Saturday, May 30, 2009

Trường Thi Sử Quan :

NỐI LẠI VÒNG TAY TÌNH NGƯỜI VIỆT NAM

Dẫn Nhập :

* Trước 30 tháng 4 / 1975, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã ngu muội làm công cụ, tay sai cho quan thày " quỷ đỏ quốc tế ", theo ý đồ "nhuộm đỏ toàn cầu", chủ trương dùng bạo lực cách mạng, khích động " hận thù giai cấp "; lợi dụng tầng lớp Công Nông nghèo khổ, và "lý tưởng Giải phóng Dân Tộc " của bao Anh hùng Chiến sĩ Yêu Nước Bảo vệ Quê Hương; biến người Dân Việt Nam, đã nghèo khổ, tang thương, lại càng thêm tả tơi, đói rách !..

* Thời điểm 30 tháng 4 / 1975, kết thúc một cuộc chiến tranh ý thức hệ đẩm máu, huynh đệ tương tàn, nhưng để lại bắt đầu một cuộc chiến khác, dai dẳng hơn, trong hơn ba mươi năm qua, giữa những người Dân Việt Yêu Nước và lý tưởng Dân chủ, Tự do, đối đầu với sự chuyên chế, phi nhân, ngu muội của chính quyền cộng sản độc tài Việt Nam đang làm chủ nhân ông một Nước Việt đã liền lạc về một mối từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau .

* Đã hàng triệu người Dân Việt bỏ nước ra đi để mưu cầu một đời sống mới có được sinh khí của ánh sáng Tự do, Dân chủ và Phồn vinh ...
* Đã có bao lớp người Việt vong thân trong lòng biển mặn và cả nơi rừng sâu trong hành trình tìm Tự do ...
* May mắn có Đấng THIÊN THƯỢNG ĐẾ Thiêng Liêng Vĩ Đại Tối Cao phù hộ cho ngày nay, có hơn 3 triệu người Việt tỵ nạn đang được sống đời an lành, tự do, vui sướng tại nhiều quốc gia văn minh tiên tiến trên thế giới .

* Trong muôn vạn cảnh đời vật vả với cơm áo vươn cao trên đường dài vạn dậm, trong hạnh phúc sự nghiệp cuộc đời với tình yêu đội lứa vuông tròn, người Việt lưu vong vẫn hằng mong tìm một con đường Ánh Sáng Mới cho một ngày được “Chắp đôi cánh tin yêu, hy vọng bay cao, trở về lại Quê Hương có dòng sông tuổi thơ êm đềm, dựng lại mái nhà xiêu vẹo, bên đàn trẻ nhỏ, cùng kể chuyện Âu Cơ, Phù Đổng “ Trong ý nghĩa đó, Lý Nguyễn Thiên Quý trân trọng gửi đến Đồng Bào Việt Nam trong và ngoài nước : Trường Thi Sử Quan NỐI LẠI VÒNG TAY TÌNH NGƯỜI VIỆT NAM, đã được viết trong Tâm cảm 30 năm người Việt tỵ nạn, tóm lược cả quảng trình Lịch sử Việt Nam 30 năm chiến tranh “ Huynh Đệ tương tàn ", bởi sự " ủy nhiệm ", áp chế, vô lương của ngoại bang, và hiện thực đời sống người Dân Việt 30 năm qua, sau 1975, có nhiều bất công, đau khổ, khốn cùng trên quê hương, và cả nơi những mãnh đời người Việt lưu vong, tỵ nạn tại hải ngoại; đồng thời cũng là trường ca Nhân bản của Niềm Tin Yêu Ngọt Ngào, lãng mạn, yêu thương Con Người, Cuộc Đời, tôn vinh giá trị Tình Yêu, Hạnh Phúc Cá nhân hòa lẫn với Hạnh Phúc Tha nhân, cùng kết dính trong Tình Yêu Tổ Quốc và Lý tưởng Tự do, Dân chủ, tạo nên sức mạnh Tổng Lực Toàn Dân, xóa tan bóng tối đêm đen trên Quê Hương Việt Nam, cho những hung tàn, đau thương, thù hận, của một thời nô lệ ngoại bang, sẽ bị nhạt nhòa, tiêu tán vào dĩ vãng của lịch sử đã sang trang ; cho viết nên Trang Sử Mới của Bình Minh THIÊN VIỆT ngày xanh tươi, rạng rỡ, huy hoàng, dân chủ, tự do, công bằng, bác ái trên quê hương, an lạc, hạnh phúc vĩnh hằng..


*******************************************************************


* Tiếng Hát Thiêng Liêng đi vào cuộc đời ..
* VIỆT NAM / Con Rồng Châu Á ! / Yêu Thương / An Hòa , ngàn đời!..
Ánh Sáng Mới NHÂN-HIẾU-NGHĨA-MINH-TRÍ-DŨNG
Thăng hoa Phúc Lợi toàn Nhân loại

* TRƯỜNG THI SỬ QUAN
.
NỐI LẠI VÒNG TAY TÌNH NGỪƠI VIỆT NAM

Tác Giả : Khải Huy - LÝ NGUYỄN THIÊN QUÝ

1 / * Những năm tháng đi rong
Những vùng phố xa ..
Những bước chân mòn / Rêu phong !
Ngày trở lại
Đôi cánh tay khẳng khiu vẫn muốn ôm trọn vòng trái đất
Con phố Bolsa / Như thuở nào ..
Những mồ hôi đổ ròng
Tiếng cười / Nước mắt!...
Nơi quê nhà,
Đồng bào Việt Nam tôi, còn khốn cùng !
Trong đêm sâu
Tôi viết bài thơ “ Niềm Tin Yêu...”
Mong tìm / Hy vọng
Những vòng tay kết nối vòng tay ..

2 / * Ba mươi năm tỵ nạn
Ghi lại đôi dòng lịch sử
Ba mươi, tháng tư, một chín bảy lăm
Con bọ sắt từ rừng xanh còn vướng nơi đôi chân những mảng da,
thịt, tóc, bê bết máu đỏ
Hất sập cửa dinh Độc lập !..
Kẻ tung hô ăn mừng chiến thắng
Người xô thân vào những nông truờng ..
Lao cải !
Gậm nhấm tủi hờn :
Đồng minh bỏ chạy !
Nước - Nhà - Tan !..

3 / * Ba mươi, tháng tư , một chín bảy lăm
Những Mẹ già, Vợ hiền phương Bắc
Bao năm lưng còng, mắt mõi ,
Trông ngóng đứa con yêu
Bao năm lao động vinh quang ..
Chờ đợi bờ vai chồng
Ngày nhận được tin cờ sao phất phới Sài Gòn,
Nhận thêm chiếc ba lô có đôi dép râu,
Cây bút cùn,
Bộ quần áo xanh còn khét mùi thuốc súng,
Dăm lá thư viết vội nhòe nhoẹt nhớ, thương..
- Nhận mảnh bằng chồng, con : Liệt Sĩ !
Thiên cổ sầu !..

