Friday, June 19, 2009

MỪNG NGÀY QUÂN LỰC
MỪNG NGÀY CỦA CHA

Lời mở đầu:
.
Một vài ngày nữa Ngày lễ của Cha lại trở về. Một văn hào đã viết .Nơi chốn bình an nhất của đứa trẻ trên thế giới này là căn phòng của cha nó!.Tình cha nhiều người cho rằng không đằm thắm bằng tình mẹ, có lẽ chỉ vì người cha ít chịu diễn tả mà thôi. Thật ra tình cha như nền móng của căn nhà, giá trị của nó là phần nằm sâu dưới mặt đất. Nhiều người còn ví, tình cha như miếng cam thảo, phải ngậm lâu, mới ra chất ngọt.
.
Riêng người Việt ly hương chúng ta, ngày Của Cha (Father.s Day) thường rơi đúng vào ngày kỷ niệm Quân Lực VNCH 19 tháng 6 mỗi năm. Nhớ lại hình ảnh những người trai thời chinh chiến, vừa làm người lính, ôm súng gìn giữ quê hương, vừa phải lo cho gia đình, chu toàn bổn phận làm cha, nên người cha trong đất nước khói lửa, hầu như phải hy sinh tình nhà nhiều. Nhưng không vì thế mà tình cha không đậm đà. Nhân ngày Quân Lực và Ngày Của cha, Hải Lê xin đóng góp một câu chuyện nhỏ kể theo Angie Kucer, nhằm vinh danh những người cha bất hạnh, hy sinh nhiều, nhưng nhận...chẳng có bao nhiêu! Nhất là những người cha đã nằm xuống để vợ con, đồng bào mình được sống mãi mãi.
.
BỐ TÔI, NGƯỜI LÍNH VNCH.
Tôi có một người cha già, lại tàn tật, cụt một chân. Khi tôi sinh ra đời, bố tôi cũng đã gần 50 tuổi. Trong một thời gian dài, bố tôi đóng vai trò của một người mẹ, tuy di chuyển khó khăn, nhưng ông lo lắng cho tôi không còn thiếu một thứ gì. Bạn bè thường gọi là .Ông nội trợ.và khen, là đàn ông mà bố tôi có đầy đủ các đức tính của người phụ nữ Á đông công, dung, ngôn, hạnh, nuôi con khéo léo không ai bằng.
.
Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi mà là bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi. Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đưá trẻ thiếu cả tình cha lẫn mẹ.
.
Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi là một người lính VNCH, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 1 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. .
Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh cuả mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.
.
Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục ông tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe, cách xa nhà tôi 4 dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim...vv...
.
Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, chỉ sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình. Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ “I Love You Tammy!” Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ trìu mến “Bố thương con nhiều”. Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui. Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu.
.
Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất. Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi, và cấm ông ấy không được viết, vẽ bậy bạ trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít, lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lầu đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa. Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bung chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, hụt hẫng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui , dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi có về làm lành với bố, và những giòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục.
.
Những năm còn lại trong trường trung học, tôi vẫn đều đều có những chiếc khăn đặc biệt ấy. Và từ đó, tôi giữ lại, chứa trong một cái hộp riêng, giấu kín. Chưa hết, khi vào đại học, tôi phải rời xa bố, tôi nghĩ thông điệp xưa kia của bố sẽ phải chấm dứt. Nhưng tôi và bạn bè rất vui sướng vì những cử chỉ biểu lộ tình cảm của bố tôi vẫn tiếp tục qua hình thức khác. Ở cấp đại học, dĩ nhiên không còn thấy bố tôi đứng chờ khi tan học, vì thế, tôi hay gọi điện thoại cho ông, chi phí điện thoại khá cao, nhưng không sao, tôi chỉ muốn nghe được giọng nói của ông mà thôi. Suốt năm học đầu tiên, chúng tôi quen lối nói chuyện như thế và sau đó kéo dài một năm. Thường thì sau khi tôi nói lời tạm biệt, câu cuối cùng không bao giờ thiếu:
-Này Tammy.
Tôi thường trả lời
-Dạ, gì thế bố?
-Bố thương con nhiều.
-Con cũng thế. I love you!
.
Hình như bố tôi nhận ra chi phí mắc mỏ cho những cuộc điện đàm, từ đó tôi bắt đầu nhận thư mỗi thứ sáu. Ban thường trực của trường đều biết ai là người thường gửi lá thư này, mặc dù địa chỉ hồi âm luôn luôn ghi là KBC 1678. (Sau này tôi khám phá ra, KBC viết tắt là Khu Bưu Chính, địa chỉ trong quân đội ngày trước nơi bố tôi phục vụ. Còn số 1678 dễ quá, là số nhà tôi hiện tại.)
.
Nhiều lúc bên ngoài bì thư, địa chỉ được viết bằng bút chì và tiếp theo đó là những lá thư có hình con mèo và con chó của gia đình tôi, có dán những hình ảnh phác họa rất lạ, như cái nhà trên cái cột, hình ngôi tháp nhiều từng, hình cây cầu nhiều nhịp in trên sóng nước. Hè năm đó, bố tôi và tôi du lịch về Việt Nam, lúc đó tôi mới biết đó là Chùa Một Cột, Chùa Thiên Mụ, Cầu Trường Tiền v.v
.
Sau chuyến du lịch ấy, tôi tìm hiểu về Việt Nam nhiều hơn, nhất là cuộc chiến tranh trước 75, tôi bắt đầu thấy thương bố nhiều, ông là người lính bại trận, nhưng quân lực ấy đã chiến dấu dũng cảm cho tự do, cho hạnh phúc của người dân miền nam trong suốt 20 năm. Nếu không bị đồng minh bán đứng, cuộc chiến chưa chắc ai thắng ai. Thư đến và được phát mỗi ngày sau buổi ăn trưa. Tôi thường đi nhận thư và mang theo mỗi khi đi uống cà phê. Tôi nhận thấy chẳng cần phải giấu giếm làm gì, bởi bạn cùng phòng tôi là những đứa bạn hồi còn trung học, chúng nó biết rất rõ về những chiếc bao giấy, khăn ăn. Và rồi trở thành như một tập tục, tôi đọc thư, còn bì thư và hình vẽ thì được chuyền khắp bạn bè, thư từ bố tôi thành niềm vui của cả phòng. Trong năm cuối cùng đại học, bố tôi bị căn bịnh ung thư hành hạ. Mỗi khi tôi không nhận được thư vào ngày thứ sáu, tôi biết ông ốm nặng, không thể viết được. Ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng để có thể ngồi trong nhà yên tĩnh nắn nót viết những lá thư. Nếu không kịp cho đợt phát thư vào thứ sáu, thì chỉ sau đó một hai ngày, thế nào rồi thư cũng đến. Bạn bè tôi bình bầu ông là “Người cha thương con nhất trên thế giới này!”
.
Ngày lễ cha, Father’s Day, chúng nó gởi một tấm thiệp phong tặng ông danh hiệu đó và tất cả đều ký tên trên tấm thiệp. Tôi tin rằng ông đã dạy cho tất cả chúng tôi về tình phụ tử, bạn bè tôi bắt đầu nhận những tấm khăn ăn giống như tôi từ gia đình chúng nó, với những lời đã để lại ấn tượng mà sẽ đi theo bạn bè tôi mãi mãi, chưa kể sẽ thôi thúc họ hãy biểu hiện tình thương của họ với con cái sau này. Suốt thời gian đại học, những lá thư và những cú điện thoại như một chu kỳ đều đặn. Ngày ra trường, tôi quyết định chọn công việc làm gần nhà, để được ở bên cạnh bố tôi, vì căn bệnh bố tôi càng ngày càng trầm trọng. Tôi linh cảm rằng thời gian được ở gần bố không còn bao nhiêu lâu nữa.
.
Đó là những giây phút khó khăn, đau khổ nhất cuộc đời mà tôi phải trải qua. Tôi ở bên cạnh bố tôi một vài ngày trong bệnh viện trước khi ông mất. Vài giờ trước khi hấp hối, Ông nắm tay tôi bảo .Bố nhờ con một điều, con về nhà lấy cho bố cái hộp gỗ mà bố để trên đầu tủ, đây là hộp chứa đựng những kỷ niệm đời lính mà bố yêu thương nhất. Bố muốn nhìn nó lại một lần..Tôi lái xe về nhà, và cũng tìm ra ngay chiếc hộp phủ đầy bụi thời gian. Có gì bên trong? Tôi tò mò mở nắp hộp. Mắt tôi bắt đầu cay cay nhòa lệ, khi nhìn thấy những tấm hình của bố tôi còn trẻ, trong những bộ quân phục thật oai phong. Có những tấm cầm súng đằng sau chiến trường còn bốc mùi lửa khói. Lật ra đàng sau, những ngày tháng cũ, 68, 70, 71, 72...với những địa danh xa lạ: An lộc, Bình Long, Đồng Xoài, Khe Sanh....Dưới đáy hộp là căn cước quân nhân, giấy giải ngũ và những tấm huy chương, bộ lon gắn trên cổ áo khi ông mặc những bộ quân phục.
.
Bây giờ thì tôi mới hiểu hết, không còn mặc cảm hình ảnh có ông bố tàn tật chỉ biết lo việc nội trợ”, ngược lại là đàng khác, Bố tôi đã một thời là một người lính chiến oai hùng, đổ máu hy sinh một phần thân thể mình cho một cuộc chiến dầy chính nghĩa, bảo vệ quê hương. Rõ ràng bố tôi chăm sóc tôi, vui vẻ làm những việc của người phụ nữ bao nhiêu năm nay, chỉ vì tình thương con mà thôi. Ông thật là người cha tuyệt vời! Tôi ôm cái hộp, chạy gấp lại bệnh viện, định nói lời xin lỗi với người cha thân yêu của mình, nhưng đã trễ! Người y tá trực cho biết, bố tôi vừa trút hơi thở cuối cùng. Rồi người y tá trao cho tôi chiếc khăn giấy nhà thương, với giòng chữ cuối cùng run rẩy của một người cha dành cho con Tammy, ba thương con nhiều! Vĩnh biệt!Nước mắt tôi trào ra như suối, cầm tấm khăn giấy trong tay áp vào ngực, tấm khăn giấy cuối cùng, mà cả cuộc đời mãi mãi không còn nhận được nữa. Lúc liệm xác, tôi bỏ theo chiếc hộp kỷ niệm đời lính vào hòm cho bố, còn những chiếc khăn giấy tôi sẽ giữ mãi bên cạnh cả cuộc đời tôi. Bây giờ thì những chiếc khăn giấy đã đổi mầu vàng khè, nhưng tình tôi dành cho người bố càng ngày càng thấm thiết, bất diệt, muôn đời không tay đổi.
Happy Father’s Day

Mừng Ngày Của Bố
Mừng Ngày Quân Lực 19/6/2009
.

Thursday, June 18, 2009

BỨC TƯỢNG THƯƠNG TIẾC

Tiếc thương


Tiếc Thương
Mặc cho mưa nắng bão bùng ,
Ngồi lì trên đá anh hùng kiên gan .
Súng anh hạ xuống trên đùi ,
Anh ngồi thư thả ngậm ngùi tiếc thương !
Mắt anh hướng ở trời xa …
Như là tiếc nhớ một thời liệt oanh ?
Anh là đại diện bao người ,
Hy sinh gục ngã tan thành bụi tro .
Ghi ơn giữ nước giữ nhà ,
Người đời tạc tương anh ngồi nghỉ ngơi .
Đến nay thế cuộc đổi dời ,
Tượng anh giật xuống xoá tan một thời !
Dù rằng nơi ấy trống không ,
Người người vẫn nhớ Tượng Người Tiếc Thương !!!

Tuyết-Nga


Bức Tượng Thương Tiếc!
Bao Bất Đồng .

Lời Giới Thiệu:


