhau chẳng ai ngó ngàng đến tôi, tôi cũng biết thân phận chẳng dám kêu réo hay đòi hỏi gì.

Rồi một ngày tôi thức dậy thì biết mình mất mẹ, bố tôi ngồi thừ người ở ghế. Mẹ tôi đã ra đi và bỏ tôi ở lại như một trong các món đồ cũ mẹ không cần dùng. Bố tôi nói dửng dưng như thông báo một chuyện vừa xảy ra ở nhà hàng xóm:
- Mẹ đi rồi, từ nay con ở với bố.

Tôi oà lên khóc, có lẽ vì sợ hãi cô đơn hơn là thương nhớ mẹ, tôi rất it khi nhận được sự chiều chuộng âu yếm nơi mẹ, thì giờ chính của mẹ ở nhà là uống bia, uống rượu như bố, rồi mẹ ngủ vùi. Những bữa ăn của tôi thường là những lát bánh mì, gà chiên mua sẵn ở tiệm hay hotdog. Đôi khi bố mẹ vui vẻ tôi được dẫn đi ăn nhà hàng, đó là những ngày hạnh phúc nhất đời tôi, vì được thấy bố mẹ thân thiện và được ăn đồ nóng sốt ngon lành. Tôi từng cầu mong những giây phút hạnh phúc đó kéo dài vô tận, nhưng thực tế thì quá ngắn ngủi, tôi không hiểu sao mới hôm qua họ còn cười nói, ôm hôn nhau, hôm sau họ đã cãi nhau, chửi nhau đầy vẻ hận thù. Tôi đã mong lớn mau để hỏi bố hỏi mẹ điều này. Bố để mặc tôi khóc một lúc rồi gắt:

- Thôi nín đi, đừng làm bố sốt ruột lên đây.
- Tại sao mẹ bỏ đi? Rồi mẹ ở nhà ai?
- Bố không biết! bố tôi trả lời cụt ngủn và lạnh lùng.
Tôi tưởng mẹ đi mấy ngày rồi trở về như vài lần trước, nhưng bố đã nói:
- Mẹ không bao giờ trở về đâu, bố sẽ gởi con cho người giữ trẻ để bố còn đi làm. Từ ngày mẹ đi, không còn ai để cãi nhau nên thì giờ của bố chỉ để uống rượu bia, hết uống với bạn bè ngoài đường về đến nhà lại uống. Tôi không chui vào tủ quần áo để trốn nữa mà chỉ ngồi ru rú trong phòng coi ti vi một mình.

Bố gởi tôi cho một gia đình Việt nam, sáng trước khi đi làm bố mang tôi đến, chiều về làm ghé vào đón tôi. Bác Kha trai làm việc cùng hãng với bố, bác Kha gái ở nhà trông con, họ có một đứa con gái bằng tuổi tôi tên Linh. Chính ở nơi đây tôi được ăn những bữa cơm ngon lành, được hưởng lây không khí gia đình ấm cúng, hai vợ chồng bác Kha không cãi nhau như bố mẹ tôi nên cái Linh ngạc nhiên khi nghe tôi kể phải trốn vào tủ quần áo.

Vài tháng trôi qua, tôi thực sự yêu thích ngôi nhà êm ấm của bác Kha, nhưng một đôi lần bố không đón tôi đúng hẹn, bác Kha trai đã về đến nhà ăn xong bữa cơm chiều mà bố vẫn chưa đến, tôi đã thấy khi bác Kha trai về, nhà vui vẻ, rộn ràng hẳn lên, khi ấy Linh quên tôi, nó nhảy nhót lên lòng bố, kể chuyện nọ kia, bác Kha gái vừa dọn cơm vừa nói chuyện vói chồng. Tôi như người thừa, bị bỏ rơi, cảm thấy tủi thân và ganh tị với Linh, chỉ mong mau chóng rời khỏi đây, dù chỉ là về nhà với bố ăn một cái bánh mì nguội kẹp hotdog và uống một ly sữa là xong bữa ăn chiều thường lệ.
Bố thường xuyên đón tôi trễ, tôi càng ngày càng mặc cảm, tủi thân với gia đình bác Kha, mỗi buổi chiều tôi đều ngó ra cửa sổ mong đợi bóng dáng bố đang từ ngoài sân bước vào, tôi vui khi thấy bố, tôi thất vọng khi bóng chiều ngả màu tối mà bố chưa đến. Thế là tôi lỉnh vào phòng trong vờ coi tivi để khỏi trông thấy cảnh Linh đang hưởng hạnh phúc bên bố mẹ nó.

Bác Kha gái hay nói với tôi:
- Bố cháu có bồ rồi, bố quên đón cháu rồi.
Tôi đã nhìn bác Kha với vẻ tức giận, bố có bồ chỉ là một ý nghĩ bố đang gần gũi một người nào đó, chứ tôi chẳng hiểu “bồ” là gì cả. Tôi không muốn tin điều bác Kha nói là sự thật.

Tôi hay khóc thút thít mỗi khi bố đón tôi trễ, đó là một sự phản đối, sự trách móc duy nhất tôi có thể làm, vì nếu tôi nói lên một điều gì đó sẽ bị cắt ngang ngay bằng lời gắt gỏng của bố, cho đến khi ăn xong bữa tối với bố ai về phòng nấy tôi lại khóc tiếp trong đống chăn gối quấn quanh tôi và ngủ thiếp đi.

Dù nhà bác Kha vẫn có những bữa cơm trưa ngon lành, vẫn là cảnh gia đình ấm cúng, nhưng tôi biết những cảnh đó không thuộc về tôi, tôi vẫn chỉ là đứa trẻ đứng bên ngoài, tôi càng ngày càng ganh ghét với Linh, tôi không thích đến nhà bác Kha nữa, dù ở nhà tôi cũng có gì vui đâu!

Một chiều đi làm về, bố sửa soạn quần áo của bố và tôi vào hai cái valy. Tôi lẩn quẩn bên chân bố và luôn miệng hỏi:

- Chúng ta sẽ đi xa hở bố?
- Ừ, chúng ta sẽ về Texas thăm bà nội và cô Nga.
Tôi ngạc nhiên lẫn tò mò:

- Con không biết là mình có bà nội và cô Nga, con tưởng rằng trên cõi đời này nhà mình chỉ có bố, mẹ và con.
Bố tôi cười buồn:

- Ai cũng có họ hàng gần xa chứ, con có cả ông bà ngoại, nhưng họ đã từ bỏ mẹ con, nên họ chẳng bao giờ biết đến con đâu, còn bên nội con có bà nội và cô Nga, nhưng bố ít khi về thăm họ. Thôi, mai bố sẽ đưa con về.

Đêm ấy tôi đã ngủ vói một giấc mơ thật đẹp, hai bố con tôi về một vùng đất xa xôi nào đó bên Texas, tôi sẽ có bà nội có cô Nga, mọi người sẽ sống gần nhau chắc là vui lắm. Dù tôi đã mơ thế, nhưng lần đầu gặp bà nội và cô Nga tôi vẫn rụt rè xa lạ. Tôi luôn nắm lấy áo bố hay bàn tay bố trong khi bà và cô quấn quýt hỏi han bố đủ thứ, rồi bà và cô đều khóc, không biết họ hờn trách hay sung sướng khi gặp bố? Xong bà nội ôm tôi vào lòng, bà ngắm nghía, vuốt ve từng lọn tóc, từng bàn tay tôi, bà bảo tôi con gái mà giống cha cao ráo. Bà hôn lên má tôi, tôi cảm nhận được tình thương bà dành cho tôi, cả cô Nga cũng thế, cô trìu mến chăm sóc tôi, nên tôi bớt thấy xa lạ và quen dần với họ.

Hai ngày sau, tôi thấy bố sắp quần áo vào vali, tôi lo âu hỏi:
- Chúng ta lại về chốn cũ hở bố?
- Chỉ mình bố về thôi, con ở lại đây.
Tôi càng lo sợ hơn, tôi nói mà sắp khóc:
- Bố đừng đi, con muốn ở với bố.
- Bà nội và cô Nga thương con, con đừng sợ.
Bố khuyên tôi thế.
- Nhưng con không muốn xa bố. Tại sao chúng ta không sống như thế này mãi? - Bố phải về đi làm để có tiền nuôi con chứ.
Bà nội tôi nước mắt ràn rụa cầm lấy tay bố tôi:
- Con của con mới 6 tuổi còn bé bỏng, nó đã không có mẹ chỉ còn cha thôi, hãy vì nó mà ở lại, công việc lao động của con ở đâu mà chẳng có, mấy năm nay mẹ cũng không được gần con, đừng đi đâu nữa.
Cô Nga cũng khóc theo và nói:
- Anh hãy ở lại đây, mẹ và em sẽ đỡ đần anh để cùng lo cho cháu.
Nhưng những giọt nước mắt chẳng làm bố tôi thay đổi. Mới 2 ngày ở với bà và cô, dù tôi đang cảm thấy thân thương, nhưng bố vẫn là người gần tôi nhất. Tôi đã quen thuộc với bố từng lúc vui buồn, những lần giận dữ, từng câu nói giọng cười, từng bữa ăn ngon, từng ngày bị bỏ đói. Tôi vui khi ở với bà nội, cô Nga, nhưng tôi vẫn không muốn xa bố, hình như tình máu mủ ruột thịt làm tôi hiểu bố là người thân nhất, là nơi tôi cần nương tựa nhất. Tôi ôm chầm lấy bố gào lên:

- Con không cho bố đi! Con không cho bố đi!
Bố hất mạnh tay tôi ra, tôi ngã lăn quay trên nền nhà. Bố thương hại đỡ tôi dậy, giọng dịu lại:
- Rồi bố sẽ về thăm con, bố hứa sẽ về thăm con.
Tôi nghẹn ngào hỏi:
- Bao giờ bố về?
Bố nhìn lên tờ lịch trên tường:

- Bây giờ là tháng Mười, hai tháng nữa bố sẽ về, vào ngày Christmas, con chịu không? Tôi đã xoè tất cả những ngón tay của mình ra và hỏi:

- Hai tháng là bao nhiêu ngày? Có lâu không?
- Là 60 ngày, mau lắm con. Bố sẽ mang về một cây Christmas để trang hoàng cho con xem, con thích cây Christmas lắm mà.