4 / * Ba mươi, tháng tư, một chín bảy lăm
Phương Nam
Những Mẹ già, Vợ hiền, bầy trẻ dại
Quấn vành khăn sô trắng
Khóc chồng, con,
Bao Chiến Sĩ Vô Danh
“ Vị Quốc Vong Thân “ giờ thứ hai mươi lăm cuộc chiến !
Khóc những Anh hùng tuẩn tiết ..
Khóc Cha, Anh bao năm can trường, gian lao quên thân mình
Vì Tình Yêu Quê Hương Tự Do
Bổng thành kẻ tội đồ !..
Khóc cuộc đời dâu bể ..
Kẻ ở miền sâu hò reo đi vào thành phố
Ngươì nơi thị thành thất thểu về chốn hoang vu !..

5 / * Biển Đông sóng cuồng
Sóng vổ nát những mảnh thuyền nhỏ bé
Sóng dập dồn những xác người tít tắp khơi xa
Dòng máu LẠC tuôn trào trăm bờ bến lạ
Trăm bờ bến lạ ..
Trăm triệu dòng lệ VIỆT !..
Kiếp trùng khơi
Lưu lạc ..
Ngày hoang sơ
BUỒN !

6 / * Một chín bảy lăm / Hai ngàn lẻ năm
Ba mươi năm !
Ba mươi năm !
Còn vọng lên bao hồn Tử sĩ từ huyệt khô, trong rừng sâu, tiếng hờn căm!
Còn âm vang trên biển Đông tiếng thét gào kinh hoàng !..
Còn nước mắt không tan..
Lạc loài / Trăm bến lạ / Mang mang!..

7 / * Ba mươi năm
Bài học thân phận nhược tiểu da vàng
Con cờ cho quyền lợi các quan thày Pháp, Mỹ, Nga, Hoa !..
Ánh sáng khai hóa của thực dân Pháp có phóng chiếu Văn hóa Việt tộc
thăng hoa ..
Nhưng người Dân Việt đã triền miên sống trong đau khổ
Bị làm nô lệ, bị hà khắc, áp chế, bóc lột tận tủy xương !..
Dẫn đến cuộc chiến “ Huynh Đệ tương tàn “ !..
Quỷ Nga, Tàu cộng đã lợi dụng người Việt Nam, thỏa mộng nhuộm đỏ toàn cầu
Cổ pháo chiến xa T 54, phi đạn B 40, súng cối 82 ..
Đêm đêm nổ tung tóe những ngôi nhà dân lành vô tội !
Thực dân mới, Hoa kỳ, nhân danh bảo vệ thành trì Tự do,
Đã tưới đô la, vũ khí, bom đạn làm lở loét cơ thể hình chữ S !..
Việt Nam ly loạn !
Việt Nam đau thương !
Phụ nữ Việt Nam biến thành miếng mồi ngon của đàn ông quốc tế !
Xương máu Thanh niên Việt Nam đã trải dài dọc đường Trường Sơn gió bụi..
Đầy ắp trong rừng sâu, trên đồi hoang nóng cháy ...
Và cả trong lòng biển mặn ngàn khơi !..
- Những vành khăn sô trắng
Vỡ tan giấc mộng hồng ..
Những vành khăn sô trắng
Đem theo đời lưu vong ..
Những vành khăn sô trắng
Thiên cổ sầu !..

8 / *Ba mươi năm
Biển đời xô động
Bên kia bờ Thái bình
Những kẻ thắng trận, trên ngôi cao, một thời tôn thờ giáo điêù sắt máu,
xiềng cổ dân đen lao dịch
Tuổi già nua, hết quyền, giả hiệu tung hê giáo điều rửa nát, vớt chút hư danh!
Đám cầm quyền kế tục say mồi vinh hiển
Miệng thuyết chủ nghiã quỷ đỏ Mác Lê
Tay vơ vét đô la Âu, Mỹ !
Võng lọng ..
Rượu thơm ,
Gái đẹp / Xuân xanh da thịt trắng ngần !
Tiếng cười thác loạn thâu đêm ..
Vắt kiệt máu dân lành !
Ngày lại ngày
Triệu, triệu cảnh đời cùng khổ
Bệnh tật / Lở loét thịt da !
Đói nghèo ! / Tội lổi !..
Những trẻ em lang thang không nhà
Thất học !
Vét chút cơm thừa bên đám ruồi nhặng bu đen !
Ngủ dưới gầm cầu
Gia đình ? / Tình thương ?
Chỉ trong giấc chiêm bao!..

9 / * Ba mươi năm
Biển đơì xô động
Bên đây bờ, con phố nhỏ, Bolsa
( Nơi đất nước giàu mạnh nhất tinh cầu
Ngày ngày tuôn hàng tỉ đô nuôi quân bốn phương, thỏa mộng siêu cường
bá chủ thế giới! )
Vẫn nhiều mảnh đời Việt Nam khốn khổ
- Người đàn ông lở loét mảng da đầu
Ngày lại ngày
Ngồi bệt trứơc cửa hàng “ Food to go “
Dằm dằm hộp cơm trắng với nước tương đen!
“ Ăn vầy ngon rồi / Cốt tu mà / Tiền nhiều nặng, làm chi ?! “
Bên kia đường trước tiệm tạp hoá
- Cô gái bù xù mái tóc, ngồi xổm bên đống mền, gối
Cười ngoặc ngoẻo / Nói lãm nhãm..
“ Hả ? Việt Nam hả ? Ông Việt Nam hả ? Đi ! Đi đi ! “
“ Đi đi ! Tôi không nói chuyện với người Việt Nam !.. “
Một thiếu phụ khác, đã qua thời thanh xuân vàng son dưới ánh đèn màu
Tay kéo túi đựng quần áo rách
Tay cầm mấy nhánh hồng héo đen mời khách qua đường mua !
- Trong bóng tối lờ mờ
Người thanh niên nằm vật vả trên lề đường
“ Tôi muốn chết ! Tôi có tội ! Tôi không muốn sống nữa !..”
“ Tại sao anh muốn chết ? Anh tội gì ? “
“ Tôi có tội với người Việt Nam !.. Tôi muốn chết !..”
- Trong đêm khuya
Bà già bảy mươi tuổi gầy đét như que củi khô
Kéo lê lết bốn chiếc xe sắt hàng chợ
Chứa đầy giấy carton, lon, vỏ chai
Đêm nay về đâu ? Ngủ đâu ? !
- Những sáng, trưa
Người trung niên ngồi bày hàng bảng “ homeless “ nơi góc phố,
nhận từng 25 cent !
- Nhiều trai trẻ vô gia cư gầy ốm, da xanh mét ..
Tụ tập góc phố, hốc hác kiếm từng bửa “ food to go “
Lây lất buổi chiều hôm !...
Nhiều kẻ dư thừa cơm áo, vẫn dửng dưng trước nổi đau đồng loại
Vài kẻ lợi dụng “nỗi đau đồng loại “, gạt lường, mua bán !..
Những kẻ đã dư thừa cơm áo dẫm đạp lên nhau, mưu tìm danh vị hoang tưởng
Nhiều thiếu niên bỏ học, mãi mê bên súng đạn cần sa, ma túy
Nhiều các bạn trẻ tôi quen không viết nên hai chữ “ VIỆT NAM “ !..