.
Bao Bất Đồng là bút hiệu cua cố chủ nhiệm Việt Nam Thời Nay Trần Huy Quyền,
Người đã một mình một bút dương oai trấn thủ mục Nói Chuyện Với Đầu Gối trong suốt nhiều năm ròng rã. .
Người đáng được phong tặng danh hiệu Độc Cô Cầu Bại trên chốn trường văn trận bút Việt ngữ Úc châu;
Người đã lừng lững đi vào lịch sư báo chí Việt ngữ hải ngoại với lối văn phong phiếm luận độc nhất vô nhị.
Người đã ngửa mặt nhìn trời cười ha ha rồi phất tay áo, thổi lên không biết bao nhiêu cuồng phong trong lòng độc giả , tạo dựng không biết bao nhiêu hứng khởi bi hùng cho những người từng khoác binh nhung; .
.
Bao Bất Đồng, Người đã dùng chữ nghĩa bừng bừng như lửa cháy, dùng ngôn từ trùng trùng điệp điệp như rừng gươm biển giáo, dùng văn phong như nước chay mây trôi... để dựng lại lá cờ chính nghĩa, để khôi phục lại niềm tin của người Việt tin vào đại cuộc quang phục quê hương, để vinh danh những người đã ngã xuống vì dân vì nước..
.
Bao Bất Đồng, với tâm hồn bát ngát chỉ biết yêu, biết thương, biết xót xa, trong suốt thời gian mấy chục năm trời làm báo, đã dùng ngòi bút xoa dịu không biết bao nhiêu tâm hồn đau khổ, sưởi ấm không biết bao nhiêu tấm lòng cô quạnh, và mang lại hy vọng, tình thương cho không biết bao nhiêu người trong cơn tuyệt vọng... .
.
Qua thực, suốt thời gian mấy chục năm qua, nhiều người Việt hải ngoại đã đọc văn Bao Bất Đồng trong tiếng cười sảng khoái, trong tiếng khóc nghẹn ngào, và cũng có nhiều lúc nhiều người đọc văn ông, vừa cười vừa khóc, vừa lắc đầu, vừa đấm ngực... mà vẫn thấy mình hạnh phúc, vẫn thấy mình tỉnh táo, vẫn thấy mình cao thượng, hào phóng, tâm hồn lồng lộng gió biển... .
.
Bao Bất Đồng, ông quả thực là nhà phù thủy của ngôn ngữ, một nhà báo có tài, một cây phiếm luận tài ba. Nhưng hơn thế, ông còn là một người chồng đôn hậu, một người cha có tình có nghĩa. Nhìn vào cuộc đời dang dở cua ông cùng những tiếng thở dài khi ông phải vật lộn để mưu sinh, để tiếp tục cống hiến tình yêu và niềm tin cho độc giả, chúng tôi mới thấy thật thấm thía, nỗi đau lòng của những độc gia khi nghe tin ông mất, gọi điện thoại tâm sự với chúng tôi qua những lời thổn thức, đầm đìa nước mắt...
.
.Được tin ông vĩnh biệt trần thế, chúng tôi vừa bàng hoàng vừa buồn. Càng buồn hơn khi nghĩ đến bà và các cháu... cô đơn ở lại trần gian này giữa muôn vàn khốn khó... Trong tâm trạng đó, khi nhận được điện thoại của bà quả phụ Trần Huy Quyền trong một chiều lộng gió, cho biết, bà cùng một số anh em bạn hữu của ông và các cháu sẽ tổ chức buổi phát hành bộ CD-Quân Sư với chu đề Thương Tiếc vào ngày 16 tháng 9 tại Melbourne và 23 tháng 9 tại Sydney, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên và kính phục. .
.
Trong sự ngạc nhiên và niềm kính phục đó, chúng tôi trân trọng kính mời qúy độc giả , bớt chút thì giờ đến tham dự buổi phát hành, để trước hết là tỏ lòng thương yêu dành cho một nhà báo có lòng có tình đã quá cố, và sau là để được tìm thấy những gì tốt lành của chính mình dành cho bà qua phụ Trần Huy Quyền cùng các cháu. Cũng trong niềm thương tiếc và kính phục dành cho cố chủ nhiệm Trần Huy Quyền đồng thời là nhà báo Bao Bất Đồng, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng qúy độc gia , trong số báo tuần này, và hai tuần kế tiếp, một số bài viết của ông, với niềm hy vọng, qúy độc gia sẽ tìm lại được phần nào hương vị, hình anh cua nhà báo Bao Bất Đồng, để rồi qua đó, thấy thấp thoáng cả hương vị, hình anh của chính mình... và cả những người thân cua qúy vị... .
.
Đêm Chủ nhật 22 tháng 10 nhằm ngày 25 tháng 11 năm Canh thìn. Trần Huy tôi đang mơ màng trong giấc điệp thì bỗng thấy phương Nam có một bầy chim hạc. Sáng dậy hỏi thầy Mộ Dung Tiên Sinh, thầy bảo đó là mộng " Vân trung bạch hạc " nghĩa là " Hạc trắng bay trong mây". Điềm báo rằng sẽ có khách quí tới hỏi thăm sức khỏe. Quả nhiên , buổi chiều đang ngồi tà tà viết Quân Sử, thì có tiếng gõ cửa nhà. Tưởng ai hóa ra là chú em Biệt Kích 81 họ Trần. .
.
Nếu xưa Trần Huy tôi có máu văn nghệ văn gừng thì chú laị có máu Võ Tòng, máu Lương Sơn Bạc. Gọi là máu Võ Tòng, bởi năm 1969, đang phon phon ngồi mát ăn bát vàng, đang phây phây với giảng đường sách vở thì chú bỗng tung hê, bỗng ném hết để tình nguyện vào lính. Lại là lính Biệt Kích Dù, lính của Liên Đoàn 81, thứ lính chịu chơi, lính một đi không trở lại.
.
Gọi là máu Lương Sơn Bạc, bởi sau ngày 30 tháng 4, trong khi thiên hạ kéo nhau chạy ra biển, thì chú lại theo anh em vào rừng lập chiến khu. Thế nên, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mới ưu ái tặng cho chú một quả 8 năm tù cải tạo. Vừa giáp mặt Biệt Kích đã ngâm sang sảng:
.
"Bất động ngồi trên xa lộ
Trầm tư súng đặt ngang đùi
Chiều buông nắng ngang nửa mặt
Mắt nhìn, sao ánh không vui.".
.
Nghe tới đây, Trần Huy tôi cười ha hả: "Cảm khái - cảm khái... Có phải đó là bốn câu mở đầu của bài thi bất hủ " Bức tượng thương tiếc" nghĩa trang Quân Đội, mà tác giả là ông cựu Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Trần Xuân Dũng?" Biệt Kích gật đầu, vừa nước mắt rưng rưng vừa xuống giọng nghẹn ngào:
.
."Anh là ai hay là tượng
Về từ mọi ngả quê hương
Bình Giã, rừng cao su thẫm
Kontum, đất đỏ nhiều sương..
Bóng anh dân đã từng gặp
Quanh khu rừng núi Bồng Sơn
Dường như chân đèo Phủ cũ
Máu trên vai áo đã sờn..
Quê em ngày còn thơ ấu
Rất nghèo, trên đất Gio Linh
Anh đã nhiều phen chiến đấu
Ra tử nhiều hơn vào sinh..
Nhắc tới tên vùng Quảng Trị
Anh ngồi ánh mắt hiển linh
Rồi Đông Hà, sông Thạch Hãn
Bâng khuâng như nhớ người tình..
Anh là thiên thần mũ đỏ
Ngực còn lấp lánh huy chương
Ôi chao em chưa nhìn rõ
Dường như máu rỉ bên sườn..
Lãng đãng áo anh đổi sắc
Hoa rừng đã trở màu đen
Huy hiệu trên vai nhòa biến.
Mọi quân binh chủng thay phiên..
Anh như Kình Ngư, Ó Biển?
Cánh tay "Sát Cộng" ngang tàng
Anh là Thủy Quân Lục Chiến
Mùa hè đỏ lửa hiên ngang..
Em muốn mời anh ly nước
Rót từ dừa xứ Tam Quan
Đôi môi sao anh mím chặt
Lạnh như đồng đúc khô khan..
Đêm sau em nghe rờn rợn
Mắt anh rực lá Quốc Kỳ
Hãnh diện đền ơn Tổ Quốc
Chiến trường nào anh ra đi ?"
.
Ngâm xong,Trần Biệt Kích luận: "Bức tượng "Thương Tiếc" là một trong những tác phẩm điêu khắc vĩ đại nhất, hoành tráng nhất và linh thiêng nhất của dân tộc Việt. Nó là chân dung đích thực nhất của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống ngoài chiến trường. Nó là biểu tượng hoàn hảo nhất của những người chiến binh đã vì nước mà bỏ mình. Nó là pho thần tượng sống nhất, đẹp nhất, nghệ thuật nhất, ý nghiã nhất, truyền cảm nhất và gần gũi nhất." .Ngưng một giây Biệt Kích kể:
.
"Trước ngày 30 tháng 4. Từ xa xa, nhìn về phía sau lưng, pho tượng coi uy nghi như một đấng thần linh đang tọa tấn nhất kiếm trấn ải trên đỉnh thành cao lồng lộng. Cũng từ xa xa nhìn về phía chính diện, pho tượng lừng lững như một vị thiền sứ đang ngồi trầm tư mặc tưởng giữa khoảng trời đất mêng mông và khi bước lại gần, bất cứ ai cũng sinh lòng kính trọng, cũng thấy có cái cảm giác thân thiết, thân thương, cũng thấy tâm hồn mình cao lớn hơn, cũng thấy con tim mình như mở rộng hơn, và khi ngước đầu lên pho tượng, ta bắt gặp một khuôn mặt kỳ diệu, một khuôn mặt rất người, một khuôn mặt rất bao dung, một khuôn mặt rất nhân hậu, một khuôn mặt rất buồn và bỗng dưng thấy người như đang nhìn ta, đôi mắt như đang vỗ về ta, đôi môi như đang mấp máy nói chuyện với ta.
.
Chiếc nón sắt như đang cử động, chiếc ba lô như đang xoay xoay và đôi tay rắn chắc như đang gõ từng nhịp trên khẩu Ga Rant M1 trên đùi." Trần Huy tôi chắp tay: "A di đà Phật, nghe nói có rất nhiều huyền thoại, có rất nhiều câu chuyện có thật nhưng rất kỳ bí xoay quanh pho tượng lịch sử này."
.
Biệt Kích 81 gật đầu: ."Tác giả pho tượng đó là điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, Đại úy Cục Chiến Tranh Tâm Lý. Ngay từ năm 1965 khi nghĩa trang quân đội Biên Hòa được Trung tướng Đồng văn Khuyên Tổng Cục Trưởng Tiếp Vận đến đặt viên đá đầu tiên, thì ông Thu đã được Bộ Tổng Tham Mưu giao phó công tác xây dựng tượng đài. Nhưng suốt gần một năm vị kiến trúc sư lừng danh mặc dù đã họa hằng trăm bức vẽ mẫu, đã dựng hàng chục mô hình mẫu, đã được giới thiệu đến mấy mươi người mẫu, nhưng ông vẫn chưa chọn được một mẫu như ý. .Cho tới năm 1966, nhân đến thăm nơi đóng quân của tiểu đoàn 3 nhảy dù đóng tại Ngã Tư Bẩy Hiền, mà Tiểu Đoàn Trưởng lúc ấy là Thiếu Tá Trần Quốc Lịch, Tiểu Đoàn Phó là nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, Trưởng Ban Ba là Thiếu Tá Lê Hồng và Y Sĩ trưởng là Trung úy Trang Châu.
.
Khi vào uống nước ở câu lạc bộ, ông bỗng thấy một Hạ Sĩ trẻ, dáng dấp rắn chắc to cao, mắt sáng, mày rậm, chỉ có nét mặt và ánh mắt sao mà buồn rười rượi. .Anh Hạ Sĩ ngồi một mình trên chiếc bàn trống, nhưng trước mặt lại có những hai tô phở, hai chai bia, hai ly đá và hai điếu thuốc đang nghi ngút khói, một điếu trên tay và một điếu để trên đĩa đối diện." Trần Huy tôi ngạc nhiên hỏi:
.
.- "Một người mà cái gì cũng có hai thứ???" Biệt Kích gật đầu: "Phải, mới đầu Đại úy Thu tưởng bàn có hai người mà trong đó một đang đi tiểu. Nhưng không, mãi cũng chẳng thấy ai, đã thế anh Hạ Sĩ cứ vài phút lại nâng ly lên miệng nói: "Uống đi mày.... Uống đi... tiểu đoàn sắp tập họp rồi". Thoạt đầu ông Thu tưởng anh say xỉn nên nói nhăng nói cuội, nhưng nửa tiếng sau, thấy đương sự vẫn tỉnh táo và lời mời "uống đi... làm ly nữa đi... một chai nữa đi" vẫn được nói một cách rất tự nhiên, rất thân tình, cứ như là đang nhậu mù trời với một người đối diện. .
.
Chịu không nổi cái cảnh kỳ quặc ấy, Đại úy Thu mới sang bàn anh Hạ Sĩ để thắc mắc. Anh vừa sụt sùi vừa trả lời: "Trong đơn vị, tôi có một người bạn chí cốt, người bạn ruột, chúng tôi đi đâu cũng có nhau, ra trận cũng bắn chung nhau một khẩu đại liên, về hậu phương cùng nhậu chung một bàn, thế nhưng năm ngoái nó đã bỏ tôi, bỏ anh em, để ngã xuống ở mặt trận Bình Định, nó chết rồi mà tôi vẫn còn thương, còn nhớ nó lắm, nên ăn gì, uống gì, hay nhậu nhẹt ở đâu, để không tủi vong linh của người quá cố, tôi đều không quên kêu thêm cho nó một phần." .
.
Cảm khái trước tình bạn thiêng liêng ấy và xúc động trước nét mặt đầy sự thương tiếc buồn rầu đăm đăm ấy, Kiến Trúc Sư Nguyễn Thanh Thu đã chọn anh Hạ Sĩ làm người mẫu cho bức tượng.
.
.Ba tháng sau, khi tác phẩm đã hoàn thành phần căn bản, anh Hạ Sĩ được trả về đơn vị, nhưng liền sau đó trong một trận đánh, anh đã anh dũng hy sinh. Cuối năm đó tượng đài được khánh thành. Trong buổi lễ, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đã yêu cầu các quan khách, các Tướng Tá và các binh sĩ hiện diện đứng lên để có một phút mặc niệm người Hạ Sĩ nhất tiểu đoàn 3 nhảy dù. .
.
Lại ngưng một giây như để nén sự xúc động, Biệt Kích kể tiếp: "Bắt đầu từ đấy, pho tượng Thương Tiếc có những huyền thoại, những huyền thoại có thật, những huyền thoại được kể lại không phải là một người mà là hàng trăm hàng ngàn người như :
.
Vào giữa một đêm trăng mờ năm 1968, một chiếc xe đò chở đầy hành khách từ miền Trung về, khi tới xa lộ còn cách nghĩa trang quân đội 500 thước, viên tài xế bị ngủ gật nên thắng gấp, khiến bánh xe trợt một đoạn dài, rồi lật nghiêng. Trong lúc mọi người đang khóc than, đang tìm cách đập vỡ cửa kiếng chui ra, thì chợt có tiếng nói vang lên: .
.
" Xin đồng bào bình tĩnh... xin đồng bào bình tĩnh..., ai đâu ở đó... đã có lính nhảy dù đến cứu bồ". .Tiếng nói vừa dứt thì xe được đẩy lại dựng đứng như cũ, anh tài xế cùng lơ xe và khách vừa mở cửa ra ngoài, vừa hết lời khen sức mạnh ghê gớm của đại ân nhân. Thế nhưng mọi người chỉ thấy ân nhân dáng người cao lớn đứng sừng sững bên kia đường, rồi ông ta bước từng bước rất dài về phía trước. Tới trước cửa nghĩa trang quân đội thì biến mất.
.
Anh tài xế bỗng la thất thanh, chỉ vào pho tượng Thương Tiếc: "Bà con ơi... ổng đó... ổng đó... Trời ơi... trời ơi... ổng hiển linh cứu bà con mình. Thế là mọi người vội leo ngay vào trong xe, rồi ai nấy đều chắp tay lạy... đều đọc kinh râm ran... cả kinh Phật lẫn kinh Chúa." .Trần Huy tôi nghe tới đây cũng vội chắp tay lên niệm: " A di đà Phật.".Biệt Kích kể tiếp : "Vào lúc 10 giờ tối tháng 3 năm 1969, có hai cặp tình nhân đi trên hai chiếc Honda ra xa lộ hóng gió, gần tới nghĩa trang thì bị ba chiếc khác chở 6 thanh niên tóc dài ép té bên đường. Liền sau đó 3 tên ngồi phia sau nhảy xuống dùng dao uy hiếp khổ chủ để cướp xe và lấy tiền. Trong lúc bọn cướp cạn đang trói các nạn nhân, thì bỗng có tiếng hét lớn trên đầu dốc:
.
"Chớ làm càn... chớ làm càn." Rồi liền đó xuất hiện ở giữa đường xa lộ một bóng đen... Bóng đen khệng khạng đi tới, một tên cướp hoảng hốt gào lên "Ối giời ơi... ma ma, chạy... chạy..." ..Thế nhưng không làm sao chúng chạy được, cứ thế đứng sững như trời trồng, bóng đen hai tay xách bổng hai chiếc Honda bỏ bên vệ đường, vừa lúc đó có bốn chiếc xe chạy đến, một xe Cảnh Sát đi tuần, một xe Jeep của bốn quân nhân nhảy dù, trên có một Trung Tá, còn hai xe kia là du lịch.
.
Thấy chuyện lạ, các xe ngừng hết lại. Dưới bóng tối mờ mờ mọi người thấy trên đỉnh dốc có một bóng đen đứng hiên ngang lừng lững. Khi rõ chuyện, Cảnh Sát đến chỗ bọn cướp, đứa nào đứa nấy cứ như bị điểm huyệt. Một người lớn tiếng hỏi :"Còn ai đứng ở trên kia đó..." Một tràng cười vang lên, rồi một giọng như sấm động... "Cố gắng, Nhảy Dù... cố gắng." Như hiểu ra chuyện, vị Trung Tá nhảy dù trấn an mọi người: "Không sao đâu, pho tượng Thương Tiếc đi tuần thôi." .Sau đó ông vẫy tay la to: "Về nghỉ đi em, khuya rồi... Nhảy Dù"...
.
Bóng đen bỗng đứng nghiêm giơ tay chào, "Cố gắng ...Tuân lệnh Trung Tá." Đèn pha ở các xe hơi được bật sáng rực chiếu theo, chỉ thấy mờ mờ một bóng người, tới lối vào nghĩa trang thì chợt mất hút, nghe đâu ngày hôm sau hai cặp trai gái mang gà luộc trái cây, hương nhang vàng mã đến trước bức tượng cúng tạ ơn. .Khi đến nơi họ thấy hai viên Cảnh Sát đêm qua cũng đang đến khấn vái, một người bảo: "Chúng tôi đi tuần ban đêm, thấy ông ra ngoài ra chơi hoài à, nhưng ông hiền lắm, đã không phá phách mà còn cứu giúp bà con biết bao nhiêu." Trần Huy tôi nghe tới đây lại chắp tay:
"A di đà Phật". Biệt Kích lại kể: "Chỉ sau ngày 30 tháng 4 chưa được mấy bữa , thì một đại đội quân Cộng Sản địa phương, đã dùng giây dùng búa, dùng xe kéo, hùng hục suốt một ngày mới xô đổ được bức tương Thương Tiếc xuống dưới chân bệ đá..Nhưng lạ thay chúng dùng đủ mọi cách kể cả cần cẩu để trục bức tượng lên xe nhưng không thể nào cẩu được nên đành phải vất ở đó. Sáng hôm sau viên Thượng úy chỉ huy đại đội trở lại hiện trường để nghiên cứu tìm phương án mang đi thì hắn bỗng giật nảy mình vì bức tượng hôm qua còn ở bên này đường mà hôm nay đã ở bên kia đường. Bảo rằng có người lôi đi thì 100% là không phải. Hắn liền đi hỏi các cư dân lân cận, hỏi mãi thì ông Trưởng Ấp cũ mới nói: "Ai mà rinh nổi ông ấy qua đây, ổng ấy tự đi đó, suốt đêm qua ổng đi bộ qua đồi Bác Sĩ Tín, rồi tới mấy nhà chúng tôi, bao nhiêu năm nay ổng ấy hiền lành lắm, nhưng lần này giọng nói coi bộ tức giận lắm.
" Viên Thượng úy hỏi: "Hắn nói gì?" Ông cựu Trưởng Ấp đáp: "Thì ổng hỏi có ai biết nhà cái thằng Đại Đội Trưởng Việt Cộng ở đâu không?" Viên Thượng Úy nói cứng: " Chuyện tào lao không?" Mấy bữa sau cả vùng xôn xao, vì đêm hôm trước, đồng chí Thượng úy vào lúc 2 giờ sáng lái xe jeep qua nghĩa trang, chả hiểu làm sao xe tự nhiên đâm xuống ruộng bốc cháy, cả 4 tên trên xe chết không còn một mống... .Nghe kể lại rằng , xe đang chạy phom phom bỗng lảo đảo, lảo đảo vì pho tượng Thương Tiếc đang đứng giang hai tay ở giữa đường. Kể tới đây nước mắt của chú em Biệt Kích bỗng dàn dụa:.
.
"Suốt 25 năm nay, cho dù bức tượng lịch sử đã bị giặc mang đi mất biệt, nhưng huyền thoại về ông vẫn còn được lưu truyền trong dân gian, trong lúc trà dư tiểu hậu, các bô lão vẫn thường kể lại, những hành động xuất qủy nhập thần của ngài, và rằng ngài vẫn thường hiển linh đi cứu người và rằng ngài vẫn đội nón sắt, đeo ba lô, cầm súng, đi trên xa lộ quanh nghĩa trang, thỉnh thoảng giữa đêm hôm khuya khoắt, người ta vẫn nghe ngài hát bài "Xuất Quân" , bài "Chiến Sĩ Vô Danh", bài "Lục Quân Việt Nam", bài "Nhảy Dù Hành Khúc" và rằng khi được hỏi bao giờ về trời? Ngài chỉ tay vào nghĩa trang: "Một số anh em ta vẫn còn nằm đó, thì ta vẫn còn ở đây, ta đi thì còn ai trông coi, bầu bạn với họ, ta chỉ về trời khi trước cửa nghĩa trang một ngày nào đó lá cờ vàng ba sọc đỏ, bay lồng lộng, bay oai phong, bay vút cao cho một nước Việt Nam không Cộng Sản."
.
Một cư dân ở đó kể rằng, đâu là ngày lễ Thanh Minh năm 1997, nửa đêm ngài hiện về nghĩa trang, đi từng ngôi mộ để nhổ cỏ, dựng lại từng tấm bia bị gãy, đắp lại mấy thành mộ bị sụp lở và vun lại mấy nấm đất bị san bằng. Vào canh ba, người ta nghe thấy tiếng của ngài vang lên khắp nghĩa trang: ."Tội quá đi... tội quá đi... Lúc còn sống thì hy sinh, thì chiến đấu cho trăm họ, lúc chết bây giờ thì hỡi ơi, mộ thì không ai nhang khói, bia vỡ thì không ai hàn... một chén cơm cúng cũng không có, một cái bánh ngọt, một ly nước, một bông hoa cũng không. Thôi thì anh em ơi, tôi thề sẽ ở lại với các anh em, ở lại cho đến khi lịch sử sang trang mới, rồi cuối cùng trước khi biến đi, ông ngâm vang bài thơ