Mỗi mùa Giáng Sinh đã qua tôi đều say mê thích thú khi được ngắm những cây thông trang hoàng rực rỡ trong những cửa tiệm hay trên đường phố, đôi mắt trẻ thơ của tôi đã mở to ra như muốn mang tất cả những hình ảnh lung linh huyền diệu đó vào trong tâm hồn. Lúc một vài tuổi thì tôi không biết, nhưng từ khi 4-5 tuổi, tôi chưa bao giờ có một cây Giánh Sinh trong nhà khi mùa lễ đến. Tôi vừa chùi nước mắt vừa nói:
- Bố nhớ nhé, rồi chúng ta sẽ có một cây Christmas, con sẽ phụ bố để treo đèn. Bố ơi, có phải là đêm Giáng Sinh, ông già Noen sẽ chui từ ống khói để vào nhà và cho quà trẻ con, để dưới gốc cây thông không?

- Có đấy, nhưng bây giờ con phải ngoan để cho bố đi.
Tôi lại chùi nước mắt lần nữa để cho bố vui lòng, vì lời hứa hẹn trở về của bố vào mùa lễ Giáng Sinh với cây thông xinh đẹp.
- Vâng, bố xem này, con không khóc nữa đâu.
Vậy mà chỉ mười phút sau, khi bố vừa xách vali đi ra cửa, tôi bỗng cảm thấy hụt hẫng và sợ hãi trở lại, tôi chạy theo bố, nước mắt lại rơi ra:
- Bố ơi !
- Vào nhà với bà nội đi. Bố tôi gắt.
- 60 ngày nữa bố về nhé?
- Ừ, bố hứa rồi mà.
Tôi vẫn không muốn rời bố:
- Nhưng….nhưng….nếu bố quên, làm sao con nhắc bố được? Bố cho con số điện thoại của bố đi…..
Bố tôi bực mình đặt vali xuống đất, rút túi xé một mảnh giấy trắng nhỏ bằng bàn tay, viết vội vài con số rồi đưa cho tôi:
- Số điện thoại đây, thôi để bố đi.

Tôi nắm chặt tờ giấy như nắm chặt một báu vật, làm như tờ giấy mất thì tôi mất luôn cả bố. Bà nội đã ôm tôi, cả hai bà cháu đều khóc.
Tối hôm ấy tôi hỏi bà nội: Bây giờ bố về đến nhà chưa? Bà nói rồi, thế là tôi len lén vào phòng, đóng cửa lại. Cầm phone lên tôi bấm đủ các số bố đã ghi trên mảnh giấy, với lòng rạo rực được nghe thấy bố nói, nhưng không ai trả lời, cõi lòng mơ hồ thất vọng, tôi nghĩ là bố đang trên đường trở về nhà hay bố đang ngủ nên không biết là tôi đã gọi.

Ngày mỗi ngày tôi đều lén vào phòng gọi phone cho bố, nhưng chẳng lần nào được gặp bố, tôi xấu hổ, sợ bà nội và vợ chồng cô Nga đọc thấy nỗi lòng mong đợi của tôi. Tôi là đứa trẻ mỏng manh, yếu đuối, không đủ kiên nhẫn chờ đợi 60 ngày sau bố sẽ trở về.


Ngày nào tôi cũng hỏi bà nội còn bao nhiêu ngày nữa là Christmas, hình ảnh bố về với cây thông làm tôi náo nức. Cho đến ngày cuối cùng thì cõi lòng tôi tan nát như một cái ly thủy tinh vừa bị đánh rơi trên nền gạch. Bố không về như đã hứa, chỉ có cây thông của vợ chồng cô Nga, cây thông to đẹp, được trang hoàng đủ màu sắc nhưng vẫn không làm tôi vui, tôi cảm thấy bị tổn thương, bị bỏ rơi. Tôi vẫn muốn liên lạc được với bố, để nghe bố nói hay giải thích tại sao, miễn là tôi vẫn cảm thấy bố đang ở bên cạnh tôi. Tôi sợ mình đã không biết cách gọi phone, cuối cùng tôi đưa mảnh giấy ra nhờ bà nội và vợ chồng cô Nga gọi giùm, vẫn biệt tăm biệt tích, không biết bố ở đâu!

Bà nội thở dài:
- Cháu ơi, chắc bố cháu bận làm việc đấy. Thôi đừng gọi nữa, không Christmas này thì Christmas sau bố sẽ về.

Lòng tôi đã bớt náo nức chờ mong vì mùa sau xa xôi quá, 60 ngày qua tôi đã chờ đợi biết bao lâu! Tôi cũng không xoè cả hai bàn tay ra để đếm nữa, dù trong lòng vẫn hi vọng vào lời ước đoán của bà, nhưng mảnh giấy mà bố tôi xé vội để ghi số điện thoại, tôi vẫn giữ kỹ, vẫn tin đó là nhịp cầu duy nhất để nối liền tôi với bố, để tôi có thể gặp bố.

Chẳng phải chỉ mình tôi mong bố về mà bà nội và cô Nga cũng mong. Nhưng đứa con hư của bà nội chẳng bao giờ trở về, mấy năm trời biệt tăm biệt tích, bà nội mới nhận được tin bố từ một người khác, họ báo tin bố tôi đã chết vì trúng gió, họ chỉ nói đơn giản thế. Năm ấy tôi mới 10 tuổi, về sau tôi càng lớn càng biết nhiều về bố do bà nội và cô Nga kể lạ :
bố là con trai nên bà nội rất cưng chiều, bố chẳng lo học hành, chỉ rong chơi cho tới lớn, rượu chè, cờ bạc và bồ bịch với đủ hạng người. Bố ăn ở với một cô gái dân chơi bụi đời, bà nội ngăn cản không được, đành chịu thua số mệnh. Bố mang người yêu đi sống ở một phương trời khác và từ đó chẳng hề liên lạc với bà nội cho tới ngày mang tôi về.

Tôi quả là một đứa trẻ bất hạnh khi có cả cha lẫn mẹ đều hư hỏng, nhưng tôi may mắn có bà nội và vợ chồng cô Nga. Tôi đã xé nát mảnh giấy năm xưa có ghi số điện thoại của bố, mảnh giấy tôi đã giữ kỹ suốt 4 năm trời. Đó chỉ là một sự lừa dối khủng khiếp, những con số đó không có thật, do bố bịa đặt ra, những lời hứa hẹn ngon ngọt chỉ để làm xiêu
lòng một đứa trẻ lên 6, để bố được thoải mái ra đi, sống theo con đường của mình.
Theo lời chỉ dạy của bà nội, của vợ chồng cô Nga, tôi đã chăm chỉ học hành. Tôi nhận thấy đây là mái ấm gia đình của tôi, vợ chồng cô Nga đã liên tiếp có 2 đứa con, dù chúng cách tuổi tôi khá xa, nhưng chúng tôi vẫn thương yêu gắn bó nhau như chị em ruột. Mỗi khi rảnh tôi hay ôm bà nội, thủ thỉ:
- Bà ơi, sau này cháu sẽ đi làm nuôi bà, cháu sẽ làm ra nhiều tiền để cho bà sung sướng.

Bà nội vuốt đầu tôi, âu yếm:
- Bà chỉ mong mỗi một điều được thấy cháu ăn học nên người, không hư hỏng như bố cháu, thì chết bà cũng vui.

Bà đã đạt được ước nguyện đó và còn chứng kiến ngày tôi lên xe hoa với một người chồng hiền lành tử tế, anh đến với tôi bằng tình yêu và được cả gia đình tôi hài lòng tin tưởng. Bà nội tôi từ trần khi con tôi vừa một tuổi, trên gương mặt bà giây phút cuối còn hiện lên vẻ thanh thản mãn nguyện.
++++++++++++++

Cây thông tươi xanh được trang hoàng thật đẹp, những đèn đủ màu sắc, những sợi dây kim tuyến lấp lánh, và những tấm thiệp hớn hở treo đầy cành. Vợ chồng tôi đều thích chưng cây thông tươi vào mỗi mùa lễ Giáng Sinh, như mang cả thiên nhiên vào căn nhà ấm cúng khi ngoài trời gió lạnh đầy. Có lẽ đây là cây Christmas mà thuở lên 6 tôi đã mong mỏi đợi chờ nơi bố, thì bây giờ tôi mang niềm vui và hạnh phúc đó cho con tôi, những gì mà khi xưa tôi không có, tôi đều bù đắp cho con nhiều lên, con tôi đâu hiểu rằng nó đang sống dùm tôi một quãng đời tuổi thơ mơ ước khát khao.