10 / * Những năm tháng đi rong
New York, Chicago, San Francisco..
- Những thành phố hoa lệ của đất nước dư thừa súng đạn, phi cơ, tàu chiến
và hàng triệu tấn bom nguyên tử ..
Tôi đã nhìn thấy rất nhiều những hàng người da đen, da trắng,
dài nửa cây số
Đứng trong sương khuya, gió rét; dưới nắng hè nóng bức
Chờ những bàn tay nở hoa từ ái !..
Ngày trở lại , Bolsa , những người da vàng !..
Tôi đã ngồi xổm , ngồi bệt xuống cùng với những người bất hạnh
Chia ra những gì trong túi tôi , trong nhà tôi ..
Góp thêm chút sức lực, thời gian tôi có
Nhìn thấy được chút nét cười trên những khuôn mặt đã in đậm vết đời đen !..

11 / * Ngày ba mươi, tháng tư, hai ngàn lẻ năm
Tôi hòa lẫn bên những tấm lòng còn hoài niệm tháng tư đen tại cả 3 nơi
Trường học gần đường Brookhurst vài mươi người vổ tay hoan hô ban tổ chức
Khu Phước Lộc Thọ, hơn trăm người trương biểu ngữ tuần hành hô to
“ đả đảo Hồ chí Minh “
Khuôn viên Tượng đài Chiến sĩ hàng trăm người trang nghiêm hành lể
Cảm nghe trong thinh không vang vọng khúc quân hành ca hùng tráng
Của bao Anh Hùng Liệt Sĩ đã Hy Sinh vì Chính nghĩa Bảo vệ Quê hương !..
Hưng phấn hồn tôi màu xanh cuộc đời ,
Ngày mai !..

12 / * Những bước chân mòn / Rêu phong
Ngày trở lại
Mái tóc điểm màu sương tuyết
Đôi cánh tay khẳng khiu vẫn muốn ôm trọn vòng trái đất
Tôi gặp Em
Thiên Thần áo trắng
“ Niềm Tin Yêu Ngọt Ngào “
Cho tôi tình yêu đắm say như thời tuổi học trò đi rong dưới hàng hoa phượng đỏ
Cho tôi vòng tay Em thiết tha nối dài vòng tay tôi, ôm giữ Tình Người Việt Nam.

13 / * Tình Người Việt Nam !...
Tôi với Em chỉ vòng tay nhỏ bé !
Ba mươi năm tỵ nạn
Đã , đang có nhiều vòng tay lớn ..
- Những Anh hùng đã vong thân trên đường quang phục Quê hương :
Liệt sĩ Trần Văn Bá, Hoàng Cơ Minh, Lê Quốc Quân..
- Những tấm gương Kiêu dũng, đấu tranh cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền :
Nguyễn Đan Quế, Lý Tống, Nguyễn Chí Thiện, Võ Đại Tôn, Đoàn Viết Hoạt,
Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn,
Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Lê Nguyên Sang, Lê Thị Công Nhân …
Luôn hiên ngang, bất khuất trước bạo quyền !..
- Những tâm hồn kết dính Tình yêu Đất Nước, Con Người Việt Nam :
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam
( Vietnam Human Rights Network )
Ủy ban Cứu Người Vượt Biển / Boatpeople SOS..
Phong trào Hưng ca / Về nguồn / Nguyệt Ánh, Việt Dũng..
Nhóm Thiện nguyện giúp thuyền nhân tại Phi / Trịnh Hội, Kỳ Duyên..
- Những bàn tay nở Hoa Từ Ái, Yêu Thương Người Khổ Nạn :
Hội Bạn Người Cùi ( Friends of the Lepers in Vietnam )
“ Vòng Tay Nhân Ái Cứu Người Khổ Đau “
Ngọc Minh, Mỹ Huyền, Anh Dũng, Thụy Trinh, Minh Phượng, Ý Lan,
Philip Huy, Hương Lan, Diễm Liên, Orchid Lâm Quỳnh, Dạ Nhật Yến,
Trish Thùy Trang
Bé Quỳnh Như, Bé Xuân Mai, Bé Đan Vy, Bé Bảo Ngọc ...
Và nhiều Ca Nhạc Sĩ khác ...
- Quỹ Từ Thiện TERESA / Vũ thành An..
Nhóm Từ Thiện Love Across The Ocean / Leyna Nguyễn..
Nhóm Từ Thiện Phương Dung, Hà Phương, Phi Nhung, Thái Nguyên
và Bích Ngọc
Đã sáng lên Tình Người Viêt Nam !..
- Những Tuổi Trẻ Hướng Thượng, Hướng Thiện, tràn trề sức sống thanh xuân :
Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam, Nam California
Gồm nhiều bạn trẻ dấn thân, tự tin, năng động,
Gần gũi, gắn bó với sinh hoạt phục vụ Cộng đồng ..
- Còn nhiều nữa,
Những Tâm Hồn Cao Thượng ..
Những Tấm Lòng Nhân Nghĩa, thầm lặng giúp đời ở khắp mọi nơi..
SÁNG LÊN TÌNH NGƯỜI VIỆT NAM !..

14 / * Niềm Tin Yêu Ngọt Ngào !..
Tôi vẫn mong tìm / Trông ngóng
Đợi chờ / Hy vọng
Thêm nữa / Nhiều hơn nữa
“ TÌNH NGƯỜI VIỆT NAM “
Dòng máu LẠC đã tuôn trào trăm bờ bến lạ
Ba mươi năm
Kết Nối lại ! Kết Nối lại !..
- Đem Yêu Thương xoa dịu những khốn cùng
- Đem Yêu Thương vùi sâu những hung tàn
- Đem Yêu thương xóa lấp vết thù xưa..
Hạnh Phúc Lên Ngôi !.

15 / * Niềm Tin Yêu Ngọt Ngào !
Tôi đã nghe Tiếng Hát từ TRỜI cao ..
Tiếng hát của THIÊN LÝ nhiệm màu
Tiếng hát của CÔNG LÝ con người
Nhân Nghĩa thay cho bạo ác
Tình Thương thế chổ hận thù
Tiếng hát Thiêng Liêng đi vào cuộc đời ..
Xoay động Càn Khôn
Kết tụ ÁNH SÁNG MỚI TÂM LINH , NHÂN ĐẠO
Diệu kỳ !..
Ánh Sáng Mới Minh Vương Trời Đông
Anh minh , Liêm chính , Công bình
Kết nối trăm triệu trái tim Việt Nam
Kiến Tạo Đời An Lành
Ánh Sáng Mới NHÂN-HIẾU- NGHĨA-MINH- TRÍ-DŨNG
Thăng Hoa Phúc Lợi Toàn Nhân Loại
Hạnh Phúc Vĩnh Hằng !..

16 / * Niềm Tin Yêu Ngọt Ngào !
Xin nối lại vòng tay !
Những Vòng Tay Kết Nối Vòng Tay ..
HẢI NGOẠI - SÀI GÒN - HÀ NỘI - HUẾ ..
Một Mẹ ÂU CƠ
Hơn bốn ngàn năm lịch sử kiêu hùng chống ngoại xâm..
Xin nối lại ..
- NỐI LẠI VÒNG TAY TÌNH NGƯỜI VIỆT NAM !
Ngày mai ..
VIỆT NAM / Con Rồng Châu Á !
Yêu Thương / An Hòa
NGÀN ĐỜI !..