".Anh hùng vô danh" của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy:.
Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.
Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải san hà gấm vóc
Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc
Không ngại xa, hăng hái vượt trùng sơn
Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn
Cuộc Nam tiến mở giang sơn lớn rộng
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giầy của những kẻ xâm lăng
Đã xông vào khói lửa, quyết liều thân
Để bảo vệ tự do cho Tổ Quốc.
Trong chiến đấu, không ngại muôn khó nhọc
Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan
Người thất cơ đành thịt nát xương tan
Nhưng kẻ sống lòng son không biến chuyển
Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
Để sống lại cuộc đời trong bóng tối
Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi
Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình
Bền một lòng dũng cảm chí hy sinh
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch
Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật
Nhưng máu họ đã len vào mặt đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và anh hồn chung với tấm tình trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt..
.
Bao Bất Đồng
.
Chủ đề: TÔI ĐÃ ĐI NHIỀU NƠI

Đến: Verborgene_Empfaenger
.
Tôi đã có nhân duyên đi khắp nhiều nơi, đến cũng rất nhiều chỗ. Đây cũng là cơ hội để cho tôi học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với mọi người.
.
Trong cuộc sống nầy có rất nhiều người may mắn nắm bắt then chốt của công việc, của sự suy nghĩ và cứ theo đó mà hành động thì đa phần có chút ít lạc quan, nhưng cũng có lắm người sống rất bi quan, không biết cách giải quyết như thế nào để có thể thoát ra những sự trói buộc, để nội tâm chúng ta được thư thái nhẹ nhàng hơn.Nhiều lúc tôi lấy tư cách là một vị Thầy để nói chuyện với học trò đệ tử, thì họ bảo rằng:

"vì tôi làm chủ mọi vấn đề, nên mới dễ dàng chủ động trong mọi tình huống; còn học trò đệ tử là những người phụ thuộc và bị động, nên khó sống hay làm việc trong sự chủ quan được."Rõ ràng là như vậy.
.
Ở Á Châu chúng ta đa phần là chỉ học cái kiến thức của ông Thầy, phần sáng tạo thì ít đi, trong khi đó học theo lối học Âu Mỹ ngày nay có khác. Vị Thầy chỉ là một người bạn của học trò, sinh viên nhằm chia xẻ những tri thức và sự học hỏi của mình cho học trò và từ đó học trò dạn dĩ hơn, chủ động hơn cũng như có nhiều khả năng tự lập hơn; chứ không bị lệ thuộc nhiều theo như sự giáo dục của Á châu chúng ta.
.
Từ đó khi ra làm việc hay bước vào công sở, cuộc sống xã hội, cuộc sống gia đình họ tự phân chia trách nhiệm và thực hành bổn phận ấy với khả năng chuyên biệt của mình. Rồi một nhóm 3, 5, 7 hay 10 người v.v... sẽ chỉ chịu trách nhiệm của phần mình riêng lẻ, để rồi cộng hưởng giao thoa với nhau trong một môi trường to lớn hơn. Đây là cung cách tổ chức trong trường học, trong xã hội, trong công ăn việc làm của xã hội Âu Mỹ ngày nay.Dĩ nhiên những xã hội nầy họ vẫn cần những người lãnh đạo như Á Châu chúng ta, nhưng kẻ lãnh đạo chỉ là người biết lắng nghe thuộc cấp trình bày, bàn bạc và cốt làm sao cho công việc được thành tựu là điều chính yếu, chứ không phải lấy mọi người để làm bàn đạp tiến thân lên đài danh vọng của mình như một số nước Á Châu đang chủ trương.
.
Nếu công việc thành tựu thì kết quả đó là kết quả của tập thể. Nếu ngược lại, chỉ có cá nhân chịu trách nhiệm, không ảnh hưởng đến một tập thể hay một cộng đồng to lớn, mà giới lãnh đạo trong trường hợp nầy phải biết quan tâm, chia sẻ với những người cùng làm việc chung; chứ không phải chỉ đứng chỉ tay năm ngón bảo người khác phải làm, còn mình thì chẳng có trách nhiệm gì cả.Một xã hội như thế là một xã hội tương đối khá công bằng. Thế nhưng xã hội nầy còn tiến nữa, sẽ tiến dần đến phía trước, mà những gì nó sắp xảy ra, con người không tự làm chủ được.
.
Vì lẽ dần dần nếp sống của con người bị thu hẹp trong những cá nhân tự kỷ; chỉ biết sống cho mình, lo trau chuốt tự ngã của mình và những gì thuộc về mình; trong khi đó những người sống chung quanh ta thì mặc kệ họ. Ngay cả những người gần gũi nhất trong gia đình của mình. Rồi đây mọi việc sẽ ra sao, ai trong chúng ta cũng khó đoán biết hết được, nhưng có một điều người ta không thể chối cãi được, khi con người càng giàu có về vật chất thì lãnh vực tinh thần lại càng trở nên nghèo nàn keo kiệt. Có một hôm tôi đang hướng dẫn những sinh viên người Đức tại chùa Viên Giác Hannover, tôi bảo rằng: "ngày nay tất cả vật giá của mọi thứ đều leo thang, tăng giá; chỉ có một món duy nhất rẻ mạt, không biết các anh chị em có biết chăng?"
.
Thế rồi người nầy đưa mắt hỏi người kia, có kẻ trả lời món nầy món nọ, nhưng tôi trả lời thế cho họ. Đó là: "Đạo đức của con người". Đạo đức nầy ngày nay hạ giá quá! Luân thường đạo lý bị đảo lộn; cuộc sống gia đình và đời sống của xã hội bị quay cuồng trong cơn thác loạn, chỉ biết tranh đấu với đồng tiền, chứ có rất ít người lo chiến đấu với vô minh; với khổ đau và sanh tử.
.
Có người hỏi tôi rằng: "Thưa Thầy, phải sống làm sao cho thoải mái, không bị mọi thứ chi phối mình và phải giải quyết cuộc sống nầy ra sao, khi khổ đau đưa đến?"Câu hỏi nghe rất đơn giản, nhưng câu trả lời có hàng trăm cách khác nhau.
.
Tuy nhiên tôi cũng trả lời theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình rằng: "muốn sống cho được an lạc, thoải mái, thì hãy biết bỏ những gì đáng bỏ và biết giữ lại những gì đáng giữ." Điều nầy nghe thật đơn giản nhưng không dễ thực hiện, vì đa phần cái gì mình cũng muốn giữ lại. Cho nên hành trang mình mang đi vào cuộc đời nặng trĩu cả hai vai và tâm thức.
.
Như vậy còn đâu sức lực của tự thân và chỗ trống của tâm hồn và những lời hay ý đẹp cho nội tâm mình. Sở dĩ có việc nầy vì khả năng buông xả của con người còn rất yếu đuối; trong khi khả năng chấp thủ thì quá dư thừa. Đây chính là nguyên nhân ở trong cõi Dục nầy vậy. Con người cái gì cũng muốn ôm vào lòng, vào tâm thức, nhưng ta phải hiểu rằng mỗi người trong chúng ta sẽ ôm giữ chúng được trong bao lâu? Có thể 10, 20, 50 năm hay nhẫn đến 100 năm đi nữa; khi ta không muốn buông bỏ nó, thì nó cũng buông bỏ ta mà ra đi thôi.
.
Ngay cả tiền, tình, danh vọng, sắc đẹp, tài sản, người thân, quyền lực, ngai vàng v.v...Vậy cái gì là thật tướng của vạn pháp? Xin trả lời là "Không". Từ "Không" ta đến nơi đây rồi kết cuộc rồi ta cũng sẽ về lại chỗ "Không" mà thôi. Vậy thì tranh đấu, dành giựt địa vị, quyền lợi, tiền bạc để làm gì mà lối thoát phía trước là một cái "Không" to tướng. Biết thì ai cũng biết vậy, nhưng tiếc thân nầy thì ai lại không tiếc? Do đó mới sinh ra tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà thủ... thôi thì đủ thứ đủ loại; nó giống như một loại tơ vò, tự thân mình trói buộc mình mà thôi.Mới đây tôi có gặp Sư Thúc ở Houston tức là Ngài Trưởng Lão Thích Chơn Điền cũng là nhà thơ Ngốc Tử. Có một bài thơ mới nhất Ngài sáng tác trong năm 2007 nhan đề là "Ruồi than trong lưới nhện" rằng:

„Tham dục lao vào chốn tử sinh,
Vô minh nghiệp thức dẫn vòng quanh,
Ao tù ngũ trược càng thêm trược,
Khổ khổ rồi ra cũng tại mình."
.
Chỉ cần bình chú bài thơ nầy thôi là ta có đủ một nhân sinh quan, một vũ trụ quan để sống trong cuộc sống đầy khổ đau phiền lụy nầy rồi. Vì sự tham lam ham muốn, nên chúng ta mới tự quay cuồng như con ruồi trong chốn lao tù sanh tử. Nơi đây ta ngỡ là vui nhưng chỉ toàn là phiền não, khổ đau cái nầy chồng chất lên cái kia không bao giờ biết chán ngán và dừng lại.
.
Vì vô minh và nghiệp lực nó dẫn mình tới đây và điều quan trọng là mình không biết tự làm chủ nó, nên mới khổ đau tục lụy như thế nầy. Kẻ biết và kẻ không biết khác nhau ở chỗ nầy. Người hiểu biết là người biết dừng đúng lúc, kẻ không biết là kẻ cứ thế mà lao vào. Điều nầy cũng giống như con ruồi biết rằng phía trước đang có nhện giăng tơ, nhưng ruồi vẫn không lưu tâm và không biết dừng lại, nên cuối cùng bị chết đứng giữa sa trường của cạm bẫy.
.
Chúng ta cũng giống như vậy, trong chốn tử sinh nầy có lắm mật ngọt, bơ sửa, thịt thà, sắc đẹp, lợi danh... nhưng có ai biết dừng lại chăng? Hay chúng ta chỉ biết chờ đợi ở một phép lạ.Cảnh sống trần gian nầy vốn đã vẩn đục, mà chúng ta càng cố cựa quậy thì nó càng đục thêm, nên chúng ta không thể tự rời khỏi chốn nầy. Vì căn bản của thế gian là ô trược, nhơ nhớp, phiền não, khổ đau v.v... ngày nay ta có khổ, thật sự ra không ai làm cho ta khổ, mà sự khổ đau hay an lạc tự chính mình tạo nên mà thôi. .
.
Vậy thì điều căn bản của vấn đề là phải: "Quẳng gánh lo đi", cái gì chúng ta mang được thì mang, cái gì gánh được thì gánh, còn những gì không kham nổi nữa thì hãy để gánh lại giữa đường, không nên cố sức gánh, rồi cuối cùng cũng sẽ bị tử sanh, sanh tử chi phối mà thôi. Nếu ta không gánh thì người đến sau sẽ gánh tiếp, đâu cần phải lo. Nếu không có ta thì xã hội nầy không còn có ý nghĩa nữa, điều nầy là do mình quá chủ quan. Có một ông giám đốc của một công ty nọ rất nổi tiếng và ông ta nghĩ rằng không ai có thể thay thế vị trí của ông ta được. Thế nhưng ông đột nhiên bị tai nạn xe hơi tử vong và chỉ cần 3 ngày sau là hãng kia đã tìm được một ông giám đốc mới, ông nầy còn giỏi hơn ông trước nữa.Thật ra nếu ta có chết, thì cây cỏ bên vệ đường vẫn còn sống đó. Chúng đâu có tình nguyện theo ta để chia xẻ những khổ đau của chúng ta đang gặp phải hay đối đầu đâu. Do vậy "người nào tu học càng lâu, phải càng nên thấy mình không là gì cả, thì kẻ ấy mới là kẻ tu chân chính".
.
Đây là lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Nếu ai trong chúng ta cũng như vậy mà thực hành thì cuộc đời nầy có ý nghĩa biết bao nhiêu.Đa phần chúng ta chỉ thấy việc của người chứ ít ai thấy việc của mình, mà nếu thấy thì chỉ thấy cái lỗi của người khác, chứ ít khi tự thấy cái lỗi của chính mình. Còn nếu tự thấy mình, thì chỉ thấy cái tốt, chứ ít thấy cái xấu của mình. Vì sao vậy? Vì lẽ ta lấy ta làm chủ thể để đi phê phán người khác và ta lấy cái ta để đo lường cái ta của đối phương nên mới như vậy. Bao giờ ta là người và người là ta thì ta sẽ dễ thông cảm và dễ tha thứ hơn. Thường ta tự củng cố tự ngã của mình, nhưng trên thực tế tự ngã nó không là gì cả; nó chỉ là một cái
"Không""Hạnh phúc là những gì mà người ta đang có, chứ không phải những gì mà người ta đi tìm".
.
Thật đúng như vậy! Thường người ta đi tìm đủ mọi thứ trên đời mà quên tìm lại chính mình, nên ta mới bị khổ đau sinh tử dày vò. Bao giờ ta hiểu ta là ai thì ta sẽ biết dừng lại.Ngài Doogen là Tổ Thiền Tào Động ở thế kỷ thứ 13, khi Ngài sang Trung Quốc ở tỉnh Triết Giang nơi chùa Cảnh Phước để học đạo. Ngài đã đắc pháp với Lão Thiền Sư Như Tịnh, pháp ấy chính là "Bình Thường Tâm Thị Đạo". Nghĩa là tâm bình thường là đạo. Đôi khi ta chỉ lo đi tìm cái phi thường mà ta quên cái bình thường của ta đang có. Đó là "hai con mắt nằm dưới chân mày, lỗ mũi thẳng đứng, cái miệng nằm dưới lỗ mũi kia." Tâm bình thường là vậy. Ta chưa bao giờ biết quý những gì chúng ta đang có mà đa phần chúng ta hay rong rũi theo sắc trần, rồi cũng chỉ chuốt lụy vào thân mà thôi. Ta cũng giống như con thiêu thân tự đốt mình trong ánh đèn dầu, nhưng nào đâu có biết, đến khi vùi thân vào chốn bụi hồng, ta mới cảm nhận thắm thía được sự khổ đau, tục lụy. Lúc ấy đã quá muộn rồi còn gì nữa!
.
Cho đến bao giờ thì bài pháp Tứ Diệu Đế mà Đức Phật nói cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển ở Ba La Nại sau khi Đức Thế Tôn thành đạo, nó vẫn có một giá trị miên viễn lạ thường. Chỉ cần chúng sanh ý thức được chừng ấy việc của khổ đau; nguyên nhân gây ra sự khổ đau; phương pháp diệt khổ và con đường dẫn đến Niết Bàn, an lạc giải thoát, là con người được sống trong hạnh phúc rồi. Hạnh phúc không ai ban tặng cho mình và đồng thời người ta không thể ra ngoài chợ để mua được. Nó cũng chẳng có bên ngoài, mà nó chỉ nằm bên trong chúng ta. Ta hãy đào sâu vào nội tâm; ta hãy quay lại với chính mình, thì ta sẽ thấy nó ở đâu rồi. Lúc ấy chúng ta sẽ mĩm cười cho sự tự đánh lừa mình lâu nay. Vì sao người ta hay nóng giận và sân si? Vì lẽ ta muốn chứng tỏ cho điều hiểu biết của chúng ta là đúng, nhưng đôi khi không phải như vậy. Lý do cái tự ngã ấy mình tự vun sới rồi chất chứa cái ngã kiến sai lầm, nên ai không theo ta thì ta sẽ hờn, sẽ giận và nổi máu anh hùng ngay.
.
Những người hiểu biết họ sẽ dừng lại cơn sân hận bằng cách bỏ đi nơi khác hoặc giả nếu có tự tin hơn, hãy đi uống một ly nước lạnh để chế ngự nó, nếu là người can đảm hơn và muốn sửa sai thì hãy đến trước tấm kính treo đâu đó trong nhà, ta có thể soi thấy được "bản lai diện mục của mình". Nếu bình thường thấy mình là đẹp, thì hôm nay sau khi giận dữ thấy mình càng đẹp hơn nữa hay chăng? Khi tâm tàm quý "xấu hổ" và kèm sự tự thẹn của mình cũng như sự trợ giúp của những thiện hữu trí thức thì chắc chắn ta sẽ thoát khỏi trầm luân khổ ải. Bằng không, chốn địa ngục A Tỳ sẽ chôn vùi ta, không có thời gian và không biết bao giờ có thể ra khỏi sự tối tăm ấy.Đất là nơi ta bị vấp ngã, té xuống, nhưng cũng từ đất ta sẽ chống hai tay đứng thẳng lên. Có người từ đó sẽ đi vào đời bằng mọi cung cách khác nhau, nhưng cũng có lắm người tự ngã gục bên vệ đường, trên mặt đất; không có khả năng tự chế ngự để gượng đướng lên với đời, rồi cũng gởi thân tứ đại nầy vùi sâu vào ba tất đất. Đất chỉ vô tình làm một chuyện rất công bình, mà lâu nay đất chưa bao giờ chê thây chết, trong khi đó, biển cả bao la nhưng không dung chứa tử thi. Rõ ràng là con người có đủ điều kiện và sự hiểu biết để chọn cho mình có một lối đi ít làm cản lối cho người khác.
.
Vì đi ra thì có ngang qua, dọc lại, nhưng nếu đi vào thì mục đích chỉ thấy tánh mà thôi. Lúc ấy ta không làm phiền lòng ai, mà ta chỉ mĩm cười sau khi ta thấy được mặt thật của sự tử sinh rồi.Có một ông Bác Sĩ Phật Tử bảo với tôi rằng: "những gì ông ta làm cho Phật sự hôm nay, ông không sợ ai chê cười hoặc khen tặng, mà ông chỉ sợ là ông không làm được gì để đem lại lợi lạc cho Phật Pháp mà thôi." Câu nói ấy giống như một triết lý sống, một nhân sinh quan, một vũ quan của một người trí thức Phật Tử. Trên đời nầy người "trí thức" rất nhiều, nhưng người "tri thức" thì rất ít. Vì trí thức hay hiểu người mà ít hiểu mình, còn tri thức thì tự hiểu mình nhiều hơn là hiểu người.Tất cả chúng ta, nếu mọi người đều học hạnh: "tiên trách kỷ, hậu trách nhân". Nghĩa là đầu tiên tự trách mình, sau đó mới trách người, thì xã hội nầy chắc chắn sẽ được an ổn nhiều hơn; mọi người sẽ sống trong một xã hội thái bình và an lạc. Nếu ngược lại chỉ còn cách ta tự đốt thân lẫn tâm ta mà thôi.Tiếng khen và lời chê thật ra nó không có thật tướng, vì người đối diện thích thì khen và không thích thì chê, đó là chuyện bình thường trong cuộc sống, còn ta, không lẽ ta chỉ sống theo lời khen tiếng chê ấy sao?
.
Như vậy ta chỉ là một người bị động, chứ ta không là ta nữa! Ví dụ, khi người ta khen mình trẻ đẹp thì vui và khi bị chê xấu xí, dại dột thì mình buồn, vậy sự vui buồn ấy nó có thật tướng hay không? Vậy tại sao ta phải bị nó quấy nhiễu? Già hay trẻ, đẹp hay xấu, giỏi hay dở... nó chỉ là những sự đối đãi trong cuộc đời. Tại sao ta lại bị nó làm biến tướng và ta lại đi làm nô lệ cho nó; khiến nó muốn cái gì thì ta chạy theo nó muốn đứt hơi luôn, nhưng nào có kết quả gì đâu? Ngoại trừ phiền não và khổ đau đang đón chào ta.Vậy thì câu hỏi được đặt ra: Bao nhiêu thì đủ?
.
- Kẻ biết đủ là đủ, còn người không biết đủ thì không bao giờ có đủ cả.Tình bao nhiêu thì đủ? Tiền bao nhiêu thì đủ, danh vọng, địa vị bao nhiêu thì đủ? Tài sản, con cái, lợi danh bao nhiêu thì đủ?... rõ ràng nó cũng giống như thời gian và không gian. Thời gian thì vô cùng mà không gian thì vô tận. Nó không có cái bắt đầu và không có cái chấm dứt. Ngoại trừ chúng ta biết chấm dứt sự khổ đau sanh tử nầy, bằng cách là chúng ta phải tự bước ra khỏi những sự lẫn quẩn của cuộc đời nầy mà thôi. Do đó cụ Nguyễn Công Trứ đã nói: to tướng mà thôi. Đã là không thì còn gì để nói đến nữa? Những điều nói ra đó chỉ bằng thừa mà thôi. Nếu ai trong chúng ta biết tôn trọng sự thật nầy, thì người ấy sống rất có hạnh phúc. Tục ngữ Nga có câu rằng:
.
"Cái vòng danh lợi cong cong, Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào."
Danh và lợi là những chất mật ngọt của cuộc đời, nó không thẳng tấp, mà nó lại cong queo, nhưng ở đây lắm người muốn bước vào thử xem sao. Vì đã có không biết bao nhiêu tao nhân mặc khách đã trải qua nơi chốn hồng trần ấy. Kẻ chán người chê, nhưng cũng có lắm kẻ mê chưa ngộ. Cho nên mới có cảnh "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược là vậy". Thật ra, sự thật đã hiển nhiên phơi bầy ra đó mà con người tự cố tình lừa dối mình, nên mới bị cuộc đời làm mờ mắt mà thôi. Người trí và kẻ hiểu biết quyết không phải như vậy. Thiền sư xem hoa nở, trăng tròn, con người và sự vật, thường hay thốt lên rằng:
.