Đêm Chúa Giáng Sinh, hai vợ chồng và con tôi quây quần bên gốc cây thông để mở những gói quà xinh đẹp. Tôi đọc thấy trong mắt con tôi cả một khoảng trời xanh ngây thơ và hạnh phúc. Lòng tôi rạt rào niềm vui, niềm hãnh diện, nhưng tôi vẫn không bao giờ quên quá khứ của tôi, không phải để oán trách bố mẹ, mà để thương cho những cảnh ngộ trẻ thơ như tôi. Có biết bao đứa trẻ đã bị ghẻ lạnh, bị bỏ rơi trong những ngày lễ tết cuối năm đầy màu sắc tươi vui và nhộn nhịp này!!\

Khi treo những cánh thiệp mang đầy lời cầu chúc, lời ước nguyện tốt lành trên cành cây Christmas, tôi đã nghĩ đến chúng.

Nguyển Thi Thanh Dương

TRỞ VỀ

Saturday, November 28, 2009


Vũ Khanh - Trúc Đào - Anh biết em đi chẳng trở về

Friday, November 27, 2009


Cố Thiếu Úy Trần Văn Quí – 321

Lời gìới thiệu:
“Hưyết lệ tâm thư” Cố Thiếu Úy Trần văn Qúi một SQ trẻ, sau
khi ra Trường Thủ Đức chuyển về Kumtum trong chức vụ Trung đội Trưởng
thuộc ĐĐ2 ĐPQ . Anh đã làm hết nhiệm vụ, trong trách nhiệm được giao phó, luôn chịu
khó, tìm hiểu học hỏi kinh nghiệm của những người lính gìa để sớm thích hợp với tình
trạng đối đầu với quân địch. Phải cẩn thận từng gang tấc, từng bước đi ; lúc tiến, thoái hợp tình hợp lý trông trước trông sau. Vì lê, chiến trường không kể cấp lớn, nhỏ; cái chết
sẽ đến bất chợt .. chung cho mọi người. Qua “Huyết lệ tâm thư” của Cố Thiếu úy Qúi gửi về gia đình, tôi cũng từng sống chết với anh em trong đơn vị, xin cúi đầu khấn nguyện vong linh người chiến sĩ trẻ, chưa vợ con, và rất hào hùng trong cuộc chiến được sống mãi trong lòng Dân tộc ! Không quên anh !!

Thế trận nghiệt ngã, ta và địch
Giành nhau từng tấc đất, ngọn đồi
bom, đạn luôn xé nát không gian
máu chảy, thịt rơi , xác người ngổn ngang!
Tình đồng đội cao cả trên hết,
Mẹ Việt Nam là máu là xương
Vì trách nhiệm, Danh Dự , Tổ Quốc
Anh ôm choàng nén hết vào lòng!