* Kính tặng Toàn Thể Đồng Bào Việt Nam Trong và Ngoài nước
* Orange County / USA / 4 giờ sáng thứ hai 30 / 05 / 2005 /

Khải Huy - LÝ NGUYỄN THIÊN QUÝ


LUÔN MỘT NIỀM TIN
* Tôi vẫn luôn một niềm tin
Cuộc đời vui như là mơ ..
Tôi vẫn luôn một niềm tin
Cuộc đời đẹp như bài thơ..
Tôi vẫn luôn một niềm tin
Đấng THIÊN THƯỢNG ĐẾ rất công minh
VIỆT NAM muôn đời An Bình


*************************************************


* EMAIL : * LyNguyenThienQuy@yahoo.com

*************************************************

* TIên Tri trong cuối năm Giáp Ngọ 2014
Chế độ cộng sản độc tài Việt Nam sẽ bị tiêu vong
Theo MỆNH TRỜI An Định
Chính Thể mới CỘNG HÒA BÌNH XÃ THIÊN VIỆT
Được Thành Lập từ đầu năm 2015
Kiến Dựng Đại Thành Công Chế Độ BÌNH XÃ THIÊN VIỆT
Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Bằng, Bác Ái
Văn Minh, Thịnh Vượng, Hạnh Phúc Toàn Dân THIÊN VIỆT Muôn Năm .