"Hoa nở để rồi tàn,Trăng tròn để rồi khuyết,Người còn để ly biệt."
Đó là một nguyên lý của cuộc sống. Đó là mặt thật của cuộc đời. Ta nên đối diện với tử sinh và làm chủ với sinh tử, chứ đừng để tử sinh chi phối, thì đó ta mới thật là ta.Vậy sống trong cuộc đời tương đối nầy phải làm sao cho được vừa lòng người?Câu hỏi tuy rộng nghĩa, nhưng tựu chung mình phải xét tự lực của chính mình có thể kham nhẫn đến đâu, chứ không nên chạy theo thị phi phải trái của cuộc đời. Sách xưa có câu chuyện khuyên người, tôi xin chép lại để hầu quý vị:\
.
Có hai cha con người kia mua được một con lừa nên rất đắc ý. Một hôm người con leo lên lừa để cỡi, dọc đường bị người quở rằng: "tại sao đứa con bất hiếu quá vậy? Trong khi nó còn trẻ mà cỡi lừa, còn cha của nó già rồi, mà phải đi dưới đất trong cơn nắng cháy?" Người cha nghe nói như thế thấy có lý nên bảo con leo xuống để mình leo lên lưng lừa cỡi đi. Đi được một lúc, người qua đường thấy bảo rằng: "Ông già kia tại sao không biết thương con, trong khi trời nắng chan chan như thế nầy lại để con thơ đi dưới đất còn mình thì cỡi lừa như vậy?" Ông ta nghe như thế thấy cũng có lý. Nghĩ lại cho cùng, cha cỡi cũng bị nói, mà con cỡi cũng bị nói, nên ông bảo đứa con leo lên luôn trên lưng lừa, thì chắc rằng không bị mĩa mai nữa. Thế là cả hai cha con đều cùng cỡi trên lưng lừa. Đi được một quảng đường nữa, lại gặp người bảo: "tại sao hai cha con ông nầy chẳng biết thương thú vật gì cả, con lừa có một chút xíu mà hai cha con ông cỡi trên lưng nó thì con lừa nó chịu sao nổi, nếu vấp té nó sẽ bị gãy chân ngay." Bây giờ chẳng còn cách nào hơn là cả hai cha con ông leo xuống lừa đi bộ hết là xong. Đi được một đoạn tưởng như thế là yên thân, nào ngờ có người đối diện bảo rằng: "tại sao cha con ông nầy lại ngu ngốc như vậy kìa? Con vật sinh ra phải làm tôi tớ cho con người, mà tại sao cha con ông không cỡi nó, mà lại đi bộ nhọc nhằn như thế?..."Quả là lời nào nghe cũng có lý hết cả. Nhưng cha con ông đã làm để chìu theo những lời lẻ đó, nhưng kết cuộc vẫn không vừa lòng một ai, cho nên ông ta quyết định là đoạn đường còn lại, mình phải tự làm chủ lấy mình chứ không thể chìu theo ý của tất cả mọi người được.Điều nầy cũng giống như lời Phật dạy: "các con đừng tin theo một lời gì, dầu lời ấy do chính ta nói ra. Các con cũng đừng nên tin một điều gì, dầu điều ấy đã được nhiều đời truyền tụng lại; các con hãy tin một điều gì, mà điều ấy đã được thể nghiệm qua bản thân nhận xét của các con."
.

Như vậy trong cuộc sống nầy rất đa dạng, mỗi người nên tự chọn cho mình một cách sống sao cho thích hợp nhất với chính bản thân mình.
.
Viết xong ngày 28 tháng 04 năm 2008
tại chùa Phật Ân Minnesota tại Hoa Kỳ. .,

TRỞ VÊ ĐÂU TRANG


Mùa Xuân
Im Lặng Trong Ðôi Guốc

Con cái đã quên, không còn ai nhớ đến đôi guốc mộc. Sau đám tang của mẹ, mấy người con gom quần áo của bà đốt hết. Riêng đôi guốc gỗ nằm nơi xó tường nên chả người con nào để ý. Mấy tháng, kể từ ngày bà nằm trên giường bệnh, đôi guốc lúc bị đá vào xó tường này, lúc bị đẩy sang góc tối kia, đến độ người nhà không còn để ý nó là đôi guốc của ai.

Từ ngày theo người mẹ đó về nhà, đôi guốc giã từ những tháng ngày thong thả, mơ mộng trên quầy hàng.
* * *
Thủa xưa, khách vào ra, ngắm nghía, nâng niu, chủ hàng chẳng bao giờ để đôi guốc bám bụi. Ðôi guốc chả phải làm gì, sống như thế thật nhàn hạ. Nhưng nếu nghĩ cho cùng, cũng không thiếu nhàm chán, chả có gì mới mẻ trong cuộc sống cả. Ðôi lúc, đôi guốc nghe như có hai tiếng nói thì thầm trong hồn nó. Một là bảo nó cứ nằm yên ở đây cho nhàn hạ, hai là bảo nó hãy bỏ đây xuống đời tìm cho cuộc sống một ý nghĩa.

- Chả nhẽ cứ tiếp tục là đôi guốc nằm trên quầy hàng như thế này mãi sao?

Nó không phải là đồ trang sức, không phải là bức tranh cho người ta ngắm. Có nhàn hạ, nhưng nằm mãi ở đây thế này nó bắt đầu thấy chán, càng ngày càng thấm thía những suy nghĩ về một cõi sống trên những nẻo đường của cuộc đời. Nhưng mỗi khi nhìn đôi guốc dưới chân các bà mẹ, nó lại nghe tiếng nói khác thì thầm: "Vất vả quá!" Có đôi guốc sứt mẻ. Có đôi guốc mòn xác xơ. Ðiều đó làm nó nghĩ ngợi.

Ðời là một chọn lựa. Cứ tiếp tục suốt đời giam mình ở đây hay bước xuống đường để ra đi đây đó? Sau cùng nó quyết định ra đi.

Một trưa xế nắng kia, có người thiếu phụ vào tìm mua đôi guốc. Chủ hàng đem nó ra giới thiệu. Nhìn dáng người thiếu phụ, đôi guốc biết người đàn bà ấy thật thà, nhưng thấy dáng bà có vẻ nghèo. Những người nghèo thường vất vả. Bước chân của người nghèo là bước chân khổ. Làm thân guốc cho một người nghèo vất vả lắm. Thật thà mà nghèo chắc cũng chả hạnh phúc. Cuộc sống bây giờ chẳng ai quý người nghèo. Càng suy nghĩ, đôi guốc càng lưỡng lự, cứ sợ người đàn bà ấy chọn mua mình.

Nó phân vân không biết có nên theo chân bà ta hay không. Ðời luôn là phải chọn lựa như thế. Vất vả, nghèo mà thật thà, đặc tính của người muốn mua nó có vậy thôi. Ðôi guốc nghĩ thầm: "Ðến lúc muốn ra đi, lại gặp phải người đàn bà nghèo thế này. Hay ta chờ một người đàn bà khác giàu có. Theo chân người giàu sẽ sung sướng hơn?"

Trong lúc nó phân vân, người đàn bà cầm đôi guốc ngắm nghía, cho xuống chân ướm thử. Một làn hương thơm huyền nhiệm toát ra từ đôi chân bụi đường. Ðôi guốc vô cùng kinh ngạc, làm sao điều ấy có thể xảy ra được. Nó đã được nhiều đôi chân đẹp ướm thử mà chưa bao giờ có hiện tượng lạ lùng như thế. Phải là đôi chân dịu dàng mới toát ra vị thanh tao được chứ. Ðôi chân trần của người đàn bà nhà quê mốc thếch. Làm sao đôi chân lấm lem lại có thể toát ra một hương nhân đức kỳ bí được. Nó không ngờ. Ðiều huyền diệu ấy, tiếng lương tâm đôi guốc bảo cho nó biết rõ là đến từ lòng thật thà, bao dung, vất vả hy sinh của người mẹ kia. Bấy giờ, nó hối hận vì quá vội nghi ngờ đánh giá khi nhìn sự nghèo khó bên ngoài. Lòng hối hận ấy làm nó bừng lên một ước ao mãnh liệt là được theo chân bà. Linh tính cho nó biết nơi dấu chân người mẹ này có một thế giới huyền diệu. Nhưng người mẹ băn khoăn đặt nó vào kệ gỗ vì bà không đủ tiền.

Ðôi guốc gỗ mím môi tiếc xót vì từng bị thử dưới bao đôi chân, chưa thấy bước chân nào kỳ lạ như bước chân của người mẹ này. Giữa lúc nó muốn theo chân người đàn bà để khám phá thế giới linh thiêng kỳ bí đó, bà lại không đủ tiền mua nó. Bà tần ngần đặt đôi guốc lại kệ gỗ.

Người chủ hàng chỉ bán rẻ những đôi guốc bị nứt thôi. Ðôi guốc nghĩ thầm: "Hay là ta đánh đổi đời mình thành đôi guốc nứt?" Nếy vậy, còn gì dáng vẻ, vì cả một đời sẽ mang dấu vết nứt đó. Ðôi guốc suy nghĩ quay quắt về một chuyến đi trong đời.
Người đàn bà lại cầm nó trên tay, tiếc vì không đủ tiền. Ðôi guốc giật mình nghĩ rằng đời không có nhiều cơ hội. Nếu bà không đủ tiền mua nó, bao giờ bà sẽ quay lại? Có thể sẽ không bao giờ. Nếu bà đặt nó trở lại quày hàng, biết đâu nó sẽ vĩnh viễn không bao giờ gặp lại bà? Nó lấy hết can đảm theo tiếng gọi thâm sâu của linh hồn, chấp nhận một thương đau cho khởi đầu một chân trời kỳ bí kia đang chờ đón. Nó quyết định chấp nhận đời mình thành đôi guốc nứt. Tức khắc, ngay khi quết định xong, nó nghe như trong linh thiêng có một trận chiến vô hình. Tiếng nói của Bóng Tối gục xuống. Tiếng nói của Ánh Sáng bừng lên. Cũng trong lúc ấy, như chiều cao thập giá đổ xuống, một vết thương xước ra, chạy dài toàn thân. Nó ngất lịm. Thế là nó thành một đôi guốc nứt.

Người đàn bà giơ lên nhìn kỹ. Bà ồ lên một tiếng thở nhẹ, vui mừng vì một khám phá:
-Ông chủ tiệm ơi, nhìn kỹ đi, đôi guốc có vết nứt đầy này.

Người chủ tiệm tiếc rẻ. Ngần ngừ, ông đành bán tống nó đi.

Lúc tỉnh dậy, đôi guốc đã về đến nhà người đàn bà. Bà xoa xoa vết nứt, tìm mũi đinh đóng lại. Một lần nữa, nó đau buốt thân mình. Nhưng trong mỗi nhát búa, nó thấy mùa xuân đang về trên những nhánh gai. Nó bắt đầu cảm thấy ý nghĩa của nước mắt và hạnh phúc. "Tôi sẽ theo chân bà ta đi đâu bây giờ?" Trời đang vào hạ hanh nắng hay cúc vàng nhuộm xuân. Nó hồi hộp tự hỏi.
Ngày hôm sau, ngay chuyến đi đầu tiên nó đã mệt rã rời. Trời xuống tối, bà vẫn chưa về đến nhà. Quẩy gánh nặng trên vai. Con đường cứ dài thăm thẳm, toàn thân mình đau ê ẩm. Ðường đất miền quê sỏi đá gồ ghề, ngay chân bà cũng trượt té trầy da huống chi đôi guốc. Nó bị nện xuống gập ghềnh. Như vậy mà đã từ bao lâu nay người mẹ này cứ bước chân không, nghĩ đến nỗi đau, nó thấy xót xa cho bà. Nhìn xuống nỗi đau của mình, nó muốn chia sẻ với bà nỗi đau kia. Lạ lùng quá, khi mới chợt có ý nghĩ ấy, nó thấy toàn thân nóng bừng, và trên nỗi đau nó thấy ý nghĩa ngọt ngào của hy sinh.

Qua một buổi chiều mà đôi guốc đã khám phá bao nhiêu bí mật đời sống dưới bàn chân một người mẹ:

- Hy sinh bao giờ cũng có hương thơm có thể bay ngược chiều gió.
- Chịu đựng bao giờ cũng cho tâm hồn nét đẹp cao thượng.
- Gánh nặng vì tình yêu luôn luôn đi đôi với sức mạnh.
- Thật thà là mật ngọt nuôi dưỡng bình an.
- Nhẫn nại là những đường may nối dài tình thương.
Quá mệt, đôi guốc ngủ thiêm thiếp lúc nào không hay. Lúc ướt lạnh, nó co người rùng mình thì người mẹ đã đang ở bờ giếng kéo nước đổ vào nồi cám nấu cho heo. Ðôi guốc bàng hoàng không biết trời đang vào khuya hay đã về sáng. Chung quanh chỉ là đêm tối lần mò. Nó lắng nghe bước chân. Người mẹ hết quanh quẩn trong góc bếp lại ra cầu ao. Khuya thế này rồi sao bà không nghỉ ngơi? Ðôi guốc mệt đừ.
* * *
Thời gian thấm thoát thoi đưa. Thoát chốc đã đến ngày đôi guốc mòn quá rồi. Bây giờ nó không còn là hình dạng đôi guốc ngày xưa trong cửa hàng nữa. Xấu xí, lem luốc, nứt nẻ. Nhìn lại quãng đời, đôi guốc không thể biết được nó đã bước bao nhiêu đường dài. Nếu mỗi ngày bà mẹ quẩy gánh 10 cây số, thì 365 ngày một năm, đã trên 3 ngàn cây số rồi. Trời ơi! Ðôi guốc không ngờ nó đã đồng hành với bà trên một dặm đường dài hơn cả đất nước của người đàn bà như thế.