HuyVân
=========================
Hoang Hoa
Anh tôi là cựu SVSQ trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Anh đã hy sinh tại Kontum ngày 6 tháng 2 năm 1974. Kỷ vật còn lại là tấm thẻ bài, vài tấm hình và một bức thư dài chưa kịp gửi, vì suốt thời gian hành quân không thể gửi thư về nhà được, kể cả kỳ tiếp tế vì máy bay có đáp xuống được đâu mà chuyển thư.
.
Anh viết "... trên đỉnh đồi 949m nhìn về thành phố Kontum thấy nhớ nhà làm sao ấy, ở đây mỗi ngày chỉ viết 1 trang vừa làm nhật ký vừa làm thư, và cũng là lúc đang suy tư về gia đình đó! Bây giờ chỉ có cách chờ ngày về dưỡng quân mới bỏ thư được, chắc sau gần 1 tháng trời bặt tin bặt tức ở nhà cũng trông thư con lắm, nhưng vì chiến cuộc con chẳng biết làm sao hơn, nếu thư liên lạc thường xuyên không được thì sau ngày hành quân con sẽ gửi về nhà một lá thư dài thế này để bù lại những ngày gửi thư lẻ tẻ... ".
.
Bức thư đó đã được tìm thấy trong túi áo của anh. Quanh xác anh nằm vương vãi 6 đôi dép râu, tay anh còn chốt lựu đạn. Một viên đạn xuyên sọ và xuyên đùi đã cướp đi mạng sống của anh khi tuổi đời chưa đầy 21. Suối Non Nước và đồi Tân Cảnh đã ghi lại dấu chân sau cùng của cố Thiếu Úy Trần Văn Quí.
.
Anh đã hy sinh cho non sông, xứng đáng là trai nước Việt hào hùng, đem mồ hôi pha máu hồng viết thành sử xanh.
.
Thơ Nhớ Anh
Kontum, 30-11-73
.
Kính thưa Ba Má!
Con vừa nhận được 1 lá thư ở nhà đề ngày 21-11-73, chứ không nhận được lá thư 18-11-73 và con hồi âm liền đây!Hiện giờ con đang hành quân trong 1 khu rừng rất rậm ở vùng Con-Sơm_luh cách thành phố Kontum khoảng 10km đường chim bay, con nhận được thư trong kỳ tiếp tế hôm qua 29-11-73, mấy hôm nay Trung đội con đang đóng chốt nghỉ chân trên 1 ngọn đồi cao 949m, con giữ nhiệm vụ Trung đội trưởng, chỉ huy trực tiếp 1 Trung đội người kinh với trách nhiệm chiếm giữ ngọn đồi này và an ninh những vùng xung quanh.
.
Thưa Ba Má, từ hôm ở tiểu khu Kontum chơi gặp Trung sĩ Châu nhờ đưa thư tay về nhà đến nay đã hơn nửa tháng, và kể từ đó con ở miết trong rừng đến nay chưa nhìn thấy mặt trời cũng như nhà cửa làng mạc gì cả, xung quanh mình toàn là cây cối chằn chịt, hố sâu, suối vắng, và những thành núi thẳng đứng phải bám leo lên...
.
Con đến Kontum ngày 5-11-73 và ở phố chơi đến 13-11-73 con ra trình diện Đại đội. Ngay hôm đó con nắm Trung đội trưởng Trung đội 3 Đại đội 2, và chỉ có 3 tiếng đồng hồ sau, Đại đội 2 có lệnh giải tán để bổ sung binh sĩ qua 3 Đại đội còn lại của Tiểu đoàn 252, còn cán bộ của Đại đội 2 đi theo bộ chỉ huy nhẹ.
.
Sáng ngày 14-11-73, Tiểu đoàn con làm lễ xuất quân, ở bộ chỉ huy chiến thuật bên sông Đáp-La cách thành phố Kontum khoảng vài chục cây số, buổi lễ vừa xong có 1 đoàn trực thăng khoảng 10 chiếc xuống chở Tiểu đoàn con vào vị trí hành quân, con theo Bộ chỉ huy nhẹ đi chuyến máy bay sau cùng, với ba lô, súng, đạn và lương thực đầy đủ, con ngồi lên trực thăng thòng 2 cẳng ra và chĩa súng xuống đất vì trong máy bay người ta ngồi chật cứng rồi.
.
Từ Bộ chỉ huy chiến thuật đến vị trí hành quân khoảng 15km đường chim bay, nếu đi bộ thì suốt ngày mới tới, bãi đáp ở đây là 1 ngọn đồi đã được dọn cây trống trãi, xung quanh gài toàn mìn và lựu đạn, chỉ có 2 con đường mòn rất nhỏ từ đó di chuyển ra xung quanh, khi đến bãi đáp, máy bay không đáp hẳn xuống mà cứ lơ lửng cách mặt đất khoảng 1,5km và con phải nhảy xuống nhưng không sao cả, chỉ xiểng niểng vì sức gió của cánh quạt.
.
Xuống máy bay rồi con theo Bộ chỉ huy nhẹ, đi theo đường mòn cặp theo triền dốc xuống núi, đường mòn ở vùng này toàn là lên dốc, xuống dốc hoặc lội dọc theo những con suối ngập cỡ đầu gối, và bây giờ con cũng như mấy ông Hạ sĩ quan trong Đại đội phải tự lo cơm nước, đào hầm, canh gác v.v… giống như binh sĩ vậy, vì lúc này cán bộ không có lính trong tay.
.
Sau khi đổ quân con di chuyển liên miên, không ngày nào được đóng quân cả, chỉ có buổi trưa dừng quân lại 1 vài giờ, cơm nước, nghỉ ngơi rồi lại bắt đầu di chuyển, đến chiều tìm những ngọn đồi cao, ở đó dừng quân để ăn cơm chiều và lo đào hầm hố phòng thủ, xong rồi căng poncho sửa soạn chỗ ngủ.
.
Trong cuộc hành quân này con quen với ông Trung sĩ Chinh năm nay 40 tuổi, ông hành quân ở vùng Kontum gần 20 năm nay, lúc trước ông làm Trung đội phó Trung đội, nhưng vì Đại đội bị giải tán binh sĩ, nên con đi chung với ông. Ông ta nấu cơm và nước cho con ăn chung, cũng như hầm hố, lều chỏng đều chung nhau cả, ông có nhà ở chợ Kontum và bà nhà cũng buôn bán tại đó.
.
Những ngày đầu đi hành quân con bị trợt té liên miên vì trời mưa tầm tả cả tuần lễ, con phải bám theo những nhánh cây leo lên đồi, nhất là đi dưới suối dễ bị té nhất vì nước chảy rất xiết và có nhiều tảng đá trơn lởm chởm; Trong hơn 1 tuần lễ đầu, ngày cũng như đêm, quần áo đồ đạc của con đều ướt sủng vì rừng này âm u quá, không có ánh nắng, mà dưới suối lại có rất nhiều con vắt, con này giống như con đĩa nhưng nhỏ bằng cây đinh 5 phân thôi, con vắt này cắn rất độc, ai lội qua suối cũng bị nó leo lên chân, bò lên mình, lên cổ để hút máu, nó có thể chui xuyên qua vớ để hút máu chân, có khi chui vô giày rất nhiều, mà đang lúc di chuyển dưới suối với trang bị nặng nề đâu ai còn để ý đến việc gỡ những con vắt, nên khi dừng quân nhiều người cởi giày ra thấy lưng một giày máu và vớ cũng ướt đẫm máu vì những vết cắn của con vắt, con cũng bị vắt cắn khá nhiều, nhưng nhìn thấy là bắt ngay, con này rất là dai và trơn nên tay ướt cũng khó bắt, vì cứ lo bắt vắt nên con vấp mấy tảng đá té như điên, về đêm trời cũng vẫn mưa, con và bác Chinh bứt lá cây lót xuống đất nằm nghỉ mệt chứ không sao ngủ được vì đồ đạc, mền, khăn, cái gì cũng ướt, ở đây là xứ muỗi sốt rét nhưng không ai mang mùng cả, con cũng vậy, nếu có đem mùng theo cũng không mang nổi và cũng không có chỗ để, vì ba lô của ai cũng có 10 ngày gạo và đồ đạc, súng đạn, hơn nữa xài mùng bất tiện lúc bị đột kích.
.
Binh chủng Địa phương quân thì hầu hết chỗ nào cũng sướng, nhưng ở Kontum thì khác hẳn, không phải đóng đồn hay giữ cầu, hoặc phè phỡn ở thôn ấp như Bình Dương chẳng hạn, hoặc Địa phương quân ở Vùng 4, mỗi lần hành quân là vào nhà dân nhậu nhẹt ăn uống.
.
Địa phương quân ở Kontum chỉ được mỗi cái là khỏi lo vấn đề bị bắn sẻ vì ở đây toàn cây cối và dã thú chứ không 1 bóng người, quanh năm suốt tháng chỉ sống với núi rừng, chỉ có thể quay về xum họp với gia đình trong đêm trường thanh vắng, nhưng cũng chưa hẳn hưởng 1 giấc chiêm bao trọn vẹn vì còn phập phồng lo sợ cho chính bản thân mình và các binh sĩ thuộc hạ, mình phải gánh nặng trách nhiệm trên vai.
.
Có lẽ số con phải khổ vì con đã tự ý chọn Kontum nên không than van với ai được, nhưng đối với gia đình con phải nói hết những sự thật phủ phàng cũng như những diễn tiến mà chính con gặp phải để Ba Má khỏi bận tâm, hoang mang vì con.
.
Đời sống ở đây nói đúng ra là nó gian nan hơn quân trường gấp bội. Trong cuộc hành quân cả Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn phó, ông nào cũng phải mang ba lô, lương thực và súng đạn, vì ở đây mỗi người đều tự lo cho mình cả, hành quân trong rừng 10 ngày tiếp tế 1 lần và mỗi cuộc hành quân từ 1 tháng trở lên, tệ hại nhất là vấn đề ăn uống, mỗi ngày chỉ ăn được 1 ca gạo, có khi với khô, có khi với muối, vì đồ ăn phải tự túc , có gởi tiền, tiếp liệu mới mua, còn gạo mỗi lần tiếp tế 10 ca, 1 tháng 3 lần và trừ lương 3.000 đồng 1 tháng, hành quân như vậy muốn ăn thêm nhiều cơm cũng không được, vì sức người chỉ mang được 10 ca gạo với các đồ trang bị khác.
.
Lúc đầu mang gạo nặng quá, leo núi không nổi, con cho tụi nó bớt, đến gần 1 tuần sau con ăn hết sạch, không còn gì để ăn nữa, vì trong rừng này không có cái gì ăn được cả, may nhờ bác Chinh còn gạo chút đỉnh, ổng phải chia cho con nên 1 ngày mỗi người chỉ ăn được 1 chén cháo với muối hột để chờ ngày tiếp tế, lần đầu tiên ăn muối không quen nên tay chân bủn rủn, leo lên 1 ngọn đồi phải nghỉ hàng chục lần!
.
Kontum là nơi cuối cùng, không còn đâu hơn nữa, mặc dầu tình hình đã yên đến 9-10 phần, ở đây ngoại trừ lính người Thượng ra, thì lính người Kinh toàn là những tên năm cha bảy chú, những tù giết người vừa ở quân lao ra, tên nào tên nấy đều mặt rằn dữ tợn; còn con, không hiểu ma quỷ dẫn đường thế nào mà ra đây đề bị đày ngang xương, lãng xẹt; con nghe tụi lính kể lại nỗi khổ trong quân lao, con thấy còn sướng hơn đi hành quân ở đây nữa, vì ở đó ăn uống đầy đủ, đi đứng thong thả, không làm gì hết, thân nhân có thể thăm bất cứ lúc nào và muốn tắm rửa ngày mấy lần cũng được.
.
Bây giờ con mới thấy ở quân trường là sướng, vì tất cả những gì đều có cán bộ lo cả, lúc đó cứ tưởng đi học bãi là cực, những ngọn đồi ở Thủ Đức cao nhất chỉ có 30m thôi, nhưng đồi ở đây thấp nhất cũng 900m hoặc 1000m trở lên, và bây giờ mình là 1 cán bộ thì ngược hẳn lại, tự mình phải lo cho mình và cho các binh sĩ.
.
Và lúc còn đi học lại là những lúc sung sướng nhất đời, vì còn sum họp với gia đình, còn hưởng được không khí ấm cúng với nệm ấm chăn êm, và ăn uống như vậu là đầy đủ quá, ấy thế mà còn chê khô, mắm nữa chớ!
.
Nhưng bây giờ thui thủi 1 mình ở nơi lam sơn chướng khí với biết bao nhiêu tử thần đang chờ chực, nhiều khi đóng quân gần con suối mát trong xanh, nhưng không dám xuống tắm vì sợ ăn B40 vì chiến trường ở đây chỉ tiêu thụ B40 và lựu đạn thôi! Hơn nữa tắm suối thế nào cũng bị vắt cắn có khi muỗi cắn còn nhiều hơn vắt nữa, cả 2 loài con nào cắn cũng bị sốt rét cả, chứng bệnh sốt rét này nguy hiểm vô cùng và người mắc bệnh này dễ chết nhất!
.
Trường hợp bệnh nhẹ thì không chết nhưng khống có thuốc gì chữa khỏi cả, suốt đời cứ nóng nóng lạnh lạnh mãi, có lần con xuống suối múc lên 1 lon guigoz nước thật trong nhưng chưa uống vội, con đun sôi lên thấy những bọt nước đỏ ngầu như máu!
.
Con phải vớt bỏ những bọt nước và để lắng những cặn đỏ mới sớt nước ra quậy với thuốc lọc nước rồi mới uống, ngoài ra con rất cẩn thận bôi thuốc muỗi khi ngủ nên tuy ăn uống cực khổ con vẫn khỏe mạnh như thường, nước suối ở đây rất độc, nó thấm qua những lớp lá cây và phân thú rừng, và nhiều nơi thây người chết nhiều quá chôn không kịp để nằm ngổn ngang trên mặt đất cũng bị nước thấm qua, bây giờ tình hình rất yên nhưng thỉnh thoảng đi ngang qua những đống xương người và những cái sọ ngổn ngang và mấy con quạ trên cây kêu kên những tiếng rợn người.
.
Thắm thoát 1 tuần lễ ăn muối đã qua, đến ngày 20-11-73 có 1 đoàn trực thăng đến tiếp tế, các binh sĩ được tiếp tế gạo và khô, mắm, còn cán bộ từ Hạ sĩ quan trở lên chỉ tiếp tế gạo thôi, còn đồ ăn phải tự túc, tức là có gởi tiền mặt cho tiếp liệu mới có. Như vậy con chỉ có gạo thôi, còn ông Chinh có đồ ăn ở gia đình gởi lên nên con ăn đồ ăn chung với nhau.
.
Trong kỳ tiếp tế này, trực thăng có đổ quân thêm 1 số nữa, trong đó có thằng bạn cùng Đại đội con ở Thủ Đức, từ hôm trình diện Tiểu khu Kontum nó bệnh rất nặng không đi đâu được, khai bệnh cũng không được luôn, nên kỳ tiếp tế nó bốc đi, đến nơi nó không nhảy xuống được mà máy bay cũng không đáp hẳn xuống đất, tới chừng máy bay cất lên cao khoảng 3m, nó bị đạp văng xuống đất, cả ba-lô, súng đạn cũng văng theo luôn!
.
Ông Tiểu đoàn phó trông thấy cũng lắc đầu, cứ tưởng nó bị xóc cây nhọn vào người rồi! xuống tới nơi nó nằm liệt giường không đi đâu được, nhưng cũng may nó chỉ bị cây xướt rách áo thôi! Sau đó ông Tiểu đoàn trưởng ra lệnh có đám lính Thượng chặt sát gốc những gốc cây nhọn lởm chởm trong bãi đáp, nhưng vì bãi đáp rộng quá nên chặt suốt ngày cũng chẳng được bao nhiêu.
.