LÝ NGUYỄN THIÊN QUÝ

*******************************************************************
TRỞ VỀ ĐẦU TRANG


Friday, May 29, 2009

Non cao tuổi vẫn chưa già
Thái Công Tụng

.
AbstractsThis paper seeks to present the theory of continental drift and the plate tectonics, helping to explain the presence of volcanoes, earthquake and the formation of mountains. The earth‘s lithosphere is broken into huge fragments, called tectonic plates which are not fixed but slowing moving on top of the mantle of the earth. They may diverge on the ocean floor, providing space for hot magma from the interior of the earth to emerge as lava which solidify when they meet cold sea water to form mid -ocean ridges. They may collide, with one plate pushed underneath the other, provoking earthquake and volcanoes. Plate tectonics help explaining why earthquakes are present in specific zones, namely along the ring of fire along Pacific ocean and countries around Mediterranean sea.
.
1. Tổng quan
Khi nói "non cao tuổi vẫn chưa già" (Tản Đà) dĩ nhiên là nói tượng trưng, nói theo nghĩa bóng. Nói theo nghĩa đen và nếu so với tuổi đời người thì các ngọn núi đều già. Thực vậy, với câu thơ:
.
Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy
Cuộc phù du trông thấy cũng nực cười
.
cho thấy đời người nếu sống đến 100 tuổi thì cũng dài ba vạn sáu ngàn ngày chứ thực ra, tuổi thọ con người chỉ chừng 75 tuổi với đàn ông và 81 tuổi với đàn bà. Nguyễn Du há chẳng phảì sử dụng chữ trăm năm nhiều lần trong thi phẩm bất hủ của cụ
.
-Trăm năm trong cõi người ta,
-Trăm năm tính cuộc vuông tròn,
-Trăm năm đo một tấm lòng từ đây,
-Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay,
-Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương,
-Trăm năm biết có duyên gì hay không- v.v...
.
Tuy nhiên trong địa chất học thì đơn vị đo tính tuổi không phải là 1 năm hoặc 100 năm mà là 1 triệu năm (tức là 1 và thêm 6 con 0 nữa ! ).
.
Người ta có một thành ngữ ‘già như Trái Đất’. Thực vậy, từ lúc Big Bang "Thuở trời đất nổi cơn gió bụi " trái đất già đến 4 tỉ năm, sinh ra trong những điều kiện thiên nhiên rất khác với ngày nay, nghĩa là gió bụi mù mịt. Suốt một khoảng thời gian rất dài, với nhiều đá phun trào từ lòng trái đất, với mưa rơi mưa rơi, bào mòn, xói lở... Rồi Trái Đất bị ngui lại dần.
Nhiều câu hỏi địa chất thường nêu ra:
.
- Vì sao miền Tây nước Mỹ như tại Tiểu Bang Cali bị động đất luôn mà miền Đông lại không bị ?
- Vì sao các xứ quanh bờ Địa Trung Hải như Ý, Maroc, Turquie, Nam Tư thường bị động đất mà các xứ Bắc Âu lại không ?
- Vì sao có núi lửa ?
- Vì sao miền Bắc từ Vịnh Hạ Long, Ninh Bình đến Quảng Bình thì rất nhiều đá vôi mà trong Nam lại ít có đá vôi ?
- Vì sao có vài thực vật rất xưa cùng có mặt cả ở Nam Mỹ lẫn Ấn Độ, Nam Phi là những nơi rất xa nhau về địa lí ?
- Vì sao trên giãy núi Himalaya lại có vỏ sò ốc bion ?
- Vì sao cấu trúc địa chất ở vùng Tây Phi Châu giống y như cấu trúc địa chất vài vùng miền Đông Nam Mỹ
.
Vật đổi sao dời : Hôm nay đất liền, ngày mai hải đảo (nói hôm nay, ngày mai là nói theo thời gian địa chất). Hôm nay còn bion, ngày mai một hòn đảo do các phun trào từ lòng đất dâng trào lên tạo nên. Và cứ thế, những chuyện vật đổi sao dời từ hàng trăm triệu năm nay cứ diễn tiến, ảnh hưởng đến sự tiến hoá của sinh vật, từ động vật không xương sống tiến lên động vật có xương sống, từ động vật dưới nước tiến hoá lên động vật lưỡng cư, rồi trên cạn, từ thực vật sơ đẳng tiến hoá lên thực vật cấp cao, mọc thành rừng dày, ảnh hưởng đến những vùng có tài nguyên như than đá, dầu hoả, quặng mỏ mà nền văn minh nhân loại mỗi ngày mỗi cần đến.
.
Vì lịch sử địa chất xưa như vậy, nên trong ngành địa chất học, người ta phải chia ra nhiều thời kỳ khác nhau đo dễ thảo luận (nguyên đại Cổ sinh Paleozoi, nguyên đại Trung sinh Mesozoi, nguyên đại Tân sinh Cenozoi ), nhưng các nhà địa chất cũng chỉ biết lịch sử trái đất từ vài trăm triệu năm trở lại đây mà thôi, do nghiên cứu các hoá thạch và các phương pháp dùng đồng vị phóng xạ để đo tuổi.
Nhờ các kỹ thuật cổ từ học (paléomagnétisme), ta được biết "xưa thật là xưa, nhớ mấy cho vừa", hình hài trái đất ta ở không phải có dạng như bây giờ.
.
2. Thuyết trôi dạt lục địa của Wegener
Nhà bác học Đức Wegener nhận xét cấu tạo địa chất bờ biển phía Đông xứ Bresil ở Nam Mỹ cũng tương tự như bờ biển phía Tây Phi châu và nếu trên bản đồ, ta ráp lại hai bờ biển của hai vùng thì hai bờ biển đó dính liền được. Nhiều thực vật cổ xưa có mặt cùng ỏ Nam Phi, Ấn Độ, Nam Mỹ.
.
Từ các nhận xét đó, Wegener lần tìm ra nhiều luận chứng về địa chất, địa hình, thực vật chứng tỏ xưa kia các lục địa ngày nay riêng rẽ nhưng cách đây 220 triệu năm, Nam Mỹ còn dính với Phi Châu, Bắc Mỹ còn dính với Âu châu, Ấn Độ ngày nay thì lúc đó còn tận dưới Nam Phi Châu, tất cả tạo thành một siêu đại lục có tên là Pangea. Dần dà sau đó, cỡ cách nay 200 triệu năm, Pangea nứt ra thành từng mảng, đầu tiên ra hai mảng lớn, hai lục địa cổ là Gondwana và Laurasia. Gondwana gồm các châu Phi, châu Úc, Ấn độ, Nam Mỹ, Nam cực ngày nay còn Laurasia gồm Bắc Mỹ và lục địa Âu-Á.
.
Sau đó, quãng cách nay 135 triệu năm, các lục địa trên lại tiếp tục phân rời, nhường chỗ cho các đại dương: châu Phi và Nam Mỹ tách ra, tạo nên Nam Đại Tây Dương, còn Laurasia cũng tách ra, tạo thành bắc Đại Tây Dương.
.
Mảng Ấn Độ đã bắc tiến trong đêm dài của lịch sử địa chất và chỉ đụng phải với mảng Trung Hoa cách đây chỉ vài chục triệu năm, và sự đụng chạm giữa hai mảng này tạo ra giãy núi Himalaya và sự hình thành các rặng núi Miến điện, rặng núi Trường Sơn Việt Nam, rặng núi Vân Nam.
.
Lúc đó, có một biển cổ mà các nhà địa chất gọi tên là Tethys kéo dài từ Âu châu đến Á châu, phân chia Phi châu với Âu Á, chiếm cái ngày nay gọi là Ấn Độ Dương. Biển cổ Tethys xưa kia rất lớn, ngày nay còn lại Địa Trung Hải, biển Caspian, Hồng Hải, Hắc Hải mà thôi.
Đó là lề thuyết về sự trôi dạt lục địa (dérive des continents).
.
Luận thuyết này gây nhiều tranh cãi cho đến mãi thập niên 70, học thuyết mảng kiến tạo (plate tectonics) ra đời, giải thích được nhiều hiện tượng như sự thành lập các giãy núi, các động đất, các núi lửa cũng như sự hiện diện các đảo san hô và đất đỏ miền lạnh, các dấu vết băng hà ở sa mạc Sahara.
.
Tuy nhiên, trước khi đi vào học thuyết mảng kiến tạo, ta hãy tìm hiểu cấu trúc Trái Đất.
.
3. Cấu trúc Trái Đất
.
Tưởng tượng một trái cam tròn hơi nhăn nheo đo trên bàn; Trái đất cũng như trái cam vừa nói vì gồm 3 phần:
.
3.1 Lớp vỏ ngoài cùng (crust) này rất cứng, có độ dày từ 5 đến 10km dưới đáy biển mà ta gọi là vỏ đại dương (croute océanique) và từ 32 đến 70km trên mặt đất, gọi là vỏ lục địa (croute continentale). Nghe tưởng là dầy lắm nhưng so với kích thước trái dất thì nó mỏng manh không hơn gì vỏ trái cam: đó là thạch quyon (lithosphère). Thạch quyon không phải là một khối liên tục mà bị nứt rạn, chia ra nhiều mảng khổng lồ (plate) dính sát gần nhau, cũng như trái cam có nhiều múi.
.
3.2 Bên dưới lớp vỏ này là lớp vỏ trong, gọi là manti (Mantle), dày từ 70 đến 2700km, ở trên cùng lớp manti đó có một lớp nhờn hơn, dẽo hơn gọi là nhu quyon (asthénosphère). Manti bị nung chảy ở thể lỏng gọi là magma. Nguyên do chủ yếu làm cho magma có lối thoát trên bề mặt quả đất là sự dịch chuyển của lớp vỏ ngoài cùng trái đất (crust).
.
3.3 - Rồi trong cùng là một nhân (noyau), nhiệt độ lên hàng ngàn độ.
Các đường nhăn nheo trên vỏ cam là các giãy núi ; các mụn đen trên vỏ cam là các núi lửa.
Lửa, hơi nóng và vật chất dưới lòng đất có thể phun lên cao nếu cấu trúc dưới lòng đất nơi đó thuận tiện để nó len lỏi đi lên. Vật chất phun lên từ núi lửa một phần là chất lỏng, một phần chất rắn và một phần là khí, tất cả đó được gọi là dung nham (magma). Dung nham gồm những đá núi lửa bazan lần theo những khe nứt dẫn lên trên đất liền hay miệng núi tìm đường phun trào ra ngoài, chảy tràn lan như một dòng "suối lửa".