Ðôi guốc không hiểu sao nó có sức chịu đựng trung thành theo chân bà. Nó còn nhớ ngày xưa nằm trên quầy tủ cửa hàng, mới chỉ nghĩ đến ra đi đã ngao ngán quá rồi. Vậy đâu là sức mạnh? Gần đến cuối đời, đôi guốc nhìn lại những bến bờ đã đi qua, nó thấy cộng lại những cây số ngàn ấy, không bước chân nào của bà mẹ không có tình thương. Từ sớm tinh mơ đến tan chợ chiều, bà vất vả cũng vì các con mà thôi. Từ đó, đôi guốc khám phá ra khi nó được chia sẻ đời nó trong tình yêu, tình yêu cho nó sức mạnh. Bất cứ nơi nào có tình yêu thì có sức sống. Bất cứ gỗ đá nào chạm vào tình yêu cũng thành trái tim mềm mại thiết tha. Và nó hiểu, nó không đi tìm mùa xuân vì chính nó đang làm nên mùa xuân cho cuộc đời.
* * *
Thưa mẹ, con còn nhớ một đêm kia, khuya quá khuya, mẹ ngồi bên con, nhìn con trong cơn sốt. Làm sao mẹ có đôi đũa thần của bà tiên quyền phép làm cho con hết cơn đau. Mẹ cứ ngồi bên con vậy thôi. Mẹ không an lòng rời xa con. Me đặt tay lên trán con chờ mong từng giây cho con hết bệnh. Muốn uống một ly sữa, con chỉ cần đưa chiếc ly lên miệng uống là xong. Bây giờ nhìn lại, con thấy đêm đó, khi chợt nghe con muốn một ly sữa, mẹ vội thắp thêm đèn, chiếc đèn dầu con tù mù, lệch kệch ra sau vườn kéo gầu nước, nhóm bếp củi mù than đun nước. Mẹ hối hả không ngại ngùng gõ cửa hàng vào những giờ người ta không muốn thức giấc để mua, hòa cho con một ly sữa.
* * *
Sau khi bà mẹ chết, đôi guốc nằm im lặng nơi góc tường tối. Không người con nào để ý. Nó âm thầm một đời theo chân người mẹ, hy sinh, vất vả, chịu đựng. Lúc người mẹ còn sống, đôi guốc đã âm thầm như thế. Bây giờ bà chết rồi, nó vẫn tiếp tục cái âm thầm của bao tháng ngày về trước. Chẳng lẽ bất cứ điều gì liên quan tới mẹ đều lặng lẽ như thế sao?

Tình yêu của những người mẹ dường như bao giờ cũng âm thầm. Xin những người con hãy khuya động tình yêu âm thầm ấy của mẹ bằng một cánh hoa linh hồn.

Kìa, ngoài kia đất trời đã đang chuyển mình tìm mùa xuân.

TRỞ LẠI ĐẦU TRANG
Một thoáng mong manh
Trần Quốc Sỹ
Truyện ngắn dưới đây được trích từ tập hồi ký "Giòng Đời Trôi Nổi" của cùng tác giả. Thời điểm: Sài Gòn, 1993.
….
.....
Hiệp phóng xe len lỏi giữa đoàn xe và người. Ngồi đằng sau, ôm eo ếch nó mà tim tôi cứ muốn nhào ra khỏi lồng ngực mỗi khi nó lạng qua để tránh một chiếc xe ngược chiều. Chiều hôm qua, tôi có ý định sẽ mua một chiếc Honda để làm phương tiện di chuyển, nhưng với quang cảnh trước mắt, tôi thầm nghĩ điệu này chắc tôi phải bỏ ý định này rồi.
.
Hai mươi phút sau chúng tôi về đến bùng binh Quách Thị Trang, trước cửa chợ Bến Thành. Mười tám năm, cái bùnh binh này cũng chẳng có gì thay đổi, nếu không muốn nói là điêu tàn hơn. Một mảng xi măng lề đường vỡ to mà cũng chẳng được tu sửa. Chợ Bến Thành cũng chẳng có gì khác lạ. Gần Tết nên các hàng quán chung quanh chợ buôn bán tấp nập. Những tấm bảng quảng cáo được căng lên chung quanh khắp nơi.
.
Tôi chợt bồi hồi nhớ lại những ngày trước 75. Cái thú vui của bọn thanh niên, thanh nữ chúng tôi thời đó là đi dạo chợ tết. Tuy chẳng có tiền để mua sắm nhưng chúng tôi cũng thích kéo nhau đi bộ dọc đại lộ Lê Lợi từ bùng binh cho tới Quốc Hội, rồi dọc theo đường Tự Do, Lê Thánh Tôn, hay Nguyễn Huệ .
.
Cái thú dạo phố Sài Gòn sau mười tám năm bỗng dậy lên mãnh liệt trong tôi. Tôi bảo Hiệp kiếm chỗ gởi xe rồi tôi và nó bách bộ trên con đường Lê Thánh Tôn râm mát.
Khác với khung cảnh cầu Bình Triệu, nơi đây tôi tìm được sự nhẹ nhàng, yên tĩnh hơn. Ngoài đường xe cộ tuy cũng qua lại nhưng dường như ít hẳn so với chỗ khác. Những người bộ hành trên đường cũng dường như thư thản hơn, không có nét vội vã.
Một người đàn bà với quang gánh và hai thúng xoài xanh bên lề đường gọi mời:
.
-Cậu mua dùm xoài. Xoài tượng ngon lắm.
Tôi đứng lại nhìn thúng xoài xanh. Những quả xoài tượng to tổ bố to bằng ba lần trái xoài Mễ, nặng cũng phải đến ba bốn pounds, xanh mướt, hấp dẫn. Hiệp bấm nhẹ tay tôi, mắt ra dấu bảo đi. Nhưng hình như những quả xoài có sức thu hút, mãnh liệt, kỳ lạ. Tôi đứng lại, rồi cúi xuống lựa hai quả lớn nhất, đưa cho bà:
-Bao nhiêu tiền vậy chị?
-Dạ cậu cho xin 4000 đồng
Tôi có nghe lầm không? Hai trái xoài bự như vậy mà chỉ có 40 xu hay sao? Ở Cali, một trái như vậy, nếu có, cũng phải từ 5 cho đến 10 đô.
Tôi móc túi lấy tờ giấy bạc 10,000 đồng đưa cho chị.
-Chị khỏi cần thối lại tiền cho tôi.
Người đàn bà thoáng ngạc nhiên, cầm tiền bỏ vào túi rồi nhìn tôi với con mắt biết ơn:
-Cám ơn cậu.
Trả tiền hai quả xoài xong, tôi kéo Hiệp vào một tiệm bán tranh sơn mài.
Hiệp ngần ngừ:
-Anh muốn mua tranh sơn mài hả? Ở đây họ bán mắc lắm. Để ngày mai em dẫn anh đi "lò" ở Bình Dương, rẻ hơn nhiều.
-Không, anh không có ý định mua, chỉ đi vào xem cho biết thôi.
Thấy tôi và Hiệp bước vào, một người đàn bà ra tiếp. Không, phải gọi là một cô mới đúng vì người đứng trước mặt tôi không thể nào trên 30 tuổi. Với khuôn mặt trái xoan dễ nhìn, thêm đôi mắt đẹp và nụ cười tươi, cô có một sức quyến rũ lạ thường. Gương mặt này, đôi mắt này, hình như tôi đã có lần gặp trong đời.
Tôi đang ngẩn người nhìn cô, cố moi móc trong cái trí nhớ tồi tệ của mình xem tôi đã gặp người con gái này lần nào chưa. Nhưng tôi chẳng thể nào nhớ được.
-Mời anh vào xem.
Giọng người con gái vang lên. Ôi, giọng miền Nam, thật nhẹ nhàng, thật êm ái.
-Cám ơn cô.
Tôi bước vào tiệm, đảo mắt nhìn những bức tranh sơn mài cùng những bức tranh cẩn xa cừ treo trên tường. Trên bức vách ngang treo một bộ Long Lân Quy Phụng thật lớn màu đen, cẩn ốc, treo sát vào nhau.
Người con gái đến bên:
-Bộ này đẹp lắm, mới về mấy ngày. Anh thấy sao?
-Bộ này hình ảnh tuy đẹp, nét vẽ sắc sảo, nhưng tiếc một điều là ốc hơi thiếu sắc, không được chiếu cho lắm. Ốc này không phải là ốc Sát, hay Ngọc Nữ. Họ dùng ốc vụn nhiều quá .
Người con gái nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên hỏi:
-Anh có trong nghề không sao rành vậy?
-Tôi là dân Bình Dương, ổ của tranh cẩn xa cừ mà (xin được mở ngoặc đơn ở đây là tôi không phải là dân trong nghề tranh cẩn xa cừ, mà cũng chẳng biết con ốc Sát hay Ngọc Nữ khác với những loại ốc khác chỗ nào. Sỡ dĩ tôi mạnh miệng nói như vậy là vì tôí hôm qua, Hiệp đã cho tôi bài học về tranh cẩn xa cừ. Hồi xưa, nó làm nghề này kiếm sống nên rất rành rọt.).
-Anh ở Bình Dương?
-Nhà tôi ở ngay chợ Thủ Dầu Môt.
Cô cười:
-Lạ, dân Bình Dương đâu cần phải lặn lội lên Sài Gòn mua tranh? Anh có thật tình muốn mua tranh hay chỉ đi dạo?
Tôi quay lại, nhìn thẳng vào mắt cô, trả lời bằng giọng của một người có tội:
-Thú thật với cô, tôi không có ý định mua tranh. Chỉ vì tình cờ đi ngang qua tiệm này, thấy có nhiều tranh đẹp nên vào xem. Vả lại, tôi thấy cô quen quen, hình như tôi đã gặp cô ở đâu đó một lần rồi.
Tôi chỉ vào Hiệp đang đứng ngắm một bức tranh trong góc:
-Tôi tên Sỹ, còn nó là em tôi, tên Hiệp. Cô có thể cho tôi biết tên đễ dễ xưng hô được không?
Người con gái chớp mắt:
-Dạ tên Bích Vân, nhưng tôi dám đoan chắc là tôi chưa từng gặp anh.
Tôi mỉm cười:
-Tôi nghĩ là cô đúng. Gương mặt của cô nhìn quen lắm nhưng tên cô thì tôi chưa nghe bao giờ. Bích Vân, tên đẹp quá. Tôi không mua tranh Bích Vân có phiền không?
Bích Vân lắc đầu:
-Ồ không, đâu có gì là phiền. Khách ở đây phần đông là du khách, họ cũng vào xem nhiều hơn là mua. Vân quen rồi. Vả lại, sáng nay vắng khách, có người để nói chuyện cũng đỡ buồn.
Mắt tôi bỗng chợt nhìn thấy một bức tranh nhỏ, khổ 16x20 treo trên bức tường sát bên trong. Tôi bước lại gần nhìn kỹ. Đây là một bức tranh làm bằng vỏ trứng, vẽ hai thiếu nữ Việt Nam đang tung tăng bên nhau, những tà áo dài tung bay trong gió. Điểm nổi bật của bức tranh này không phải là hai cô gái mà là màu sắc hài hoà của bức tranh. Người hoạ sĩ đã trộn lẫn màu vàng, màu đỏ, màu nâu và xanh thuỷ và những màu khác một cách tài tình khiến bức tranh có một nét rất độc đáo. Có bức tranh này treo phòng khách cũng đẹp lắm.
Tôi ngắm bức tranh một hồi rồi quay lại hỏi Bích Vân:
-Bức tranh này đẹp quá. Giá bao nhiêu?
-Dạ một trăm năm mươi ngàn. Anh thật có mắt mỹ thuật. Chính Vân cũng rất thích bức tranh này. Bức tranh này có màu sắc rất lạ, rất quyến rũ người xem.
Một trăm năm mươi ngàn tức là mười lăm đô cho bức tranh này thì quá rẻ. Tôi thật không ngờ.
-Cô nói thật đúng, nó cũng như cô chủ bán hàng vậy, rất quyến rũ người đối diện. Tôi lấy bức tranh này, cô gói lại dùm nhé.
Bích Vân gỡ bức tranh xuống, tìm cái hộp của nó rồi gói lại cho tôi cẩn thận.
Tôi móc bóp lấy tiền trả. Khi đưa tiền thối lại cho tôi, Bích Vân chợt nhìn tôi hóm hĩnh, hỏi nhỏ:
-Bao giờ anh trở lại Mỹ?
Tôi thoáng giật mình vì tưởng rằng nãy giờ mình đã qua mặt được cô bán hàng thanh tú này. Không ngờ nàng đã biết rõ chân tướng của tôi.
Nhưng tôi vẫn làm bộ tỉnh bơ, trả lời:
-Chiều nay. Nhưng nhà tôi ở Bình Dương, không phải Mỹ Tho.
Bích Vân mỉm cười:
-Bích Vân nói Mỹ là Hoa Kỳ đó.
Biết không thể giấu được nữa, tôi nói:
-Có lẽ sau tết. Anh về thăm nhà khoảng hơn 3 tuần. Nhưng Bích Vân làm sao biết anh không phải là dân ở đây? Đoán mò hay vậy?
Bích Vân trả lời, giọng tự tin:
-Có gì mà phải đoán mò? Chỉ cần nhìn sơ thì đã biết anh là Việt Kiều rồi. Này nhé, thanh niên ở đây không ai mặc quần short, áo polo bỏ trong quần và mang giầy tennis mới tinh như thế kia. Một điều nữa là ít người mập và trắng như anh. Vân tiếp xúc với du khách mỗi ngày nên nhận ra điều này không khó. Các ông Việt Kiều nhìn là biết liền. Anh không tin hả, để Vân chứng tỏ cho anh thấy.
Rôì nàng chỉ tay về phía ngã tư xéo góc, nói:
-Nè, anh thấy anh chàng mặc áo xanh đang đứng ở cái ngã tư bên kia không? Vân dám chắc với anh hắn là Việt Kiều.
Tôi nhìn Bích Vân nghi ngờ:
-Làm sao Bích Vân có thể biết anh chàng đó là Việt Kiều?
Bích Vân cười nhẹ:
-Dễ thôi, dân ở đây, không ai đứng ngã tư chờ đèn cả. Vì thế, người nào mà đứng chờ đèn xanh rồi mới băng qua đường, thì đoan chắc với anh người đó là Việt Kiều.
Tôi gật gù:
-Đúng, thật đúng. Bích Vân nhận xét hay lắm.
Tôi liếc nhanh vào bàn tay trần, trắng muốt của Bích Vân, trong trí óc tôi bỗng nảy ra một ý tưởng ngộ nghĩnh. Bỗng dưng tôi có ý định làm quen với người con gái này. Tôi không biết tại sao nữa nhưng hình như nơi người con gái này có một cái gì rất hấp dẫn và quyến rũ tôi. Từ gương mặt thanh tú, dáng dấp cân đối cho đến giọng nói nhẹ nhàng, thoang thoảng. Người con gái này đã làm con tim của tôi bồi hồi, rung động.
-Anh có một điều muốn nhờ Bích Vân giúp, không biết có được không?
-Việc gì ?
Tôi nhìn Bích Vân một vài giây dò xét rồi nói:
-Anh xa Sài Gòn đã gần hai mươi năm. Tất cả đối với anh bây giờ đều xa lạ. Bích Vân có thể giúp anh làm quen với phố phường không?
-Bằng cách nào? Làm sao Vân giúp anh được?
-Ý anh muốn nói là Bích Vân có thể làm hướng dẫn viên cho anh những ngày anh ở đây được không?
Bích Vân nhẹ giọng:
-Điều này hơi khó vì Vân phải trông tiệm từ sáng đến tối, nhất là trong những ngày cuối tuần. Xin lỗi anh, có lẽ Vân không thể giúp anh việc này được. Mà Sài Gòn nhỏ như lỗ mũi, Vân nghĩ anh có thể tự mình làm lấy chuyện đó, đâu cần phải có người hướng dẫn.
-Anh biết điều đó, nhưng có người hướng dẫn vẫn vui hơn là phải solo một mình. Thôi bây giờ thế này nhé, anh chỉ xin Vân hy sinh cho anh vài tiếng buổi tối thôi. Chiều nay, anh mời Vân đi ăn được không?
Bích Vân trầm ngâm, suy nghĩ một chút rồi trả lời:
-Chiều nay thì không được, nhưng chiều mai Vân rảnh.
Thật không ngờ, tình thế tiến triển tốt đẹp hơn tôi dự đoán. Tôi đáp nhanh:
-Không sao, tối mai cũng được. Cám ơn Bích Vân thật nhiều . Mấy giờ Bích Vân muốn anh đến đón.
-Bảy giờ. Anh đón Bích Vân tại tiệm.
-OK, bảy giờ. Tối mai, anh sẽ có mặt tại đây.
Tôi và Hiệp đi bộ trở lại chỗ lấy xe mà trong lòng thấy vui vui.