Từ ngày lãnh tiếp tế, bộ chỉ huy nhẹ đuợc đóng quân tại chỗ 5 ngày liền, và bắt đầu từ đó trời cũng hết mưa, 1 trận mưa sái mùa do 1 cơn bão đưa đến! và bây giờ con mới đi theo đường mòn, theo mấy ông người Thượng xuống 1 hố sâu dưới chân đồi, cách chỗ đóng quân 300m, ở đó có 1 con suối rất trong, lúc đó con có thể tắm rửa, bứt lá tàu bay và lá cây dến ở 2 bên bờ suối về nấu canh, có khi theo mấy ổng bứt măng le về ăn, và lấy nước uống cũng ở đây, măng le là những cây tre non chưa trổ lá, nó là những mục măng rất già, cao khoảng 4-8m, người ta chặt những cây đó xuống rồi bẻ những phần mềm trên ngọn ăn được, đôi khi mấy ổng cũng ném lựu đạn bắt cá, nhưng suối nhỏ quá, cũng không được bao nhiêu, mỗi quả lựu đạn chỉ được chừng 1 kg cá nhỏ thôi, ở đây tụi Thượng kiếm ăn rất giỏi, tụi nó làm bẫy bắt chuột, đào hang bắt heo đất, tụi nó ăn thịt không chừa con nào hết, nào cóc, nhái, rắn, rết tụi nó làm nốt, và thịt rừng mỗi ngày có ăn đều đều, bắt được con nào tụi nó cũng thui rồi mới làm thịt.
.
Thắm thoát cũng 5 ngày trôi qua, 5 ngày trời sống như chính phủ lưu vong, Đại đội con toàn là cán bộ chứ không có lính, lúc này đồ đạc cũng tương đối khô ráo nên đêm đến có thể thả hồn về nhà ẳm Út Lộc chút đỉnh, nhưng ác nghiệt thay, ban đêm là cả lớp sương mù dày đặc, phủ kín núi rừng, và khí lạnh của núi rất khủng khiếp, không có mền nào đắp ấm được, còn tấm ra trắng của con chỉ để lót nằm chứ không thể đắp được, vì đắp cũng vẫn lạnh mà còn mất yếu tố ngụy trang ban đêm, nên con đắp chung mền với ông Chinh, nhưng cái mền nỉ của ông chỉ còn một nửa, vì nếu để nguyên ông mang không nổi, lần đầu tiên hành quân trong rừng nên con không biết nhu cầu cần những gì để chuẩn bị trước.
.
Sáng ngày 25-11-73, Bộ chỉ huy nhẹ con di chuyển đến Bộ chỉ huy nặng Tiểu đoàn, Bộ chỉ huy nặng đóng trên 1 ngọn đồi cao 1.250m, cách chỗ con ở khoảng 5km, sáng sớm cơm nước xong là chuẩn bị đi liền, vì ông Tiểu đoàn phó đi sai phương giác nên tất cả đều bị lạc giữa rừng, và phải lên đồi xuống suối liên miên, mãi đến trưa mới tới chân ngọn đồi 1250m, ở đó nghỉ ngơi 1 chút rồi bắt đầu leo lên, ngọn đồi trông không cao bao nhiêu, nhưng leo mãi cũng không tới đâu cả, đến chiều tối mới lên tới đỉnh đồi, tới nơi con gặp 2 thằng bạn cùng khóa, được ở Đại đội 1 và bây giờ Đại đội này di chuyển sang đồi khác nhường chỗ cho Bộ chỉ huy nhẹ ở; sau 1 ngày lội núi, mấy thằng thượng ở Bộ chỉ huy nhẹ có bắn được 1 con kỳ đà bằng bắp vế, bọn chúng thui lên rồi xào nấu theo kiểu Thượng, con có ăn vài miếng nhưng tanh quá ăn ớn cổ, tụi con đang ăn uống ngon lành bỗng nghe những tiếng réo của đạn B40 ở dưới thung lũng phía Bắc, kế tiếp là những tiếng nổ long trời, rồi hàng loạt đạn M16, trong vòng 5 phút lựu đạn và M79 nổ như mưa bấc, chiếc máy PRC/25 ở Bộ chỉ huy Tiểu đoàn báo về là Trung đội của 2 thằng bạn lúc nãy bị phục kích tan hàng tất cả, mấy thằng lính Thượng lúc đó quen đường mòn, chạy rút đâu mất hết, còn thằng truyền tin người Thượng sợ quá không liên lạc được gì, nó chỉ báo cho biết là hiện giờ chỉ còn 2 Chuẩn úy và 1 truyền tin đang lạc dưới hố, và máy lại ngưng hẳn liên lạc, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn gọi pháo binh bắn xối xả về hướng súng nổ định thí quân, tới sáng mai lại yên hẳn và có máy liên lạc về được, Tiểu đoàn cho máy bay L19 dẫn đường tụi nó về, đến nơi chỉ còn có 5 người, 2 thằng lính bị thương bàn tay bị nghi là hủy hoại thân thể, 2 thằng Chuẩn úy bị nhốt, còn thằng truyền tin bị đánh 20 roi và bị phạt mang 2 trái lựu đạn xuống suối kích đêm về tội không liên lạc thường xuyên về bộ chỉ huy. Sau ngày tiếp tế có 1 tuần mà lương thực gần hết rồi, gạo còn rất ít mà cá khô thì hết sạch, con xin được 2 nắm gạo của mấy đứa quen và phải đi xin từng muổng muối để ăn với cháo trắng.
.
Đến ngày 27 -11-1973, có lệnh tất cả các cán bộ của Đại đội 2 phải trở về ngọn đồi cũ của Bộ chỉ huy nhẹ gần bãi đáp trực thăng, để đón nhận toán lính mới, vừa bổ sung cho Đại đội 2, toán lính này gồm 51 người, bị bệnh hết 3 chỉ còn 48 thôi, tụi nó phải lội bộ từ Bộ chỉ huy chiến thuật đến bãi đáp suốt 1 ngày trời, đến chiều tụi nó tới nơi, con và ông Chinh nhận được 13 binh sĩ, sau đó bị lấy bớt 5 người để bổ sung qua Đại đội Trinh sát, chỉ còn 8 người kể cả con và ông Chinh Trung đội phó chỉ được 10 người, trong đó có 1 ông Trung sĩ nhất rất già.
.
Ông nào ông nấy cỡ tuổi 30 trở lên chứ không có nhỏ và tất cả đều là lính ở quân lao mới ra trường nên mặt mày thằng nào cũng có sọc rằn cả ! sau khi nắm Trung đội 3 con được chỉ định dẫn lính lên ngọn đồi ở gần đồi ban chỉ huy đại đội ngay buổi tối hôm đó.Trên đồi này là 1 cái chốt đã có hố phòng thủ sẳn, đỉnh đồi rất là lớn và cây cối âm u, con chỉ có 1 bản đồ Kontum, 1 địa bàn và 1 thằng truyền tin mang máy PRC/25 đi theo, ở đây con liên lạc thường xuyên về Ban chỉ huy Đại đội, vì nếu cúp liên lạc 15 phút là Đại đội sẽ kêu pháo binh phá hủy ngọn đồi này ngay, còn trường hợp bị hư máy phải tìm cách di chuyển chỗ khác, chứ mất liên lạc là coi như đã bị VC chiếm!
.
Sau 1 đêm canh phòng cẩn thận trên đồi, sáng sớm phải báo máy về Đại đội là tình hình trong đêm vô sự, và sự yên ổn kéo dài đến trưa ngày 28/11/1973, có một loạt súng cối 61 ly pháo vào sân bay, vừa nghe nổ là con lấy địa bàn ra đo hướng nổ và ước lượng khoảng cách từ đồi mình đến chỗ phát ra tiếng nổ rồi báo máy về Đại đội như các Trung đội khác, mà Đại đội đã chỉ định để tìm ra tọa độ của nơi bị pháo kích. Sau đó có lệnh ở Đại đội đưa xuống chỉ định Trung đội 3 để lại tại chốt 1 nửa quân số, còn 1 nửa đi theo Trung đội trưởng và truyền tin về ban chỉ huy Đại đội phối hợp với toán lính Thượng đi lục soát quanh bãi đáp và cách bãi đáp 500 m, xung quanh bãi đáp không có đường mòn gì cả, cây cối chằng chịt phủ không thấy mặt trời, con để toán lính Thượng đi đầu, đến đâu chúng chặt cây đến đó, lúc này con phải sử dụng địa bàn đo phương giác và ước lượng khoảng cách để đi, chứ không nhìn thấy sân bay nên tụi Thượng cũng không biết đi hướng nào, đi khoảng 100 m phải báo máy về ban chỉ huy tọa độ điểm đứng lúc đó, ở bộ chỉ huy theo dõi con đi phương giác rất đúng, ước lượng khoảng cách bước đôi bị sai, vì phải xuống lồi lõm nên con phải đi thêm nửa giờ nữa để trừ hao khoảng cách đường chim bay, mãi đến 5 giờ chiều con mới trở về đến chân đồi, con cho lính nghỉ chân 1 chút rồi bắt đầu leo lên, lúc này sương xuống lành lạnh và sa mù bắt đầu phủ xuống, toán lính người Kinh cũng nóng trở về Đại đội nên dành đi trước toán lính người Thượng, lên gần tới đỉnh đồi con con có cảm giác lạ lắm, khu đồi này sao âm u quá, con nghĩ thầm chắc mình bị đi lạc nhưng tại sao máy của bộ chỉ huy bảo cứ quẹo lên ngọn đồi bên tay trái là tới? Tự nhiên con bị rùng mình mấy cái vì đám sương lạnh, con chỉ kịp niệm 1 câu : "Nam mô cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm bạch y quan thế âm bồ tát" vừa dứt là 1 loạt đạn M16 của toán lính đi đầu quét thẳng tới trước, loạt đạn vừa dứt con nghe tiếng la của người bị thương ở góc đồi đằng trước "Trời ơi tôi bị gãy cẳng", tiếp theo là hàng loạt đạn nổ túi bụi, nhánh cây gãy răng rắc.
.
Lúc đó con đang bối rối, không biết phải làm gì, chỉ cầm bản đồ, địa bàn đứng chết trân, chừng quay lại thấy lính của mình đều xuống hầm núp cả, chỉ còn có mỗi thằng lính Thượng đang run sợ, nó chui qua bụi mây định bỏ chạy, con ngoắc nó lại bảo xuống hầm ngay, mày chạy mày chết, ông già nằm gần đó cũng la theo : "Ông Chuẩn úy còn đứng đây mà mày chạy đi đâu ?", lúc đó nó cuống quá vừa chạy vừa lết xuống hầm; và con đang ngồi sau 1 gò mối, xoay lại thấy thằng truyền tin ngồi dưới hầm ngoắc tay, con chạy lại nhảy xuống hầm với thằng truyền tin, lúc đó con mới hồi tỉnh trở lại.
.
Con gọi máy về Đại đội, máy báo cho biết là bị ngộ nhận, lúc đó tự nhiên tiếng súng im hẳn, mấy cây M79 bên này bắt đầu nạp đạn, con ngóc đầu dậy, thấy đằng góc đồi phía trước có 1 tảng đá lớn, biết ngay là chốt của Trung đội 3, con chạy lên kêu "Bác Chinh ơi, bác Chinh".
.
Lúc đó mấy ổng đều rút chốt lựu đạn cầm sẳn trên tay, ông Chinh nghe tiếng kêu quen quen, nhận ra con ngay, ông la lên : "Ối giời, ông Chuẩn úy của mình kia mà !", chừng đó mấy ổng mới gắn lựu đạn trở lại, hai bên chạy đến bàn cãi nhoi trời đất, chỉ còn ông bị thương nằm dưới đất, ông này bị 1 viên M16 xuyên qua 2 bắp đùi, nhưng không trúng xương, viên đạn trổ ra 1 lỗ bằng miệng ly, lúc đầu thấy máu nhiều quá, con quýnh quáng cả lên, nhưng ông bị thương còn tỉnh lắm, ổng bảo con cởi dùm đôi giày, rồi cởi quần trận ra, lấy vớ băng lại cầm máu, làm xong tay chân con dính toàn là máu, những cục máu đọng lại trong ống quần giống như những cục huyết heo rất gớm, lát sau có y tá đến và khiêng võng ra bãi đáp tải thương.
.
Sau đó Trung đội có lệnh di chuyển đổi chỗ cho Trung đội 2 ở ngọn đồi nhỏ sát góc bãi đáp, đến bộ chỉ huy Đại đội, con lấy bản đồ ra so lại bản đồ của Đại đội, thấy mình đã đi lố quá 500m, con hỏi ông Đại đội trưởng : như vậy tôi có bị phạt không? Ổng bảo đừng lo sợ gì hết, không có gì đâu, chỉ buồn mỗi cái là bị lạc có 500m mà đã gặp việc không may, trong khi ổng đi lạc cả tuần lễ mà vẫn bình yên, ổng dặn con hễ ai có hỏi vụ này cứ nói là Trung đội mình đi lục soát bị địch phục kích, như vậy người bị thương mới lãnh tiền được, rồi ổng làm báo cáo và gọi máy về Tiểu đoàn, tối hôm đó con dẫn Trung đội ra góc sân bay, thấy con còn hoang mang về cuộc chạm súng hồi chiều, thằng Chuẩn úy Song còn gọi với theo, bảo con đừng sợ gì hết, chuyện rủi ro, không ai quở trách đâu.
.
Lúc đó con cũng yên tâm phần nào, suốt đêm đó nằm ở chốt con trằn trọc mãi không ngủ được, vừa chợp mắt là thấy trước mắt mình toàn là máu đỏ ối ! Và cứ như vậy giật mình mãi, ông Chinh nằm kế bên bảo là con mới thấy máu lần đầu chứ gặp nhiều rồi cũng quen, về đêm trong rừng rất vắng lặng, thỉnh thoảng có vài tiếng kêu rền đất của thú rừng, con vẫn thức nằm bất động, đêm đó con suy nghĩ lung lắm ! Tư tưởng liên miên hết chuyện này đến chuyện nọ !
.
Nghĩ cũng tội nghiệp cho thằng Thượng hồi chiều vì quá sợ hãi mà chui vào bụi gai mây như con chuột ; mà không sợ hãi sao được ! khi đã lâm trận tức là khi tính mạng con người đã gần kề với sự chết chóc thì lúc đó sự sợ hãi của con người đến tột đỉnh ! và phần tâm trí bị tiêu tan đâu mất, thể xác con người lúc đó chỉ còn cử động như một con thú chỉ biết tìm lấy sự sống mà thôi.
.
Nghĩ lại trách nhiệm của mình cũng khá nặng, chỉ sơ xẩy là thiệt hại bao nhiêu người, ở quân trường mình sơ sót điều gì bị la rầy nghe bực bội, nhưng không nguy hại gì cả, còn ngoài đơn vị không ai quở trách mình cả, nhưng trước mũi tên hòn đạn mà sơ hở một chút là lãnh đủ; chiến trường ở miền rừng núi khác hằn với miền đồng bằng, vì cây cối quá rậm nên cách khoảng 50 m người ta không nhìn thấy nhau, mà khi nhìn thấy bóng người thấp thoáng thì đã quá gần, các binh sĩ nổ súng liền chứ không đợi lệnh cấp chỉ huy như những cuộc tấn công, mà hôm đó toán lính ở trên đồi không có máy liên lạc nên mới xảy ra vụ ngộ nhận như vậy.
.
Sáng hôm sau, Đại đội 2 có lệnh di chuyển đến bãi đáp khác, bãi đáp mà lúc trước con đổ quân xuống, ban chỉ huy Đại đội đóng tại bãi đáp, còn mỗi Trung đội đóng chốt trên các ngọn đồi xung quanh, Trung đội con được lên ngọn đồi 949m và đóng tại đó, mỗi ngày ở Đại đội có gọi máy cho biết tọa độ ở vùng hoạt động, con phải để lại trên đồi 2- 3 người, còn lại bao nhiêu dẫn đến điểm họat động lục soát, ở ban chỉ huy Đại đội liên lạc máy thường xuyên để theo dõi cuộc lục soát của mỗi Trung đội.
.
Có nhiều bữa cũng nhận lệnh đi lục soát, nhưng con làm biếng không đi đâu hết, chỉ nằm tại chỗ báo máy về Đại đội những diễn tiến giống như đi thiệt, nhưng ở nhà vẫn sắp đặt địa bàn bản đồ định hướng sẳn sàng, nếu Đại đội có hỏi hiện giờ anh di chuyển đến đâu, và cho biết điểm đứng hiện tại, thì cứ việc coi theo bản đồ mà nói, nếu đường di chuyển có con suối thì báo cáo là đến bờ suối v.v…