.
4. Thuyết mảng kiến tạo.
Trong khoa học về Trái Đất, người ta đưa ra một lý thuyết giải thích sự hình thành đại dương và lục địa, gọi là thuyết kiến tạo mảng.
.
Xưa kia, ta cứ nghĩ là trái đất bất động, vỏ đại dương dưới biển sâu cũng bất động và chỉ là nơi hứng mọi chất lấy từ các lục địa. Ngày nay, nhờ các thám hiểm sâu dưới lòng đại dương, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, con người hiểu thêm bí ẩn của đáy biển: người ta nhận thấy giữa đáy đại dương có những giãy núi ngầm rất dài: giãy núi chạy dài từ Bắc xuống Nam giữa Đại Tây Dương, giãy núi xuyên Ấn Độ Dương, giữa Nam Băng Dương và Úc Châu, giãy núi ven bờ Thái Bình Dương v.v...
.
Trên các giãy núi ngầm này có những đường nứt nẻ do các dung nham bazan từ sâu trong lòng đất nóng bỏng bị phun trào ra. Các phun trào khi lên đến mặt biển bị ngui dần lại và tràn sang hai bên để tạo chỗ cho các phun trào bazan tiếp nối phun lên, lâu dần tạo thành các giãy núi giữa đại dương; nói khác đi, vỏ đại dương phải có tuổi đời trẻ nhất ở các giãy núi giữa đại dương vì các đá bazan từ lòng đất mới phun ra, còn ra càng xa giãy núi này, tuổi của đá càng già cỗi hơn.
.
Và mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, dòng bazan cứ trào sang hai bên miệng núi, lan dần và khi các vật liệu bazan này di chuyển đến rìa lục địa thì sẽ bị cuốn hút trong các máng biển sâu thẳm (fosse océanique) để lại trở về lòng đất ! Có những máng biển sâu trong lòng đại dương như máng Mariannes ngoài khơi Phi Luật Tân, máng Aleoutienne ngoài khơi Alaska v.v...
.
Như vậy đáy đại dương luôn luôn ở trạng thái động và di chuyển chậm chạp, cứ chừng vài cm mỗi năm, làm các lục địa cũng phải di chuyển theo như tấm thảm lăn (tapis roulant) ta thường đi lên xuống metro mỗi ngày.
.
Nói khác đi, trong thuyết mảng kiến tạo thì không phải lục địa di chuyển như theo thuyết của Wegener mà chính là đáy đại dương di chuyển nên kéo theo lục địa. Thên thảm lăn, ta chỉ đứng yên trong khi tấm thảm di chuyển.! Trái đất nổi trôi trên những mảng kiến tạo (plate) tức những thảm lăn.
.
Những giãy núi giữa đại dương đã chia bề mặt rắn chắc qủa đất thành nhiều mảng (plate, plaque) không bằng nhau. Có chừng 15 mảng lớn nhỏ.
Các mảng lớn phải kể: mảng Âu Á, mảng Thái Bình Dương, mảng Phi châu, mảng Bắc Mỹ, mảng Úc châu, mảng Ấn độ và mảng Nam băng dương.
.
Các mảng nhỏ như các mảng Caraibes, mảng Arabi, mảng Cocos ở ngoài khơi bờ bion phía Tây Trung Mỹ, Nazca ngoài khơi rặng núi Andes Nam Mỹ, Juan de Fuca gần bờ bion bắc Cali v.v...
.
Có mảng chỉ gồm có vỏ đại dương (oceanic crust, croute océanique) như mảng Thái Bình Dương, có mảng vừa có vỏ đại dương, vừa có vỏ lục địa (continental crust, croute continentale) như mảng Âu Á, mảng Mỹ Châu, mảng Phi Châu, mảng Úc Châu.
.
Các mảng này dày gần cả trăm km., nằm dưới vỏ trái đất. Các mảng này lại nổi trôi trên nhu quyển (asthénosphère) tức quyển mềm nằm dưới thạch quyển (lithosphère). Lớp nhu quyển này mềm, dễ uốn, dễ bị biến dạng. Chính lớp nhu quyển này cõng lớp thạch quyển cùng 5 lục địa trên lưng của nó. Và chính vì các mảng di chuyển nên các lục địa cũng di chuyển theo như tấm thảm lăn.
.
5. Sự chuyển động của các mảng kiến tạo.
.
Như trên vừa trình bày, các lục địa không đứng yên mà dịch chuyển trên nhu quyển (asthenosphere) nằm ở độ sâu 30-70km dưới mặt đất. Tương tự như khi nấu nước có đậy vung, nước sôi sẽ bốc hơi lên trên mặt vung nồi, có khi làm mặt vung rung chuyển và lại trở về xuống dưới thì các dòng đối lưu nhiệt (courant de convection) trong lòng trái dất tạo ra năng lượng lớn làm cho các mảng di chuyển. Các lục địa cũng như đại dương đều di chuyển không ngừng, tuy các chuyển động ấy rất chậm, nếu tính theo tuổi đời con người: 10km mỗi một triệu năm, nhưng với thời gian địa chất thì trái đất di chuyển nhanh lắm. Đã có tiên đoán là Úc Châu sẽ dính liền với Indonesia trong vài chục triệu năm cũng như Đông Phi sẽ tách ra khỏi lục địa Phi Châu: nhiều xứ Đông Phi như Rwanda, Uganda, Kenya trên thực tế đã có nhiều hồ rất lớn ngăn cách với các xứ lân cận!.
.
Như vậy, các lục địa có thể ví như những chiếc bè đang trôi dạt cực kỳ chậm chạp trên quả địa cầu. Qua các sự chuyển động này của các mảng, gây ra bởi các chuyển động chậm chạp của magma mà tạo ra các đại dương (2 mảng rời nhau) và xuất hiện các rặng núi (2 mảng chạm nhau).
.
Như vậy, vỏ trái đất giãn ra chỗ này thì phải co rút chỗ kia, chui xuống lại các hố sâu đại dương nên cuối cùng khối lượng trái đất vẫn giữ nguyên. Hoạt động các mảng kiến tạo thường diễn ra ở các mặt tiếp giáp như sau:
.
5.1- Khi các mảng kiến tạo rời xa nhau (divergent boundary) sẽ tạo ra khe nứt nên dung nham bazan dưới lòng đất trào phun lên, tạo ra các giãy núi ngầm dưới đại dương (ocean ridge, dorsale océanique), với những núi lửa dưới biển hoặc trên cạn như tại xứ Islande. Xứ Islande này là xứ do toàn núi lửa tạo nên và giãy núi đại dương ở đây lại nổi lên mặt đất. Ranh giới giữa hai mảng xa rời nhau ra gọi là ranh giới xây dựng vì tại đây luôn tạo ra vỏ mới ở các giãy núi giữa đại dương.
.
Dãy núi ngầm giữa Đại Tây Dương càng ngày bị tách ra và do đó châu Âu và châu Mỹ càng ngày càng cách xa nhau.
.
5.2- Khi 2 mảng đều cùng là mảng lục địa mà chạm nhau (collisionnal boundary) thì chúng sẽ nén vào nhau và nâng lên cao tạo ra các rặng núi, tương tự như khi hai xe hơi đụng đầu vào nhau thì sườn xe bị méo mó.
Vài ví dụ :
/.
giãy núi Himalaya là do mảng Án Độ đụng đầu vào mảng Âu Á chỉ cách đây quãng 50 triệu năm; do đó tuy rất cao và còn tiếp tục cao lên nữa nhưng tuổi địa chất còn rất trẻ :
Non cao, tuổi vẫn chưa già,
.
Non thì nhớ nước, nưóc thì quên non
giãy núi Alpes khi mảng Phi Châu chạm vào phía nam mảng Âu Á
giãy núi Appalaches khi mảng Đại Tây Dương nén vào mảng Bắc Mỹ.
.
5.3- khi 2 mảng đều cùng là mảng đại dương mà chạm nhau (convergent boundary) (ví dụ: mảng Thái Bình Dương) đụng phải phần đại dương của mảng Âu Á, mảng Thái Bình Dương đụng phải mảng Phi Luật Tân) hoặc khi một mảng đại dương chạm phải một mảng lục địa (ví dụ mảng Thái Bình Dương đụng phải mảng lục địa của Nam Mỹ, mảng đại dương Juan de Fuca đụng phải mảng lục địa Bắc Mỹ) thì đáy đại dương sẽ chui xuống mảng lục địa vì nặng hơn và tạo ra mt vùng hút chìm (zone de subduction). Cái mảng bị chui xuống đó sẽ bị lớp nhu quyển của Trái Đất nuốt tiêu đi tạo ra các phun trào bazan lên mặt đất, tạo ra núi lửa.
.
Do đó có một đai dài núi lửa tạo thành vòng cung quanh Thái Bình Dương, từ Nam Mỹ (Chili, Pérou) đến Bắc Mỹ (núi St Helens), qua đến Nhật, Phi Luật Tân... Chính tại các vùng hút chìm mới xảy thường xuyên các trận động đất. như Cali, Nhật v.v... Các trận động đất ở Guatemala, Mexico, Honduras cũng là do mảng Caraibes đụng phải mảng Nam Mỹ.
.
Ranh giới giữa các mảng đụng phải nhau gọi là ranh giới hủy hoại vì tại nơi đây vỏ Trái Đất bị tiêu hủy đi tại vùng hút chìm.
.
5.4- Có thể hai mảng trượt bên cạnh nhau, cọ xát vào nhau. Đây gọi là ranh giới truợt bằng biến dạng (transform boundary); ranh giới này không huỷ hoại cũng như không tạo ra vỏ mới. Ngưòi ta thường lấy ví dụ đứt gãy (fault, faille tiếng Pháp) San Andreas ở tiểu bang Cali làm ví dụ điển hình về loại tiếp giáp trượt bằng : phía Tây đứt gãy này là mảng Thái Bình Dương di chuyển về Tây Bắc còn phía Đông của đứt gãy là mảng Bắc Mỹ di chuyển về Đông Nam. Thành phố Los Angeles nằm trên mảng Thái Bình Dương hiện nay cách San Francisco hàng trăm cây số về phía nam nhưng vì mảng di chuyển nên 16 triệu năm nữa sẽ ở phía bắc San Francisco !
.
6.Các hậu qủa của sự chuyển động các mảng kiến tạo: Động đất, núi lửa
.
Sự di chuyển khi tách rời, khi đụng nhau của các mảng kiến tạo mới tạo ra các động đất, núi lửa, sóng thần. Hai mảng kiến tạo rời nhau ra, tạo cơ hội cho sự hình thành các giãy núi lửa ở đáy đại dương và có thể tạo ra những cù lao hay đảo mới; hai mảng kiến tạo lục địa chạm nhau tạo ra giãy núi. Với thời gian, núi bị san bằng, thung lũng có thể nâng lên thành núi, thay đổi bộ mặt của trái đất.