Tôi giật mình mở mắt choàng tỉnh khi nghe tiếng cười nói oang oang của Hiệp và Nhân dưới nhà sau. Nhìn đồng hồ tay mới hơn 9 giờ sáng. Tôi chui ra khỏi mùng, vươn vai mấy cái cho giãn gân cốt rồi lò dò đi xuống bếp. Ngoài sân nắng đã lên cao, trời bắt đầu hâm nóng.
Má tôi đang lui cui nấu nướng. Thấy tôi, bà quay lại âu yếm hỏi:
-Ngủ ngon không con? Đi tắm rửa đi rồi ăn sáng. Hôm nay má nấu bò kho ăn với bánh mì.
Rôì bà dục các em gái tôi:
-Mấy đứa bay dọn bàn, anh mày tắm rửa xong là ăn. Ăn sớm, chút nữa nó còn đi Sài Gòn.
Tôi ngạc nhiên:
-Ủa sao má biết con đi Sài Gòn ?
Hiệp lên tiếng:
-Em cho má biết. Em nói anh tự lái xe đi một mình.
Má tôi nói giọng có vẻ lo lắng:
-Con chạy xe thật cẩn thận nhé. Má nghe nói đường Sài Gòn bây giờ đông xe và người ta chạy ẩu lắm.
Tôi cười:
-Dạ má khỏi lo. Con sẽ chạy cẩn thận. Ở bên Mỹ xe còn đông hơn, người ta chạy nhanh hơn nhiều.
Má tôi hỏi:
-Tối nay con có về ăn cơm không?
-Có lẽ không. Con gặp mấy tên bạn cũ bữa nay, thế nào tụi nó cũng kéo con đi ăn uống. Má và các em cứ ăn cơm trước đừng chờ cơm, có lẽ đến khuya con mới về. Không chừng con ở lại Sài Gòn đêm nay nữa.
-Ừ đi chơi vui nhưng nhớ cẩn thận tiền bạc, giấy tờ
-Dạ, con sẽ cẩn thận. Cám ơn má.
Ăn sáng xong, tôi thay quần áo và chuẩn bị lái xe về Sài Gòn.
Sáng Chủ Nhật nên quốc lộ 13 tương đối vắng. Tôi vặn tay ga hết cỡ cho chiếc xe Honda dame phóng vút trên mặt đường nhựa. Gió thổi bên tai vù vù, tạt vào mặt tôi như xua đuổi và làm bớt đi cái nóng đang bắt đầu dâng trong không khí. Một mình trên chiếc xe, tôi bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm của thời niên thiếu.
,
Năm 1969, bố tôi theo chân các nhà kinh doanh trên đường Minh Mạng, mở thêm tiệm bán xe Honda. Xe được nhập cảng từ Nhật, đóng trong thùng gỗ, cứ ba chiếc một thùng. Để tiết kiệm chỗ, xe chỉ được ráp khoảng 75 phần trăm, 25 phần trăm còn lại nhà buôn phải hoàn tất. Tôi được bố giao cho nhiệm vụ này.
.
Và để thưởng công, bố tôi cho tôi chiếc đầu tiên.
Lần đầu tiên tôi được ngồi trên chiếc Honda, í cha, sao mà nó đã gì đâu! Máy nổ êm ru, vô số, rồ ga xe phóng đi trên đường ngọt sớt. Ngồi trên xe như ngồi trên nệm ghế sa-lông, thật êm ái, không bị ê mông, ê đít như các xe gắn máy làm tại các nước Âu Châu.
.Trước thời xe Nhật, dân Việt Nam chỉ quen xài xe Đức, Pháp, Ý như Mobillette, Velo Solex, Gorbel, Purch, Vespa, Lambretta ... Xe Đức, Pháp hay Ý tuy bền nhưng cục mịch, ồn ào, không tiện nghi và nhất là không êm ái như xe Nhật. Vì vậy, chỉ vài năm, xe gắn máy Nhật đã đánh bật xe gắn máy Đức, Pháp ra khỏi thị trường Việt Nam, nếu không muốn nói trên toàn thế giới. Chỉ có hai chiếc xe của Ý là Vespa và Lambretta là còn ngắc ngoải, sống sót.
..
Đường xá Việt Nam nhỏ, hẹp nên xe gắn máy loại nhỏ rất tiện dụng. Xe gắn máy đối với những nước nhược tiểu, chậm tiến cũng giống như xe hơi tại các nước tiên tiến, là phương tiện di chuyển cần thiết. Vừa tiện lợi, lại đỡ mất thời giờ. Không có nó, cũng như không có chân.
Thời đó, Sài Gòn đối với tôi quá nhỏ. Với chiếc Honda, tôi đi khắp chốn. Từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, đến Phú Lâm, Khánh Hội, Tân Định, Gia Định, Lái Thiêu, Thủ Đức, .... không có nẻo nào tôi không tới, không có chỗ nào tôi không biết. Có thể nói, tôi thuộc đường Sài Gòn như thuộc bản cửu chương.
.
Cái thú nhất của bọn thanh niên chúng tôi mới lớn ngày đó là được làm tài xế cho một người đẹp, nhất là người đó lại là người yêu của mình thì thật là tuyệt vời. Nàng ngồi sát vào mình, tay ôm eo ếch, ngực dựa vào lưng, hơi thở nhẹ vào gáy, thoảng mùi hương của da thịt, của mùi nước hoa, ... ui cha, cái cảm giác thật thần tiên, sướng chết đi được.
Xin cám ơn đời, xin cám ơn trời đã sinh ra phái nữ cho bọn đàn ông chúng tôi còn biết là đời đáng sống.
.
Xin đại diện cho đám đàn ông, thanh niên cám ơn các bà, các cô thật nhiều.
Hồi đó, các cô phải ngồi hai chân một bên. Có lẽ, chỉ có nước Việt Nam chúng ta là có kiểu ngồi độc đáo này. Phải công nhận kiểu ngồi này làm cho người con gái thanh nhã, kiêu sa. Các nước khác, các cô ngồi giống như các cậu, hai chân hai bên, nhìn làm sao ấy.
Mãi suy nghĩ vẩn vơ mà tôi tới cầu Bình Triệu hồi nào không biết.
Cũng như sáng hôm qua, sinh hoạt tại đây thật ồn ào náo nhiệt.
.
Đường phố tràn ngập xe cộ qua lại, ngang dọc, hỗn độn, không một thứ tự nào cả. Tôi phóng xe len lỏi giữa những đoàn xe hơi, xe gắn máy, xe đạp, xe xích lô, xe ba gác, và người đi bộ.
Tuy hỗn độn nhưng vì tốc lực chậm nên tôi cũng dễ dàng luồn lách. Cứ thấy chỗ nào trống là đâm xe nhào vô. Giống như đi bộ vậy.
Cái phiền nhất của việc lái xe ở Sài Gòn là lúc quẹo trái. Ở Mỹ, người ta có lane để quẹo trái, có đèn để quẹo trái.
Ở Sài Gòn không vậy, tới ngã tư, khi muốn quẹo trái, thiên hạ lấn sang nửa phần đường đối diện (cái này mà làm ở Mỹ thì không vô nhà thương cũng ăn ticket), rồi lủi thẳng vô đoàn xe chạy ngược chiều và quẹo trái (nếu bạn chờ như ở Mỹ thì cả ngày cũng không quẹo được). Khi bạn đâm vào đoàn xe ngược chiều, họ sẽ tự động lạng ra và tránh bạn. Thoạt đầu, thấy thiên hạ làm tôi cũng thấy ơn ớn, vì lỡ thằng cha trước mặt mình nó không lạng ra mà cứ đâm thẳng thì mình chỉ có nước vô nhà thương. Nhưng khổ cái nếu không làm vậy thì làm sao quẹo trái. Thôi đành liều như thiên hạ.
Và sau khi thử một vài lần, tôi thấy cũng êm xuôi.
Sáng hôm nay tôi mới có dịp nhìn kỹ và ôn lại đường phố Sài Gòn . Hôm qua, ngồi đằng sau xe của Hiệp tôi không có cảm giác tự chủ. Cho xe chạy lăng quăng hết các nẻo đường mà tôi đã từng đi qua . Từ công trường con Rùa, rồi qua Duy Tân, trường Luật, trường Văn Khoa, chợ An Đông, nhà thờ Ngã Sáu, trường Chu Văn An, chợ Thái Bình, trường Hưng Đạo ... mỗi nơi là một kỷ niệm, mỗi chỗ là một ký ức.
.
Tôi cũng phục tôi thật, mười tám năm đã qua mà tôi còn nhớ được đường, không bị lạc. Đôi khi tới một con đường bị đổi tên, tôi cũng hơi lọng cọng một chút . Tuy nhiên, chỉ vài giây sau tôi đã nhận được phương hướng và xác định vị trí của tôi.
Móc tuí lấy quyển sổ nhỏ ghi địa chỉ của những tên bạn thân, tôi theo đó tìm đến nhà chúng. Một nửa bạn tôi vẫn còn ở Sài Gòn, một nửa đã vượt biên hay xuất ngoại. Một thằng qua đời vì bệnh, một thằng bỏ xác trong tù.
Tôi ghé Khanh trước . Nó ở ngay trên mặt tiền đường Phan Thanh Giản, nay là đường Điện Biên Phủ . Khanh há hốc mồm kinh ngạc khi thấy tôi dựng chiếc Honda trước cửa nhà nó .
Nó chạy tới ôm chầm lấy tôi, nghẹn lời:
-Sỹ phải không ? Trời ơi, mày về hồi nào ? Mày trắng và mập hơn ngày xưa, chút nữa là tao nhận không ra nếu không nhờ cái trán của mày .
Tôi ôm nó mà cũng nghẹn lời . Bạn bè lâu ngày gặp nhau, tay bắt mặt mừng. Tình cảm dâng tràn, mừng mừng, tủi tủi.
.
Một buổi tiệc dã chiến đã được tổ chức thật nhanh, những tên bạn còn sót lại được thông báo và chỉ hơn giờ sau đó, chúng tôi đã cùng nhau ăn uống vui vẻ tại nhà của Khanh.
Chúng tôi kể cho nhau nghe những vui buồn, những kỷ niệm trong thời còn đi học, và những diễn tiến trong cuộc đời sau cái ngày định mệnh 30 tháng 4.
Định mệnh đó đã tách rời anh em chúng tôi, phân tán cuộc đời mỗi đứa.
Hầu hết các bạn tôi đều có gia đình, ngoại trừ Thắng là còn độc thân. Nhưng có lẽ chẳng bao lâu nó sẽ không còn độc thân vì có một cô từ Mỹ về đã chịu ký bản án chung thân với nó. Nó đang làm thủ tục để qua Mỹ theo diện hôn phu.
Té ra, không chỉ các anh Việt Kiều về nước kiếm vợ mà còn có những cô Việt Kiều về nước kiếm chồng nữa.
.
Sau bữa tiệc, tôi về nhà Tân, một tên bạn thân ở Phan Sào Nam, để nghỉ ngơi và tắm rửa trước khi đến gặp Bích Vân. Hai vợ chồng nó cũng có được một ngôi nhà nhỏ, khang trang trong một con hẻm trên đường Trần Quốc Tuấn mà bây giờ gọi là đường 3 tháng 2.
Cuộc sống của Tân và Hương tương đối thoải mái. Tân mở tiệm bán thuốc tây, Hương thì đang làm cho một công ty du lịch. Tụi nó mới lấy nhau chưa được hai năm lại không có con nên rảnh rỗi. Mức sống của tụi nó nếu so với tiêu chuẩn Mỹ thì không bằng, nhưng so với Việt Nam, coi như cũng được trung lưu.
.
Ở chơi với Tân và Hương đến chiều, tôi từ giã chúng để đến Bích Vân. Tân bắt tay tôi xiết chặt và dặn tôi trở lại thăm chúng trong những ngày tôi còn ở Sài Gòn. Tôi bảo chúng đừng lo, trong vài tuần tới, tôi sẽ còn gặp chúng dài dài.
Tôi phóng xe về hướng Sài Gòn, không quên ghé tiệm hoa và mua cho Bích Vân một chục hồng nhung đỏ thắm.
Mặt trời lúc này đã khuất sau những căn cao ốc, để lại những vệt nắng chiều vàng vọt trên các ngọn cây.
Trên đường đến nhà Bích Vân tôi cảm thấy lòng rộn rã.
.
Tay cầm bó hoa bước vào tiệm sơn mài, tôi nhìn quanh hy vọng sẽ thấy Bích Vân. Trong tiệm vắng tanh ngoài một người đàn ông ngồi sau cái bàn giấy. Thấy có khách, ông đứng dậy lên tiếng:
-Chào ông, mời ông vào xem tranh.
Tôi nói nhanh:
-Dạ thưa bác cháu là Sỹ. Cháu muốn gặp cô Bích Vân.
Ông reo lên:
-À cậu Sỹ. Bích Vân đang sửa soạn trên gác. Nó có dặn tôi rằng nếu cậu đến bảo cậu chờ nó một chút. Tôi là bố nó, mời cậu ngồi.
-Dạ cám ơn bác
Tôi ngồi xuống cái ghế đối diện với ông . Người đàn ông trước mặt tôi tuổi khoảng trên dưới 70, tuy mái tóc bạc trắng nhưng gương mặt ông nhìn còn trẻ, ánh mắt còn rất cương nghị.
Ông rót cho tôi một ly nước trà:
-Mời cậu dùng trà. Bích Vân nói với tôi cậu là Việt Kiều mới về thăm nhà, đúng không?
Đưa tay nhận ly trà, tôi đáp:
-Dạ thưa bác vâng. Cháu vừa về hôm sáng thứ Sáu. Mười tám năm rồi cháu mới trở lại Sài Gòn. Cháu về ở đến qua Tết thì trở lại Mỹ.
Ông nhìn tôi, hỏi:
-Ở Hoa Kỳ cậu ở bang nào?
-Dạ thưa bác cháu ở California.
-À, chỗ đông người Việt định cư . Tôi nghe nói bây giờ bên ấy cũng không khác ở đây. Có đủ hàng quán, thức ăn Việt , sách báo tiếng Việt, có phải thế không?
-Dạ thưa bác vâng. Nơi cháu ở chỉ cách trung tâm buôn bán vài cây số.
-Thế về đây cậu thấy Sài Gòn ngày nay thế nào? Có khác ngày xưa không?
-Dạ thưa bác, cháu thấy Sài Gòn bây giờ cũng không thay đổi lắm. Chỉ đông người, xô bồ hơn thôi. Khi cháu rời Việt Nam thì Sài Gòn chỉ có khoảng 3 triệu dân. Bây giờ có lẽ phải hơn 5 hay 6 triệu.
-Cậu nói rằng mười tám năm rồi cậu mới trở lại Sài Gòn. Cậu ra nước ngoài năm 75?
-Dạ thưa bác, vâng
-Thế ngày xưa cậu ở đâu?
Tôi uống ngụm nước trà lấy giọng:
-Dạ, gia đình cháu ở trên đường Minh Mạng, khoảng giữa ngã sáu và ngã bảy, đối diện với chùa Hưng Long. Trước giải phóng, bố cháu buôn bán đồ gỗ.
Ông chợt nhìn tôi một lúc, nhíu mày suy nghĩ, rồi hỏi:
-Nhà cậu bán đồ gỗ trên đường Minh Mạng?
-Dạ vâng.
-Tên hiệu là gì?
-Dạ thưa bác, cửa hàng của ba cháu lấy tên là Văn Lang.
Ông chợt kêu lên thảng thốt:
-Cậu là con ông Văn Lang? Tôi biết ba cậu, và có lẽ tôi cũng biết cậu nữa.
Tôi ngạc nhiên:
-Bác biết bố cháu?
-Ừ, tôi biết ông Văn Lang. Cậu tên gì nhỉ? Mới đấy mà tôi lại quên mất rồi. Rõ chán, cái tuổi già ấy mà.
-Dạ cháu tên Sỹ. Trần Quốc Sỹ.
Ông vỗ đùi:
-Đúng rồi, cậu Sỹ, thảo nào lúc nãy tôi nhìn cậu thấy có nét quen quen. Cậu có người em trai tên Sơn và cô em gái thên Thảo, đúng không?
Tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên:
-Dạ vâng. Thưa bác, cháu vẫn không hiểu, bác quen với gia đình cháu như thế nào?
Ông không trả lời tôi mà lại lẩm bẩm:
-Ba mươi năm, ba mươi năm rồi, nhanh quá ...
-Dạ bác nói gì cơ ạ?
Ông lại nhìn tôi một lúc rồi nói:
- Thật không ngờ có ngày tôi lại gặp cậu. Thật không ngờ...
Nghe ông nói, tôi vẫn còn ngỡ ngàng. Tôi nhìn ông thật kỹ, cố gắng moi móc trí nhớ của mình để xem đã gặp ông bao giờ chưa, nhưng tôi không thể nào nhớ được.
Ông là ai mà biết rõ về gia đình tôi như vậy?
Tôi chưa kịp hỏi thì ông đã lên tiếng:
-Cậu không nhớ tôi chứ tôi nhớ cậu rõ lắm. Ngày đó, cậu chỉ là một đứa bé 12 tuổi. Để tôi nhắc lại một vài điều may ra có thể giúp gợi lại trí nhớ của cậu. Cậu có còn giữ cây thánh giá tôi cho cậu không?
Cây thánh giá? Cây thánh giá? Tôi lặng nhìn ông. Cây thánh giá... Cây thánh giá ...
À thôi, tôi nhớ ra rồi. Tôi lặng nhìn ông lần nữa.
Không thể nào! không thể nào!
Rồi bỗng nhiên mọi việc chợt hiện lên rõ ràng trong trí óc của tôi như một cuộn phim cũ chiếu chậm ...
Năm đó, tôi mới 12 tuổi, đang học đệ lục ở Phan Sào Nam. Một hôm, bố tôi dẫn về nhà một người đàn ông lạ mặt, gọi ba anh em chúng tôi đến và nói:
-Đây là bác Tuệ, bạn của bố. Từ nay, mỗi chiều chủ nhật bác sẽ đến đây để giảng dạy cho các con về Chúa Giê-su và Mẹ Maria. Bố muốn chúng con tìm hiểu về đạo Công Giáo và bác Tuệ sẽ giúp chúng con.
.
Và từ đó, mỗi chiều Chủ Nhật bác Tuệ đến nhà nói chuyện với chúng tôi về Đức Chúa Trời, Chúa Giê-Su và Mẹ Maria. Bác cho anh em chúng tôi mỗi đứa một cây thánh giá nhỏ, một quyển kinh thánh và một chuỗi tràng hạt. Nhưng vì bản tánh con nít ham chơi, chúng tôi học đạo với bác chỉ được vài tháng đầu là còn đều đặn, sau đó, chúng tôi tìm cách lẩn trốn. Bác đến nhưng tôi không có ở nhà vì cứ trưa Chủ Nhật, trước khi bác tới là tôi đã trốn vào trong xóm chơi cho đến chiều tối mới về.
.
Bố tôi vì bận buôn bán nên cũng chẳng để ý. Dần dà bác nản chí và bỏ cuộc. Từ đó về sau tôi không gặp lại bác nữa, cho đến ngày hôm nay . Tôi nghe bố tôi nói là bác có cửa hàng bán tranh trên Sài Gòn, thế thôi.
Cây thánh giá, quyển kinh thánh và chuỗi tràng hạt bác cho, tôi đã bỏ vào một cái hộp sắt để trong tủ áo. Sau ngày tôi ra đi, những đồ đạc của tôi để lại không biết ai cất giữ. Tôi định bụng chiều về hỏi Hiệp về chuyện này.
Tôi reo lên:
-A, cháu nhớ ra rồi. Bác Tuệ, bác là bác Tuệ phải không?
Ông cười lớn:
-Haha, đúng rồi, tôi là Tuệ đây. Không ngờ chúng ta lại có duyên gặp lại nhau như thế này. Bố cậu khoẻ không? Bây giờ bố ở đâu? Còn ở Minh Mạng không?
-Dạ thưa bác, cám ơn bác bố cháu vẫn khoẻ. Sau giải phóng, bố cháu bị đánh tư sản và vượt biên ra nước ngoài năm 79. Hiện nay bố cháu sống ở Thụy Sĩ với mấy đứa em của cháu.
Tôi mở khuy áo trên, lôi ra cây thánh giá vàng đeo trên cổ, nâng lên cho bác xem và nói:
-Cháu không còn giữ cây thánh giá của bác, nhưng cháu có cây thánh giá này. Cháu lập gia đình với một người Công Giáo và trở lại đạo năm 79. Cháu được Cha N. thuộc Dòng Chúa Cứu Thế rửa tội và đã làm con Thiên Chúa được 14 năm rồi.
Ông đứng lên vỗ vai tôi:
-Tốt, tốt lắm. Tôi thành thật chúc mừng cậu.
-Dạ, cháu cũng cám ơn bác và xin bác tha lỗi cho anh em chúng cháu về những gì không phải trong quá khứ. Bác đã bỏ thì giờ và công sức ra với anh em chúng cháu mà chúng cháu lại phụ lòng bác. Cháu thật ân hận.
-Thôi chúng ta nên quên chuyện đó đi. Âu chẳng qua đó cũng là do sự sắp đặt của Thiên Chúa. Lúc nào cậu có điện cho ông Văn Lang, cho tôi gởi lời thăm.
Bỗng có tiếng chân bước trên cầu thang. Tôi nhìn lên, Bích Vân tươi mát trong cái quần jean và chiếc aó thun bó sát màu hồng nhạt đang từ trên bước xuống. Nàng nở một nụ cười thật tươi:
-Anh đến lâu chưa? Xin lỗi đã để anh chờ. Anh biết bọn đàn bà con gái tụi em mà, không bao giờ đúng giờ được. Có chuyện gì vui mà em nghe ba và anh cười lớn thế?
Tôi nói:
-Không sao, anh đang thưa chuyện với ba em. Em không thể tin được những điều anh sắp nói cho em nghe đâu.
-Điều gì?
-Không ngờ anh và ba em ...
Bác Tuệ cướp lời tôi:
-Ba với bố anh Sỹ là bạn thơ. Ba biết anh Sỹ từ ngày anh còn bé.
Đến lượt Bích Vân tròn mắt:
-Thật không? Ba biết anh Sỹ từ trước?
-Ừ, con thấy có lạ không?
Tôi giải thích:
-Bác Tuệ đến nhà dạy đạo cho anh. Nhưng vì ngày đó anh chưa có ơn, lại ham chơi nên không được vào nhà Chúa.
Bác Tuệ cười nói:
-Đúng là quả đất tròn. Những sự việc Thiên Chúa sắp đặt chúng ta không thể biết được.
Rồi ông quay sang Bích Vân:
-Thôi hai đứa đi chơi kẻo trễ. Nhớ về sớm nhé .
-Dạ vâng, cháu sẽ đưa Bích Vân về sớm. Xin phép bác chúng cháu đi.
Tôi đưa bó hoa cho Bích Vân. Nàng cầm lấy bỏ vào cái bình thủy tinh, đổ nước và để lên mặt bàn giấy.
-Cám ơn anh, hoa đẹp quá. Mình đi nhé anh.
Tôi cúi đầu chào bác Tuệ một lần nữa rồi cùng Bích Vân bước ra cửa, trong lòng vẫn chưa hết ngỡ ngàng vì những sự việc vừa xảy ra .
.
Tôi cho xe chạy chầm chậm trên con đường Lê Thánh Tôn với những hàng cây cao rợp bóng. Phố xá đã bắt đầu lên đèn. Bích Vân ngồi sau ôm ngang eo ếch, áp ngực sát vào lưng tôi. Cảm giác êm êm của bộ ngực vun tròn, đầy đặn và mùi nước hoa thoang thoảng khiến tôi lâng lâng, ngây ngất.
Tôi hỏi nàng trong tiếng gió:
-Bây giờ mình đi đâu?
-Anh đói chưa? Nếu đói thì mình đi ăn, còn không mình chạy một vòng phố xá để anh được thấy Sài Gòn ngày nay.
-Anh cũng chưa thấy đói lắm. Trưa mới ăn một bụng với mấy tên bạn. Hồi sáng đến giờ anh cũng đã làm mấy vòng Sài Gòn rồi, cũng không có gì để xem. Hay là mình ra bến Bạch Đằng nhé?
-Vâng, tuỳ anh.
Tôi quẹo trên đường Tự Do, nay là Đồng Khởi, thẳng đường ra bến Bạch Đằng. Tìm chỗ gởi xe, tôi và Bích Vân chầm chậm bước dọc theo bờ sông.
Gió sông thổi lồng lộng, làm rối bời mái tóc ngắn ngang vai của nàng.
Một chút im lặng xen giữa hai đứa.
Tôi không biết Bích Vân đang nghĩ gì trong đầu nhưng trong lòng tôi đang dâng lên một nỗi bức xức, không yên. Tôi là người đàn ông đã có gia đình, đang đi dạo chơi bên cạnh một người con gái xinh đẹp, có lẽ còn độc thân.
Tuy rằng tôi đã dặn lòng là chỉ xem Bích Vân như một người bạn, hay một người em và tôi đã vạch cho mình một lằn giới hạn không thể vượt qua, nhưng thú thật, tôi không biết mình có thể giữ được không. Lúc chiều, tôi có nghĩ đến vấn đề này nhưng lúc đó, tôi cảm thấy rất dửng dưng, chẳng cho là việc quan trọng.
Bây giờ, chạm thực tế tôi mới thấy chuyện không dễ như vậy. Trong lòng tôi một trận chiến ác, thiện đang sắp sửa bùng nổ.
Bích Vân bước nhẹ bên tôi, đầu hơi cúi, bỗng quay nhìn lên hỏi:
-Anh đang nghĩ gì?
Tôi bối rối, phóng tầm mắt về bên kia bờ sông, đáp nhỏ:
-Anh đang nghĩ về em, anh đang nghĩ về anh ... có lẽ anh không nên mời em đi ăn tối nay...
-Anh hối hận đã gặp em?
-Không, em hiểu lầm anh rồi. Anh không hối hận đã gặp em nhưng ...
-Nhưng sao?
Tôi đứng lại, quay nhìn thẳng vào mắt Bích Vân, trầm giọng:
-Em có biết anh đã có vợ và một đứa con gái tuổi mười ba không?
Bích Vân cười nhẹ:
-Em đã biết anh là người có gia đình từ sáng hôm qua. Chiếc nhẫn trên tay anh đã cho em biết điều đó. Thế thì đã sao?
-Em không ngại?
Bích Vân cười ròn:
-Việc gì phải ngại? Làm bạn với nhau một tối, đi ăn với nhau một bữa không phải là tội ác. Nếu em ngại, em đã chẳng nhận lời đi ăn với anh. Anh Việt Kiều ơi, bây giờ là năm 1993 rồi không còn là năm 1960 nữa, anh nên cởi mở hơn một chút.
Tôi ngạc nhiên vì những lời nói của Bích Vân. Không ngờ nàng có lối suy nghĩ buông thả như vậy. Tôi tưởng tôi là người sống ở nước ngoài, tôi phải là người có đầu óc tiến bộ, cởi mở hơn người trong nước. Tôi đã lầm. Bích Vân còn phóng khoáng hơn tôi nhiều.
Tôi cảm thấy yên dạ chút xíu, tuy vẫn còn một chút mặc cảm tội lỗi.
Tôi nhìn thẳng vào mắt nàng:
-Anh hỏi em câu này có hơi tò mò, hy vọng em không phật ý. Được không?
-Anh cứ hỏi.
-Em lập gia đình chưa? Em không đeo nhẫn nên anh đoán là em còn độc thân. Đúng không? Em chưa cho anh biết về em?
Bích Vân chỉ cái băng ghế đá, ngồi xuống . Tôi ngồi cạnh bên nàng, chờ đợi .
Bích Vân giọng thoáng buồn:
-Em là goá phụ đã hơn mười năm. Em sống với ba.
-Ồ, anh không biết. Anh thành thật chia buồn cùng em. Thế còn mẹ em?
-Mẹ em mất năm em còn ở trung học. Em còn một người anh trai cũng có tiệm bán tranh sơn mài ở Sài Gòn. Mẹ mất đi, bố đã già nên em phải thay bố trông coi tiệm. Vì quay cuồng với công việc làm ăn, em chẳng có thì giờ nghĩ đến bản thân, hay nói một cách khác, em chẳng thiết gì đến chuyện đi thêm bước nữa.
-Em còn trẻ đẹp, cũng nên nghĩ đến mình một chút. Đừng phí tuổi xuân. Phải chi ...
Tôi bỏ lửng câu nói, Bích Vân như đoán biết điều tôi muốn nói, nheo mắt nhìn tôi cười nhẹ:
-Ừ, phải chi anh chưa có gia đình nhỉ, em sẽ xin làm người yêu của anh. Chúng ta sẽ thành đôi tình nhân thật đẹp. Chúng ta sẽ hạnh phúc.
-Em nghĩ thế?
-Tại sao không?
-Anh không được như em nghĩ đâu. Chơi với anh em sẽ hối hận. Nhưng mà thôi, tại sao chúng ta lại nói chuyện không tưởng như vậy? Kể tiếp cho anh nghe thêm về em đi.
Bích Vân chậm rãi:
-Ba mẹ em có hai người con. Anh Việt năm nay ba mươi sáu, hơn em hai tuổi, đã lập gia đình và có hai cháu trai. Riêng em, sau khi mẹ mất, em sống với ba và giúp ba trông coi cửa hàng. Xong tú tài, em ghi tên vào Luật nhưng được vài năm thì bỏ.
Tôi ngắt lời nàng:
-Em học trung học ở đâu?
-Anh biết gia đình em theo đạo Công Giáo nên em học ở Nguyễn Bá Tòng
-À, trường này thì anh biết. Hồi còn học Hưng Đạo, anh cũng thường hay đứng cột đèn trước cổng trường trong giờ tan học lắm. À quên, em đang kể chuyện, anh xin lỗi .
Bích Vân kể tiếp:
-Năm 78, em gặp một người đàn ông tên Hiền trong một bữa tiệc sinh nhật của một đứa bạn. Trước 75 anh là một quân nhân tòng sự tại Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng em yêu nhau và kết hôn với nhau cuối năm 80. Giữa năm 82, anh Hiền vượt biên một mình. Em muốn đi chung nhưng anh không chịu vì sợ nguy hiểm. Anh định rằng qua được xứ tự do sẽ làm hồ sơ bão lãnh cho em đi chính thức. Em chờ mòn mỏi gần ba năm trời nhưng không có tin tức gì của anh cả. Cho đến một hôm, em tình gặp được một người, người này có thân nhân cùng đi với chuyến tàu của anh, chị cho em biết là cả chuyến đi bị đắm ngoài khơi và không ai sống sót. Từ ngày đó tới nay, như anh đã biết, em sống đời độc thân với ba em. Đôi khi em tự trách em, phải chi em quyết chí đòi đi theo anh Hiền ngày đó thì có lẽ bây giờ tụi em đang bên nhau tại một nơi an bình nào đó.
Tôi an ủi nàng:
-Sống chết là do sự sắp đặt của Thiên Chúa, chúng ta không thay đổi được. Em nghĩ xem, nếu không có em, bây giờ bố em buồn biết chừng nào.
-Anh nói đúng, cũng vì nghĩ đến vấn đề này mà em không muốn đi thêm bước nữa. Em không nỡ để ba sống hiu quạnh một mình.
-Em vẫn có thể về sống chung với bố sau khi đã lập gia đình.
Bích Vân cười gượng:
-Cũng khó lắm anh. Làm phận gái phải theo chồng. Thí dụ em gặp một người ở nước ngoài như anh, không lẽ chồng một nơi, vợ một nơi?
-Thì em bảo lãnh cho bố ra nước ngoài.
-Anh không biết bố em. Ông nhất định không chịu rời quê hương. Ông nói, tao sinh ra ở Việt Nam, tao phải chết ở Việt Nam. Vả lại, ông muốn được chết và chôn bên cạnh mẹ em.
-Còn anh Việt? Anh cũng có thể lo cho bố được.
-Anh Việt còn gia đình của anh ấy. Ba em không mấy hợp với cô con dâu. Ông cụ coi vậy mà gàn lắm anh ạ.
-Vậy chẳng lẽ em đành ở vậy hay sao?
Bích Vân thở dài:
-Em biết làm sao được.
-Em còn trẻ đẹp lại thông minh, quán xuyến . Anh tin là em sẽ tìm được người xứng đáng ở Sài Gòn này.
-Cám ơn anh đã an ủi em, nhưng em không thấy điều đó sẽ xảy ra.
-Chưa xảy ra không có nghĩa là sẽ không xảy ra...
Bích Vân bỗng hỏi tôi:
-Hết chuyện của em. Thế còn anh? Anh cũng chưa cho em biết gì về anh cả?
Tôi cười:
-Chuyện của anh chán phèo, chẳng có gì đặc biệt.
-Nhưng em muốn nghe.
-Thật không?
-Thật chứ. Kể cho em nghe đi.
-Được rồi anh sẽ kể cho em nghe. Anh sinh ra ở miền Bắc VN, di cư vô Nam năm anh mới ba tuổi. Sống ở Sài Gòn 20 năm, đi lính Không Quân được 5 năm, qua Mỹ được 18 năm, lấy vợ được 14 năm, làm nghề Kỹ Sư được 8 năm ...
Bích Vân bấu tôi một cái nhẹ, ngắt lời tôi:
-Thôi, em không muốn nghe tiểu sử của anh đâu, em muốn nghe chuyện tình của anh cơ.
Tôi cười:
-Em muốn nghe chuyện tình của anh?
-Vâng, anh kể đi
-OK, năm 15 tuổi anh yêu thầm một nàng con gái tên Mai Anh, khi anh còn học đệ Ngũ. Anh chưa kịp tỏ tình thì nàng đã nghỉ học và dọn nhà đi nơi khác. Đó là mối tình thứ nhất hay còn gọi là mối tình con nít của anh. Năm 20 tuổi, anh yêu một nàng con gái tên Ngọc Anh, nhưng vì hoàn cảnh gia đình, và vì anh tự ái hão của một thằng con trai mới lớn, anh đã đánh mất nàng. Sau đó anh gặp Minh Trang, nhưng cũng chỉ được 6 tháng thì hai đứa chia tay. Qua Mỹ năm 75 anh cặp bồ với vài cô nước ngoài với mục đích để khoả lấp sự trống vắng trong lòng và cũng để giải quyết vấn đề sinh lý. Năm 27 tuổi, anh gặp Dung khi đi sinh hoạt nhóm trẻ, và vì không chịu nổi sự cô đơn trên đất lạ quê người, anh đã vội vã kết hôn với nàng. Anh và Dung sống với nhau đến nay được 14 năm và có một cô con gái năm nay 13 tuổi.
-Anh có được hạnh phúc không?
-Anh và Dung không cùng cá tính, sở thích. Những năm đầu thì còn mặn nồng, nhưng càng ngày càng phai nhạt. Thú thật với em, hai đứa sống với nhau vì nghĩa nhiều hơn vì tình. Anh chấp nhận với cuộc sống hiện tại, phần lớn vì đứa con gái của anh, mặc dù đôi khi anh tự trách mình đã quá vội vàng trong vấn đề hôn nhân. Cùng tận trong tim, có lẽ anh vẫn còn nhớ và yêu Ngọc Anh ...
-Chị Ngọc Anh bây giờ ra sao, anh có biết không?
-Anh mới đến thăm Ngọc Anh chiều hôm qua. Nàng đã là hai con thiếu phụ rồi. Anh và nàng bây giờ chỉ còn là quá khứ.
Bích Vân trêu tôi:
-Tiếc không?
Tôi cười gượng:
-Cũng hơi hơi...
-Tội nghiệp chưa ? Ừ nhỉ, phải chi ...
Bích Vân bỗng nhìn tôi với đôi mắt thật dịu dàng. Ánh mắt chứa đựng một sự trìu mến và như đang thầm nói với tôi một điều gì.
Tôi bối rối, quay mặt ra bờ sông để tránh ánh mắt thiết tha, trìu mến ấy.
Gió sông lồng lộng thổi, giòng nước sông Sài Gòn vẫn lờ lững trôi. Lòng tôi đang ngổn ngang với những cảm xúc trái ngược .