.
Ở Đại đội nó nằm một chỗ lật bản đồ điều khiển mình thì ở chốt mình cũng lật bản đồ đóng kịch trở lại.
Ở đồi 949m Trung đội con đóng chốt cho đến ngày về dưỡng quân 10-12-73. Trong thời gian này mỗi ngày phải đi lục soát xung quanh khu đồi một lần, tối đến cho gài lựu đạn xung quanh và canh gác cẩn thận.
.
Việc gài lựu đạn rất nguy hiểm, mấy hôm nay Đại đội con bị thương dài dài vì toàn lính người Kinh mới về đây chưa rành gài lựu đạn, nhiều ông rung tay quá làm bật kíp lựu đạn, nếu bình tĩnh đá văng quả lựu đạn thì không sao, nhưng mấy ổng cuống chân quá, không đá được chỉ còn chờ quả đạn nổ thôi.
.

Lúc đầu mấy ổng đòi canh gác lơ là, có nhiều ông vừa gác vừa ngủ, sáng ra ông Trung đội phó phạt nặng những người đó ! nhưng con cản lại, lần đầu chỉ cảnh cáo thôi, sau đó con tập hợp Trung đội lại, giải thích những công việc lợi hại của đơn vị. Trước nhất con để ông phó nói qua về tình hình quanh khu vực, xong rồi đến lượt con, trước nhất con dùng tình cảm để nói :
.
"Trong Trung đội chúng ta, toàn là người Kinh với nhau cả, khác hẳn với người Thượng, những người chỉ có thể sai khiến bằng bạo lực, còn chúng ta là những người có trình độ hiểu biết cao, tôi không muốn anh em làm việc một cách miễn cưỡng vì một áp lực nào, mà các anh em phải hợp tác với chúng tôi làm việc một cách vui vẻ trong sự ý thức và tinh thần tự giác của anh em, đối với tôi các anh em là những người đã từng trải nhiều kinh nghiệm, còn tôi như người em cần học hỏi nhiều ở anh em, tuy thế nhưng không phải là lý do để các anh em coi thường mệnh lệnh của chúng tôi, tuy tôi mới ra trường nhưng dầu sao tôi cũng đã mang cấp bậc này, như vậy trên vấn đề chỉ huy, chắc chắn tôi phải hơn anh em.
.
Quan niệm của tôi không bao giờ ỷ vào lon lá để áp bức thuộc cấp của mình, tôi đồng ý về tuổi tác tôi kém xa các anh em, nhưng khi làm việc tôi vẫn trở về cương vị của tôi, trên phương diện chỉ huy tôi vẫn là người có quyền hạn đối với các anh em, tôi không muốn anh em bắt buộc tôi phải dùng uy quyền của mình đối với các anh em, nhưng nếu cần tôi vẫn sử dụng đến nó ! Một lần chót, tôi nhắc lại các anh em vấn đề canh gác, anh em canh gác là để bảo vệ mạng sống cho chính mình và bạn bè; nếu anh em lơ là trong việc canh gác, tức là anh em đã coi thường mạng sống của đơn vị … và ngay từ bây giờ hễ tôi hoặc ông phó bắt được người nào bỏ gác hoặc ngủ trong giờ gác tôi sẽ phạt đi kích một đêm, một mình mang 2 quả lựu đạn xuống suối, nếu ông nào không thi hành lệnh phạt của tôi, tôi sẽ báo máy đề nghị về Đại đội, và hình phạt lúc đó không phải nhẹ nhàng như trước đâu ! Và tôi nhắc thêm một điều nữa là vấn đề săn bắn; chúng ta đang lúc hành quân, dĩ nhiên ai cũng đói khát mà thú rừng ở đây lại quá nhiều ! mà lệnh của Tiểu đoàn không cho bắn những con lớn từ mèo rừng đến con mang, những con vật linh thiêng của rừng núi, các Tiểu đoàn khác cũng vậy, tuyệt đối không được bắn những giống này, theo mấy ông Thượng thì ăn thịt những con này rất xui xẻo, có lần Tiểu đoàn bắn chết con mang, ăn nhậu xong là bị tấn công, thiệt hại gần hết !
.
Đó là những ý tưởng dị đoan của dân thiểu số, bây giờ chúng ta xét đến khía cạnh thực tế mà nói, khi ta bắn một phát súng tức nhiên mục tiêu của chúng ta bị lộ và địch sẽ theo hướng súng và tấn công chúng ta. Riêng ở Trung đội này, tôi tuyệt đối cấm các anh em săn bắn bất cứ con gì, từ chim chóc đến thú dữ, vì như vậy là thiệt hại an ninh cho chính chúng ta, và tôi cũng khó trả lời khi Đại đội gọi máy hỏi lý do từng tiếng súng. Qua những điều chúng tôi vừa trình bày, anh em có thắc mắc điều gì cứ việc thẳng thắn phát biểu, nếu ngoài phạm vi hiểu biết của tôi, tôi sẽ nhờ thượng cấp giải quyết."
.
Thưa Ba Ma, ra đơn vị rồi vấn đề nói chuyện trước nhiều người sao khó quá, nhiều binh sĩ già cả nhưng con phải kêu bằng anh em chứ không cách gì hơn được, và nói chuyện với thuộc cấp cũng mệt ở chỗ là phải thận trọng lời nói, chứ không ăn nói tự do bừa bãi như ở quân trường đựơc, vì ở quân trường tụi nó ngang tuổi và ngang cấp bậc nên nói sơ sót cũng không sao! Nhưng ở đơn vị người lính có nể phục cấp chỉ huy hay không là do lời nói đầu vậy!
.
Trong buổi họp Tiểu đoàn, ông Tiểu đoàn phó có nói, các anh em ra trường có muốn làm cho lính nể thì rất khó, còn làm cho lính sợ thì rất dễ, đối với lính Thượng mình nói như nước đổ lá môn, nhưng đối với người Kinh vấn đề cư xử là quan trọng hơn cả! Đối với lính, mình nói phạt là phạt chứ không thể tha được vì nói mà không làm nó sẽ coi thường lời nói mình.
.