.
6.1.Động đất Khi có sự dịch chuyển của hai mảng kiến tạo, ranh giới tiếp xúc của hai mảng trượt chạm nhau nên phát sinh ra động đất.
.
Động đất thường quanh quẩn nhiều nhất ở hai vành đai sau đây:
.
- vành đai Thái Bình Dương kéo dài từ Nam Mỹ đến Bắc Mỹ (như Cali) vòng qua Alaska xuống Nhật Bản, Đài Loan, Phi Luật Tân và xuống Indonesia
- vành đai các xứ quanh bờ Địa Trung Hải đến Trung Đông (Iran, Afghanistan), Tây Tạng.
.
Khi hai mảng chạm nhau sẽ phát sinh ra năng lượng động đất. Năng lượng này truyền đi ở dạng sóng gọi là sóng động đất (seismic wawe) làm các vật bị lắc lư, rung chuyển.Các sóng động đất được ghi lại bằng máy địa chấn (seismograph). Cường độ rung động đuợc tính theo thang Richter. Cường độ Richter vì tính theo logarit thập phân nên cường độ 6 mạnh gấp 10 lần cường độ 5 hoặc gấp 100 lần cường độ 4 v.v... như vậy trên 6 có tho xem là mạnh.
.
Việt Nam cũng có những trận động đất liên quan đến các đứt gãy (faille) địa chất như đứt gãy Sông Hồng, đứt gãy sông Cả, đứt gãy sông Đà.
.
Các sóng động đất, -còn gọi là các sóng địa chấn-, thường có 3 loại:
- Sóng P (Primary) phát sinh đầu tiên, truyền trực tiếp từ tâm động đất theo chiều thẳng đứng, có khả năng đi qua các vật liệu, làm mặt đất bị xô đẩy nhấp nhô (Push-Pull) và tạo nên âm thanh ì ầm thường được các động vật nhạy cảm khiến voi giựt khỏi giây xích, gà, chó có dấu sợ hãi, hoảng hốt và càng gần thời điểm bùng phát động đất thì độ hoảng hốt càng gia tăng.
- Sóng S (Secondary), xuất phát chậm hơn sóng P đôi chút và di chuyển ngang, làm các vật trên bề mặt bị lắc lư (Side to Side), con người cảm thấy tự nhiên choáng váng, nước trong hồ bơi lắc lư như con tàu say sóng. Chính sóng này gây tai hại nhiều nhất: nhà rung, cầu sập, người chết.
.
.- Sóng L là sóng lan truyền trên bề mặt (lateral) như khi mặt nước hồ đang tĩnh lặng, có một viên sỏi ném xuống mặt hồ thì có nhiều lan truyền. Đây chính là làn sóng gây ra sóng thần khi có động đất mạnh ở biển; làn sóng này tiến lan gặp nhiều xứ ở quanh Ấn độ dương cuối năm 2004, gây tai ương mất tích hàng trăm ngàn người ở các xứ Sri Lanka, Ấn độ, Indonesia, Thái Lan... Sóng L có diện tích lan truyền lớn nên có tên là Large wave..
.
6.2. Đõng đất mạnh ngoài biển kéo theo sóng thần. Do sự lan truyền các sóng chấn động do động đất ở biển nên kéo theo sóng thần. Ngày 26 tháng 12 năm 2004, động đất có tâm chấn nằm ngoài khơi đảo Sumatra khoảng 160 km với cường độ theo thang Richter lên đến 9. Vùng này là nơi tiếp giáp của hai mảng kiến tạo lớn, tức mảng Ấn-Úc chạm vào mảng kiến tạo Indonesia (một phần của mảng kiến tạo Âu Á ) hai mảng này cọ sát mạnh, mảng Ấn Độ chìm hút dưới mảng kiến tạo Indonesia, gây động đất mạnh, sâu dưới lòng đại dương. Động đất xảy ra dưới biển ở cách sâu đáy biển chừng 10km khiến đáy biển sinh ra các đứt gãy (faille), ép lượng nước khổng lồ phun lên tại các vùng hút chìm (subduction), và từ trung tâm chỗ động đất dưới biển sẽ tạo ra những đợt sóng cao, gọi là sóng thần, truyền đi cả ngàn cây số và với vận tốc hàng trăm km mỗi giờ, tàn phá các bờ biển phía đông Sri Lanka, phía đông Ấn Độ, nam Thái Lan, Miến Điện... Khi sóng thần tiến vào bờ, tạo thành một dòng ngầm cực mạnh, khiến cho nước ven bờ rút vào khoảng 25 phút trước khi sóng ào tới. Nước rút nhanh bất thường và rời xa bờ khá xa là dấu hiệu của sóng thần sắp tấn công. Sóng thần di chuyển dưới biển sâu nhưng khi gần bờ biển cạn hơn, bờ tạo thành vật cản nên khối nước khổng lồ bị trồi lên khỏi mặt nước mỗi lúc một cao vì khi làn sóng trước chậm lại thì nước đàng sau tụ lại, tạo thành làn sóng có thể cao bằng cao ốc 10 tầng. Vùng Thái Bình Dương thường xuyên xảy ra sóng thần nên Mỹ có xây dựng hệ thống báo động sóng thần (Seismic seawawe warning system SSWS) đặt rải rác nhiều nơi trên biển. Nạn sóng thần không những gây tang tóc cho hàng trăm ngàn người mà còn huỷ hoại luôn môi trường sống. Thực vậy, ruộng lúa, vườn tược đều bị nhiễm mặn khi nước biển tràn vào nên phải chờ nhiều năm chất mặn trôi đi mới trồng tỉa lại được ./
.
6.3 Núi lửa. Như trên vừa trình bày, giữa đáy đại dương có nhiều rặng núi lửa do đá bazan nóng chảy từ lòng đất phun ra và sự phun trào ra hai bên chỗ nứt tạo ra các mảng kiến tạo. Ngoài ra cũng có một loại núi lửa khác do sự va chạm của các mảng đại dương và mảng lục địa. Trong trường hợp này, đá phun trào thường là loại andesit (do chữ Andes, giãy núi ở Nam Mỹ ).
.
Núi lữa gặp nhiều tại:
.
- vòng đai Thái Bình Dương, tạo thành một cánh cung chạy dài từ bờ Đông Châu Á (Nhật, Philippine, Indonesia) cho đến rìa phía Tây châu Mỹ (như núi Saint Helen). Ở Việt Nam, cách nay khoảng 1 triệu năm, núi lửa phun trào đã phát triển nhiều ở Pleiku, Darlac, Lâm Đồng, Long Khánh tạo nhiều vùng đất đỏ bazan rất phì nhiêu.
- - vòng đai Địa Trung Hải, chỗ tiếp xúc giữa mảng kiến tạo Phi Châu với mảng Âu Á như các núi lửa Vesuve, Etna v.v. Núi lửa Vesuve đã phá hủy chôn vùi thành phố Pompei ở Nam Ý.
.
Trên thế giới có khoảng 500 núi lửa hoạt động, tập hợp thành các đai núi lửa, thường đi cùng với các đai động đất. Thực vậy, hai hiện tượng này đi liền nhau theo thuyết mảng kiến tạo. Vành đai động đất quanh bờ Thái Bình Dương, ven bờ Địa Trung Hải cũng là vành đai núi lửa !.
.
Có nhiều loại núi lửa: núi lửa phun nổ (explosive) và núi lửa chảy tràn (effusive) Núi lửa khi phun nổ sẽ phóng lên không trung bụi, tro, khí, gây biến động thời tiết và gió có thể thổi đi xa; bầu trời bị tối đen, gây ảnh hưởng đến môi trường. Năm 1982, núi lửa ở El Chichón, Mễ Tây Cơ phun lên không trung bụi giàu chất sunfua rồi gió cuốn tung bay khắp thế giới cũng như hoạt động núi lửa ở Pinatubo ở Phi Luật Tân năm 1991.
.
Núi lửa khi chảy tràn thì tuôn ra mặt đất dòng chảy lửa nóng bỏng nên phá vỡ mọi vật trên đường di chuyẻn; khi ngui lại thì bị đông cứng, đất như béton rắn chắc không trồng trọt được. Tuy nhiên vài ngàn năm sau đó, các tảng đá núi lửa sẽ bị phong hoá tạo ra nhiều vùng đất đỏ màu mỡ như ở Cao nguyên Pleiku, Lâm Đồng, Gia Kiệm... Cũng có thể các dung nham khi chảy làm bít kín các thung lũng nên gây lũ lụt vùng thượng nguồn.
.
7. Kết luận.
.
Xưa kia, người ta xem các tai biến tự nhiên như những phẫn nộ của Thượng Đế : người Hi Lạp cổ cho rằng sóng thần do thần bion Poseidon; người các hải đảo Thái Bình Dương cho rằng nữ thần Pele khi giận lên làm cho núi lửa phun nổ. Nhà văn hào Voltaire (1694-1778), trong sách mang tên Candide, có viết về trận động đất tàn phá thành phố Lisbonne ở Portugal năm 1755, cho rằng Thượng Đế trừng phạt thành phố về sự chơi bời trác táng. Văn hoá Việt cổ cho rằng con cóc là cậu ông trời, ai mà đánh nó thì Trời đánh cho v.v...
.
Ngày nay, nhờ thuyết mảng kiến tạo, con người hiểu được các bí mật của vũ trụ, cơ chế của các tai biến tự nhiên như do các năng lượng khổng lồ từ lòng đất đã tạo nên những núi lửa, động đất, sóng thần, sự thành lập các rặng núi v.v... Tri thức luận (épistémologie) đã thay đổi. Trái Đất là một hệ thống động, thay đổi không ngừng, có tương quan nhiều chiều giữa di chuyển các mảng đến núi lửa, động đất, hình thành non cao, biển thẳm và ảnh hưởng không riêng gì xứ bị tai nạn mà còn lan ra khu vực.
.
Tuy từ nay hiểu được cơ chế của động đất núi lửa nhưng con ngưỡi vẫn chưa tiên đoán thời điểm chính xác của sự xuất hiện một trận động đất như chẳng hạn trận động đất dưới biển ngoài khơi Sumatra cuối năm 2004. Nhưng một khi hiểu được nguyên nhân, con người sẽ tìm cách quy hoạch được cách xây dựng nhà cửa, cầu đường một cách an toàn hơn như ở Nhật, Đài Loan, các công trình cao ốc được thiết kế với các kỹ thuật hiện đại hơn. Chỉ ước mong khoa học kỹ thuật ngày nay dần dà khống chế được hoặc ít nhất tiên đoán được do phòng ngừa, giảm tổn thất sinh mạng..
.