Im lặng lại trở về với hai đứa ...
Bỗng Bích Vân đứng lên, cầm tay tôi kéo đi:
-Chúng ta đi ăn thôi. Em đói bụng rồi.
Mắt tôi hướng về chiếc tàu nổi bên bờ sông. Tôi đề nghị:
-OK, mình đi ăn ở nhà hàng nổi kia nhé.
Bích Vân lắc đầu:
-Đừng tới đó. Cái tàu nổi đó chỉ có hình thức bề ngoài. Khách đi ăn ở đó chỉ có tính cách phô trương, khoe của. Thức ăn đã đắt lại không ngon. Để em dẫn anh đi chỗ này, giá bình dân mà đồ ăn thì khỏi chê. Em bảo đảm.
Chúng tôi trở lại chỗ lấy xe. Bích Vân chỉ đường cho tôi đi về hướng chợ Tân Định trên đường Hai Bà Trưng. Tới ngã ba Đinh Công Tráng bên hông chợ, nàng bảo tôi quẹo phải rồi dừng lại trước một con hẻm.
A, thì ra Bích Vân đưa tôi đến một quán ăn lộ thiên. Ở đầu hẻm, thoạt nhìn tưởng quán rất nhỏ nhưng khi bước vào bên trong tôi mới thấy nó lớn. Qua con hẻm với những hàng bếp than hồng san sát là một khoảng sân thật rộng tráng xi-măng, được dùng làm nơi ăn uống. Thiên hạ ngồi chật trên những chiếc ghế đẩu với những chiếc bàn vuông thấp, ăn uống, cười nói vui vẻ. Nhìn quanh, tôi ướm chừng cũng phải trên trăm người.
Bích Vân nắm tay kéo tôi len lỏi giữa đám người đang ăn uống đến một bàn trống trong góc.
Nàng chỉ chiếc ghế đẩu bảo tôi ngồi rồi giới thiệu:
-Ở đây họ sở trường những món nướng. Tôm nướng, cua nướng, chả cá, bún chả, nem nướng và bánh xèo. Họ cũng có các loại bún khô và bún nước. Anh thích ăn gì?
Thú thật, trong đời tôi, đây là lần đầu tiên tôi bị đóng vai thụ động với một người con gái. Thường thường, với những cô khác, tôi đóng vai chủ động: tìm chỗ ăn, gọi thức ăn và săn sóc người đẹp.
Ngược lại, bây giờ tôi đang được một người đẹp săn sóc. Cũng thấy vui vui.
Tôi cười bảo Bích Vân:
-Em gọi thức ăn đi. Em thích ăn món gì, anh ăn món đó. Anh dễ ăn lắm.
-Em đề nghị mình gọi hai cái bánh xèo, một phần bún chả và một tô bún ốc. Hai đứa mình chia nhau ăn chắc cũng đủ.
-Dư đi chứ.
Tôi ra dấu gọi người hầu bàn và đặt thức ăn, không quên gọi cho Bích Vân một ly cam vắt và cho tôi một chai bia lạnh.
Tôi hỏi:
-Làm sao em biết chỗ này? Em có thường đi ăn ở đây không?
-Hồi còn đi học, em và mấy nhỏ bạn hay đi ăn ở đây lắm. Bây giờ thỉnh thoảng em cũng tới.
Một lát sau, người hầu bàn mang thức ăn ra. Mùi thịt nướng, chả nướng xông lên ngào ngạt. Tô bún riêu và dĩa bánh xèo trông thật hấp dẫn.
Tôi múc cho Bích Vân chén bún.
-Chúng ta ăn bún trước nhé?
-Vâng
Bích Vân nói đúng, thức ăn ở đây ngon tuyệt, giá cả lại nhẹ nhàng nữa . Cả bữa ăn, chưa đến 5 đô . Thật khó tưởng tượng .
Sau khi thanh toán hết các món ăn, thêm mỗi đứa một ly kem, tôi bảo Bích Vân:
-No rồi, bây giờ mình về nhé em
Bích Vân nhìn đồng hồ tay, đáp:
-Mới 9 giờ. Còn sớm quá. Em nói với ba mình sẽ về nhà trước nửa đêm. Em muốn đi nghe nhạc, lâu lắm rồi em chưa bước chân vào vũ trường. Anh đưa em đi nhé.
-OK, nhưng mà đi đâu? Anh không biết vũ trường nào ở đây cả .
-Sài Gòn bây giờ cũng có vài vũ trường, nhưng hầu hết họ chơi nhạc mới, new wave, chỉ có Queen Bee là còn nhạc tour. Mình đi Queen Bee nghe anh?
-Ồ, Queen Bee thì anh biết, trong thương xá Eden phải không? Trước giải phóng, anh có đến đó một lần. Hồi đó, tụi anh đâu có tiền đi vũ trường, ngứa chân thì tìm đến các party tại gia, hoặc sang lắm là đến các lớp dạy khiêu vũ nhảy ké.
-Anh có lẽ nhảy giỏi?
-Biết thôi chứ không giỏi. Ở bên Mỹ, thỉnh thoảng cuối tuần anh và Dung cũng đi nghe nhạc. Em thường đi vũ trường không ?
-Ngày xưa còn anh Hiền, tụi em đi thường, nhưng sau này em không còn hứng thú nữa. Nhưng đêm nay em lại muốn khiêu vũ với anh.
-OK, thôi mình đi nhé.
Chúng tôi lên xe trở về hướng Sài Gòn . Ngoài đường xe cộ vẫn ngược xuôi, qua lại .
.
Tuy là tối Chủ Nhật nhưng Queen Bee cũng khá đông dân ghiền nhảy đầm. Sàn nhảy chật ních người.
Một điều tôi vẫn thắc mắc từ mấy ngày nay là với tình hình kinh tế Việt Nam như hiện nay, lương đồng quân cho một đầu người là 30 mỹ kim một tháng, chưa được 400 mỹ kim một năm, nhưng không hiểu thiên hạ lấy tiền đâu mà tiêu xài như vậy. Cứ nhìn các nhà hàng, các quán ăn, các thí điểm ăn chơi thì biết. Quán lớn, quán nhỏ, nhà hàng bậc trung, bậc sang đều chật ních. Ở đâu cũng thấy thiên hạ ăn uống phè phỡn. Ngay cả vũ trường.
Tôi không thể nào hiểu nổi.
Sau khi kiếm được một bàn trong góc, tôi dìu Bích Vân ra sàn nhảy. Tiếng nhạc du dương, trữ tình cùng ánh sáng muôn màu, huyền ảo lung linh đã đưa chúng tôi vào cõi mộng. Tôi và Bích Vân nhảy liên tiếp hết bản này sang bản khác, say đắm, miên man với những bước nhảy , dìu nhau theo điệu nhạc bồng bềnh.
Sau hơn hai tiếng đồng hồ khiêu vũ, tôi chợt nhớ là mình phải đưa Bích Vân về.
Tôi bảo nàng:
-Gần mười hai giờ đêm rồi, anh phải đưa em về nhé kẽo bố mong.
Bích Vân có vẻ thất vọng:
-Tới giờ về rồi hả anh? Thời gian đi nhanh quá. Em chưa muốn về.
-Không được, anh đã hứa với bố là đưa em về sớm.
Ban nhạc bỗng trổi một nhạc phẩm slow quen thuộc với những nốt nhạc thật trữ tình.
Bích Vân nũng nịu:
-Nhà em chỉ cách đây năm phút. Nhảy với em một bản nữa nhé? Một bản này thôi, nghe anh?
-Ừ bản này nữa thôi nhé.
Tôi lại dìu Bích Vân ra sàn nhảy. Nàng quàng hai tay ôm cổ, ép người sát vào tôi. Tôi vòng tay ôm ngang cái eo thon của nàng, xiết mạnh, bước nhẹ theo điệu nhạc. Hơi thở ấm của nàng, mùi nước hoa nhè nhẹ, trộn lẫn với cảm giác êm ái nơi vùng ngực đem lại cho tôi những cảm giác khó diễn tả. Bích Vân dựa đầu vào vai tôi mắt lim dim.
Những âm thanh trầm bỗng, réo rắt của tiếng đàn,tiếng trống trộn lẫn với tiếng hát vút cao của cô ca sĩ xoáy cuộn chung quanh, chan hoà, vang động khắp nơi.
Tôi đang nhắm mắt thả hồn theo tiếng nhạc thì bỗng Bích Vân ghì đầu tôi xuống và đột nhiên hôn tôi thật mạnh bạo. Đôi môi Bích Vân gắn chặt vào môi tôi, cái lưỡi mềm mại của nàng lướt nhẹ, chạm và lưỡi tôi, êm ái. Vì bất ngờ nên tôi không làm sao hơn được ngoài việc trân người tận hưởng những cảm giác thật đê mê, chất ngất đang len lỏi vào trong từng cơ thịt của thân thể.
Người Bích Vân run lên từng hồi, nàng ôm tôi sát hơn, chặt hơn, hơi thở nhanh hơn, dồn dập hơn.
Thời gian, không gian chợt như cô đọng lại.
Tôi không còn cảm giác của những sự việc chung quanh.
Chúng tôi hôn nhau say đắm cho đến khi ban nhạc đánh những nốt cuối của bài tình ca và những cặp trai gái lục tục trở về bàn.
Bích Vân buông tôi ra, mỉm cười, mặt ửng đỏ, ghé tai tôi thì thầm:
-Cám ơn anh thật nhiều . Cám ơn anh đã cho em một buổi tối thật tuyệt vời.
-Không, anh phải cám ơn em mới đúng.
Tôi kéo Bích Vân sát vào mình, hôn nhẹ lên mái tóc nàng, rôì dìu nàng ra cửa.
Ngoài trời dịu mát . Tôi và Bích Vân chậm bước bên nhau về chỗ lấy xe . Bầu trời thật trong với những cụm mây trắng lãng đãng.
Trên tít từng cao, muôn ngàn vì tinh tú lấp lánh như những hạt kim cương vô giá.
Sài Gòn đang đắm chìm trong giấc ngủ .