Từ hôm nắm Trung đội đến nay con chưa phạt ai hết, mấy ổng cũng vui vẻ lắm, nhiều khi mấy ổng than cực than khổ, nhớ nhà nhớ vợ nhớ con, con cũng đành chịu chứ không biết nói sao hơn được, vì mình cũng chẳng khác gì mấy ổng, mà chẳng lẽ cấp chỉ huy lại than van với lính ! chỉ khi nào rảnh con liên lạc máy với mấy thằng cùng khóa tâm sự chút đỉnh thôi và tụi nó cũng than vãn như điên.
.

Ở trong rừng mãi buồn quá, suốt thời gian hành quân không thể gửi thư về nhà được, kể cả kỳ tiếp tế vì máy bay có đáp xuống được đâu mà chuyển thư, trên đỉnh đồi 949m nhìn về thành phố Kontum thấy nhớ nhà làm sao ấy, ở đây mỗi ngày chỉ viết 1 trang vừa làm nhật ký vừa làm thư, và cũng là lúc đang suy tư về gia đình đó !
Bây giờ chỉ có cách chờ ngày về dưỡng quân mới bỏ thư được, chắc sau gần 1 tháng trời bặt tin bặt tức ở nhà cũng trông thư con lắm, nhưng vì chiến cuộc con chẳng biết làm sao hơn, nếu thư liên lạc thường xuyên không được thì sau ngày hành quân con sẽ gửi về nhà một lá thư dài thế này để bù lại những ngày gửi thư lẻ tẻ.
.
Viết cho chị Hai
.
Chị Ngà !
.
Vừa nhận được thư chị tôi mừng không kể xiết, trong thư có nói là trước 15-11-73 không có dán tem, bởi thế nên tôi không có nhận được.Được biết gia đình đều khỏe mạnh tôi mừng lắm, còn Út đã biết bò rồi à ! "oa... oa" "cóp – hà" giỏi lắm phải không?
.
Út biết ăn cơm chưa, hay còn đóp Guigoz, à Út bây giờ chắc không còn là Út Guigoz nữa nhỉ ! thương Út quá mà không biết sao về ẳm Út được ! Chắc ngày về Út đã biết đi học rồi, lúc đó nó không biết ông lính này đâu ! À còn thằng Trọng có được về phép không và có chịu được nổi cơm quân trường không? Bảo nó ráng học đi, được ở quân trường là sung sướng lắm đấy.
.
Hôm 20-11-73 có tin thị xã Kontum bị pháo kích, nhưng lúc đó tôi đang hành quân trong rừng làm sao biết được, lúc đó chỉ nghe những tiếng hú đề-ba của hỏa tiển 122 ly và khi tới nơi thì VC chạy mất rồi chỉ còn lại 8 cái vỏ hỏa tiễn còn nóng hổi. Ở đây tối nào tôi cũng niệm phật, và có niệm chú Bạch Y nữa, còn vấn đề đi săn ở đây tôi tuyệt đối cấm !
.
Vấn đề ăn uống ở đây rất mắc mỏ, nhưng có khi nào ra phố đâu mà tốn tiền ! còn việc nước nôi ở đây rất phiền toái, tuy nước có thừa, nước rất trong nhưng rất độc, ở những nơi hiểm trở thế này,đòi hỏi con người phải thận trọng đủ thứ, từ miếng ăn, miếng uống đến đường đi nước bước v.v…

.
Nhưng thường thường những lúc khó khăn gian khổ thế này, con người ta không bao giờ chết được, sự chết chỉ đến với con người trong những lúc sung sướng mà thôi !
Thành phố Kontum không giống như Sài gòn hay Trung Chánh, Bà Điểm gì cả, nó chỉ là một thị xã rất nhỏ trong khoảng ô vuông 2km cạnh, một dãy đất nằm dưới thung lũng xung quanh toàn là núi non trùng trùng điệp điệp.
.
Cả thành phố Kontum chỉ có một cái chợ ở giữa, chợ Kontum chỉ bằng chợ Bà Điểm thôi, tại đây chỉ có 3 con đường lớn tráng dầu cỡ như đường Lê Văn Duyệt ở Sài Gòn, ngoài ra toàn là đường nhỏ rải đá hoặc đường mòn thôi, chỉ có lẩn quẩn trong phố là có người kinh còn xung quanh cách chợ khoảng 5 km toàn là những buông sóc người thượng, ra xa tí nữa thì toàn là rừng núi, những dấu vết của kỳ chiến cuộc Kontum kiêu hùng mà thây người nhiều quá, không thể nào mang ra hết được.
.
Ở đây muốn về Pleiku chơi thì rất khó vì phải đi ngang qua đèo Chu-Pao ở đó có trạm kiểm soát rất gắt, và Chu-Pao cũng là một địa danh nổi tiếng hồi chiến cuộc, và bây giờ mới hiểu thấm thía chữ kiêu hùng của Kontum đó. Ở Pleiku lên Kontum thì rất dễ chỉ cần đi xe đò 2 giờ là tới nơi không có ai xét hỏi gì hết vì Kontum là chỗ cuối cùng của binh chủng địa phương.
.