Khi tôi đưa Bích Vân về đến nhà, bác Tuệ vẫn còn thức ra mở cửa. Ông nhìn chúng tôi cười nhân hậu:
-Hai đứa đi chơi vui không?
-Dạ thưa bác, cháu và Bích Vân đi ăn bún chả Tân Định và đi nghe nhạc ở Queen Bee. Bác chưa ngủ ạ ?
-Chưa, tôi đi ngủ trễ lắm. Già rồi nên ngủ ít.
Tôi cúi đầu chào ông:
-Bây giờ cháu xin phép bác cháu phải về.
-Cậu ở khách sạn nào?
-Dạ không, cháu ở Bình Dương với mẹ và các em.
Ông kêu lên:
-Gì, cậu định về Bình Dương bây giờ?
-Dạ vâng. Đây với Bình Dương chỉ có hơn 30 cây số, giờ này đường vắng chắc khoảng nửa giờ là cháu về đến nhà. Ở Hoa Kỳ, đôi khi cháu lái xe giữa đêm cả trăm cây số.
Ông khoát tay:
-Cậu Sỹ ơi, đây không phải là Hoa Kỳ. Giờ này mà cậu lái Honda trên quốc lộ 13 thì nguy hiểm lắm.
Tôi thắc mắc:
-Dạ bác nói sao, nguy hiểm như thế nào?
Ông chặt lưỡi:
-Cậu không biết chứ dạo này bọn côn đồ, du đãng lộng hành lắm. Chúng cướp xe, đánh người trên quốc lộ như cơm bữa. Hay là cậu ở lại đây đêm nay, mai hẵn về?
Tôi ngần ngừ:
-Dạ thưa bác, cháu thấy hơi bất tiện.
-Có gì mà bất tiện. Nhà tôi còn dư một phòng trống. Cậu cứ nghỉ tạm không sao cả.
Bích Vân xen vào:
-Ba em nói đúng. Anh không nên về Bình Dương giờ này rất nguy hiểm. Ở lại đây đêm nay nhé anh.
Tôi vẫn cố thoái thác:
-Anh không muốn làm phiền bác với em nhiều quá.
Nhưng Bích Vân đã nắm tay tôi:
-Ba đã nói vậy rồi, anh không được từ chối. Đi, đi theo em.
Bích Vân kéo tôi đi về hướng cầu thang. Không thể chối từ, tôi đành lẽo đẽo đi theo nàng như một đứa trẻ.
Bích Vân đưa tôi lên gác, mở cửa một căn phòng trống, bật đèn và nói:
-Phòng này ngày xưa của anh Việt. Anh nghỉ tạm đây. Phòng của em đằng kia, bên cạnh phòng ba. Để em đi lấy khăn và quần áo ngủ cho anh.
Nàng quay lưng và vài phút sau trở lại với một cái khăn tắm và một bộ pajamas.
-Bộ pajamas này của anh Hiền. Anh không ngại chứ?
-Không anh không ngại, cám ơn em.
Tôi đưa tay nhận khăn và quần áo ngủ.
Bích Vân chỉ vào căn phòng đối diện:
-Đó là phòng tắm. Nhà này xây từ thời Pháp, chắc không tiện nghi bằng bên Mỹ, anh chịu khó vậy.
-Đừng lo, ngày xưa anh ở trong quân trường còn thiếu thốn gấp bội. Thôi em đi ngủ đi kẻo trễ. Anh tự lo cho mình được rồi. Chúc em ngủ ngon.
-Chúc anh ngủ ngon.
Bích Vân tiến đến hôn nhẹ lên trán tôi rồi quay gót.
Thay quần áo xong, tôi tắt đèn rồi lên giường nằm. Đầu óc tôi quay cuồng với trăm ngàn ý nghĩ. Tôi nghĩ đến Dung và đứa con gái trong tuổi mới lớn. Tôi nghĩ đến Ngọc Anh và những kỷ niệm xa xưa. Và lẽ dĩ nhiên, tôi nghĩ đến Bích Vân và những giây phút tuyệt vời trong buổi tối hôm nay.
Những gì đã xảy ra, đối với tôi, giống như trong tiểu thuyết.
Nằm thao thức gần tiếng đồng hồ mà tôi vẫn chưa ngủ được. Tôi mở mắt thao láo nhìn trần nhà, rồi xoay mình nhìn ra cánh cửa đóng. Tất cả im lặng, tĩnh mịch, ngoại trừ tiếng tích tóc của cái đồng hồ nhỏ trên bàn cùng tiếng xe ngoài đường thỉnh thoảng vụt qua.
Bên kia cánh cửa, dọc theo cuối hành lang là phòng của Bích Vân. Tôi tự hỏi bây giờ nàng đang làm gì? Nàng đã ngủ chưa hay cũng đang trăn trở, thao thức như tôi?
Bỗng dưng tôi ước cánh cửa kia nhẹ mở và Bích Vân đứng đó nhìn tôi mỉm cười.
Bỗng dưng tôi ước được ôm gọn thân thể ngọc ngà của nàng trong vòng tay, mơn trớn lên những khoảng da thịt nõn nà, mát mịn.
Tôi lắc đầu xua đuổi một ý tường điên rồ vụt thoáng qua: thay vì nằm đó ước cánh cửa kia nhẹ mở, tại sao tôi không đứng lên để đi về cuối cái hành lang?
Có thể nàng cũng đang có cùng suy nghĩ như tôi?
Có thể nàng cũng đang ước cánh cửa phòng nàng nhẹ mở và tôi xuất hiện như một hoàng tử trong truyện cổ tích xưa.
Thật dễ dàng.
Chỉ cần tôi ngồi dậy.
Chỉ cần tôi bước xuống giường.
Người con gái xinh đẹp đó chỉ cách tôi chưa đầy hai mươi bước chân.
Nhưng tôi đã không dậy.
Một cái gì đó trong cơ thể tôi đã ghì chặt tôi, không cho tôi thực hiện ý nghĩ bất chánh đó.
Tôi nằm đó mắt vẫn nhìn cánh cửa.
Tất cả hoàn toàn yên lặng ngoại trừ tiếng đồng hồ tích tóc vẫn vang đều trong đêm vắng .
...

Tôi giật mình tỉnh giấc khi có tiếng gõ nhẹ trên cửa và giọng nói của Bích Vân thật êm:
-Anh Sỹ dậy chưa?
Tôi mở mắt, căn phòng bừng sáng.
Qua bức màn mỏng che cái cửa sổ, tôi có thể thấy ngoài đường nắng đã chói chan. Tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ trên bàn, hơn 8 giờ.
Sáng rồi, tôi nghĩ thầm.
Tôi đã vượt qua được cơn cám dỗ. Tôi đã thắng được chính tôi.
Một nỗi vui mừng pha lẫn chút tiếc nuối chợt xâm chiếm tâm hồn tôi.
Tôi lên tiếng:
-Anh dậy rồi em.
Bích Vân mở cửa, thò đầu vào hỏi:
-Anh ngủ ngon không?
-Cám ơn em, anh ngủ như chết. Hai đêm rồi anh bị mất ngủ vì cà phê và muỗi cắn. Vì vậy, đêm qua anh ngủ thẳng cẳng, không biết trời trăng gì cả.
-Tốt, em chỉ sợ anh lạ nhà, lạ giường không ngủ không được.
-Bố em dậy chưa?
-Ba em dậy từ năm giờ. Ông cụ dậy sớm lắm, pha trà uống và đọc báo. Anh dậy tắm rửa rồi xuống ăn sáng.
-OK, em cho anh mười lăm phút.
Tôi vào phòng tắm mở nước đứng dưới vòi sen, tâm hồn thật thanh thản.
Tôi buột miệng hát nho nhỏ một bài tình ca. Những giòng nước mát lạnh vẫn xối xả trên thân thể tôi mang lại cho tôi cảm giác thật dễ chịu.
Ăn sáng xong, tôi chào bác Tuệ và giã từ Bích Vân ra về. Bích Vân tiễn tôi ra tận cửa. Tôi cầm tay Bích Vân, nói:
-Anh cám ơn em đã nhận lời làm hướng dẫn viên cho anh tối hôm qua. Anh rất sung sướng được quen em. Anh sẽ không quên những kỷ niệm này.
Bích Vân nhìn tôi với đôi mắt hơi buồn:
-Em cũng cám ơn anh đã đem đến cho em những phút giây thật hạnh phúc. Anh về bình yên. Trước khi về Mỹ nhớ ghé em nhé.
-Đừng lo, anh hứa sẽ đến thăm em ít nhất một lần nữa trước khi anh lên đường về Mỹ.
,
Tôi liếc nhìn chung quanh thật nhanh, hôn nhẹ lên trán Bích Vân rồi lên xe phóng về hướng cầu Bình Triệu.
Ngoài đường nắng đã lên cao, báo hiệu cho tôi biết ngày hôm nay trời sẽ rất nóng.