Còn khí hậu ở tại thành phố Kontum tuy rất lạnh, nhưng dù sao cũng còn có xe cộ, và đông người nên cái lạnh còn chịu được, chứ ở trong rừng khí lạnh rất quái đản, lúc giữa trưa mà chướng khí rợn người như đêm Noel vậy ! còn về đêm chỉ trùm poncho lại ngủ thôi ít khi ra căn lều lắm ! Hiện giờ tôi hết tiền mà lương tháng 11 chưa có, chờ đến tháng 12 lãnh dồn.
.
Ở đây tiền và đồ ăn cái gì cũng cần thiết nhưng ở Sài Gòn làm sao gởi ra được, tiền còn có thể gởi măn-đa chứ đồ ăn không bao giờ gởi ra được ! Thôi thì ở nhà đừng gởi gì ra hết vì tôi chỉ được về dưỡng quân có 10 ngày rồi lại vào rừng tiếp nên cũng không cần tiền làm gì, có thể 2 ngày phép về Kontum ăn cơm ở nhà ông Trung sĩ Chinh được rồi.
.
Ở đây chỉ hy vọng về nhà được trong kỳ thi tú tài 2, 01-06-74, còn vấn đề hình chụp chắc không có, chị lục lại trong tủ chỗ cuốn album xem có tấm phim nào không?
À, chị đã được miễn học Chí Linh rồi, cũng đáng mừng lắm đấy, vì chỉ có ở nhà là sướng nhất mà thôi!Còn việc Lan đến nhà thăm 10-11-73 sao trễ quá nhỉ, phải sớm hơn 1 tuần là gặp tôi rồi; ối giời ! cô ta cũng chịu khó quá đấy. Ở Bình Dương mà lội mãi tới Sài Gòn tìm nhà để tặng quà, nghĩ cũng kiên nhẫn thiệt ! Ở quân trường cô ta thăm rất nhiều lần, nhưng toàn là lúc tôi về phép cả, chỉ gặp tôi một lần lúc gần mãn khóa thôi.
.
Đối với gia đình Lan, tôi chỉ mến bác Mười và một người anh vì họ rất tử tế, còn đối với cô ta tôi chỉ coi như bạn, tôi chỉ gọi cô ta bằng tên chứ không bao giờ gọi bằng em như thằng Nguyên, vì có lần ở quân trường cô ta có gởi thư tỏ tình với thằng Nguyên rồi!
.
À, Dương Ngọc Nga ở 80 Âu Dương Lân cũng có gởi thư thăm tôi nữa hả ? Cô này tôi chỉ quen biết sơ sơ ở khu tiếp tân thôi mà cũng gởi thư từ lắm nhỉ ! Lúc ở Bình Dương tôi hay lại nhà cô Vân con của ông lái đò chơi, còn cô Nga thì làm chung chỗ với Vân, và cô ta giới thiệu Nga với tôi, chuyện đó tôi bỏ quên đến chừng sắp mãn khóa, 2 cô có vào thăm, lúc đầu tôi cũng không nhớ Nga là ai, chừng Vân nhắc lại tôi mới nhớ, lúc đó cô ta có gởi thư qua lại với tôi vài lần, tôi chỉ biết cô ta mồ côi cha, ở nhà bán tiệm vàng, và học tới lớp 3 thì nghỉ học đi làm, cô ta nói chuyện không được văn vẽ nhưng có vẽ thành thật lắm ! lúc đầu tôi không để ý nhưng sau tôi thấy cô ta dễ mến lắm đó!
.
Mấy cô gởi thư có gì quan trọng không? Còn tôi lúc này nãn quá không muốn gởi thư cho ai hết cả, chị viết thư trả lời giùm tôi nhé! Tôi chẳng biết tán tỉnh thế nào, nhưng vì mang tên là lính sữa Babilắc nên mấy cô mới làm quen đó!
.
Ở đây mấy ông binh lính hầu hết đều biết ăn nhậu, cờ bạc, chơi bời, nhưng riêng tôi, không bao giờ có chuyện đó, ăn nhậu đôi khi còn có chút đỉnh nhưng chơi bời tôi tuyệt đối không bao giờ có, vì tôi ghê tởm những chứng bệnh này đến tận xương tủy lận, ở Trung đội có nhiều ông mắc bệnh lậu rất thảm thương, nhưng lúc về phép vẫn chứng nào tật nấy, mà mình cũng không cách nào ngăn cản họ được!
.
Đến ngày 10-11-72, lại có chuyến tiếp tế từ Hạ sĩ quan trở lên chỉ tiếp tế gạo thôi chứ không có đồ ăn, các binh lính có đồ ăn nhưng rất ít, mỗi người chỉ có 1 miếng thịt heo chỉ vài trăm gram thôi, nói là thịt heo chứ thật ra chỉ là da và mỡ thôi, tôi xin được 1 miếng mỡ heo bằng lóng tay mà ăn thấy ngon không kể xiết vì cả tháng trời chưa khi nào được ăn một miếng đồ tươi như vậy.
.
Sau đó có lệnh di chuyển đến vị trí khác, 1 ngọn đồi cách đó khoảng 5km đường chim bay, nhưng đi đường rừng phải mất chừng 1 ngày trời mới tới. Lúc đầu đi bằng phương giác rất chính xác nhưng phải băng rừng mệt quá, tôi phải cho lính đi theo đường mòn, đi đường mòn thấy khỏe thiệt, vì không phải chặt cây cối gì hết, nhưng đi loanh quanh rất xa, mà trên bản đồ lại không có đường mòn!
.
Như vậy đi đến đâu chỉ báo cáo cảnh vật xung quanh về Đại đội, để Đại đội ấn định vị trí đóng quân, đến một lúc Trung đội tôi di chuyển đến một ngọn đồi trọc, trên đó có để 3 cây M72 mới toanh, tôi báo cáo về Đại đội là đã đến 1 ngọn đồi và những gì có trên đó, thì thằng điều khiển máy ở Đại đội lại ấm ớ làm sao, nó không biết phải vị trí đóng quân ở đó không, nó bảo cứ tiếp tục đi theo đường mòn, đến nửa giờ sau ông Đại đội trưởng đến điều khiển máy, tôi nói là Trung đội tôi đã qua khỏi ngọn đồi đó hơn nửa giờ rồi, ông ta hoảng hồn nói cho trở lại ngọn đồi đó ngay vì đã đi quá mấy cây số rồi!
.
Lúc đó vừa mệt vừa sùng nhưng cấp trên sơ suất như vậy mình biết khiếu nại thế nào! Thôi đành phải trở về vậy!, Khi đến nơi rồi ai nấy đều mệt rã rượi, cũng chỉ vì một câu nói sơ suất ở trên mà cấp dưới phải chịu hậu quả như vậy!
.
Sống trong rừng rú sao cuộc sống tẻ nhạt quá ! Sự lạnh lẽo ở chốn hoang thiêng làm cho con người ta già đi thì phải, thật vậy! có lần tôi nhìn vào gương thấy mình đã thay đổi hẳn hồi đó, mặt mày già dặn, râu tóc xồm xoàm như những người đứng tuổi vậy!
.
Hành quân cả tháng trời nhưng thật ra tôi chỉ được tắm rửa có mấy lần! mặc dầu có biết bao nước trong suối mát, nhưng từ đỉnh núi đóng quân đến con suối dưới chân núi xa khoảng 1 km đường dốc đứng mà phải đi bằng 2 chân lẫn 2 tay mới mong khỏi bị lăn xuống núi, đã vậy có phải là yên ổn đâu, ở suối là nơi dễ bị phục kích nhất. Trong cuộc hành quân này Tiểu đoàn tôi bị chết cũng khá nhiều chỉ vì xuống suối múc nước mà thôi.
.
Còn vấn đề lương bổng ở đây không thể làm đơn mượn trước được, tôi phải đành chịu cực 2 tháng đầu vậy, và cuối tháng 12 lãnh lương 2 tháng dồn cũng khoảng hơn 20 ngàn vì còn ăn lương Trung sĩ khoảng 13 ngàn 1tháng, nhưng trừ tiền cơm cũng khá nhiều, hơn nữa Địa phương quân không có tiền phụ cấp đắc đỏ hay tiền hành quân gì hết vì nó không có quyền lợi như các Sư đoàn, và kỳ lương này tôi cần mua sắm nhiều thứ nên không thể gởi măn-đa về được đâu, thôi để chờ kỳ lãnh lắp-ben vậy!
.

Hiện giờ tôi vẫn mạnh khỏe và vẫn vui vẻ trên đường hành quân, tuy gian lao nhưng không có gì nguy hiểm cả, tình hình Kontum lúc này cũng lắng dịu rồi ! như vậy phần tôi coi như tạm yên, ước mong một ngày nào đó sẽ được về sum họp với gia đình như thường đêm trong giấc ngủ !
.
Đến đây tôi tạm dừng bút, chúc Ba Má và cả gia đình được bình yên ! còn Út lúc nào cũng mạnh giỏi và nghịch ngợm nhiều thật nhiều cho mau lớn, thương Út nhiều lắm đó !
Sau cùng tôi có lời chúc gia đình Bác Ba cũng như những người thân thích với gia đình mình được nhiều may mắn. Nhờ chị chuyển lời chúc Lan, Nga, Tuấn v.v… những người bạn thân tuy xa nhau nhưng tâm hồn vẫn còn sum họp với kẻ ly hương…



Con cùa Ba Má.


-- SỐNG
Sống tủi làm chi đứng chật trời?
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai?
Sống làm nô lệ cho người khiến?
Sống chịu ngu si để chúng cười?
Sống tưởng công danh, không tưởng nước.
Sống lo phú quý chẳng lo đời,
Sống mà như thế đừng nên sống!
Sống tủi làm chi đứng chật trời?
CHẾT
.
"Chết mà vì nước, chết vì dân,
Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
Chết buổi Đông Chu, hồn thất quốc,
Chết như Tây Hán lúc tam phân.
Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
Chết mà vì nước, chết vì dân."
(Sào Nam Phan Bội Châu)



trở về