Còn Gì Cho Tuổi Trẻ
Việt Nam?

Sơn Nguyễn
Em chưa được sinh ra khi cuộc chiến huynh đệ tương tàn kết thúc. Ngày em chào đời là lúc em thừa hưởng một đất nước tan hoang rã rời.

.
Em được cha mẹ kể lại trong cuộc chiến vừa qua hơn hai triệu đồng bào ruột thịt của cả hai miền đã ngã xuống cho mảnh đất em đang lớn lên. Một cách chính thức và không chính thức em được biết dân ta rất hào hùng. Ở cả hai phía đều có những anh hùng bất khuất nhưng rất tiếc họ lại đánh nhau.

.
Ông em đi lính Việt Nam Cộng hòa, nhưng bố em lại phải đi nghĩa vụ quân sự cho nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, còn em thì cắp sách đến trường để nghe người ta giảng về sự oai hùng của quân đội bố em khi đánh bại đội quân của ông em. Em ngồi đó mà nghe chết lặng cả tâm hồn.

.
Năm tháng lặng lẽ trôi qua ông em đã ra người thiên cổ, bố em nay tuổi cũng già. Thế hệ chúng em giờ đây chỉ biết có một điều là kiếm tiền, kiếm thật nhiều tiền để có đủ tiền mua tất cả, từ những viên thuốc lắc trong vũ trường, những tấm bằng đại học giá bèo đến cả những công lý ở đời thường.
Tiền là thước đo cho sự thành công, là phẩm chất sống xã hội đang cổ võ. Em luôn tự hỏi không biết rồi đây tiền có mua được sự toàn vẹn lãnh thổ không nữa.
Khi nghe tin Trung Quốc đang cướp lãnh thổ ngoài khơi của Việt Nam em bỗng giật mình, sao lại thế nhỉ?

.
Việc này đã có nhà nước lo lâu rồi cơ mà. Hơn nữa Trung Quốc là nước xã hội chủ nghĩa anh em mà có một lần em được học dưới mái trường XHCN sau ngày thống nhất đất nước:
“Việt Nam và Trung Quốc là hai nước anh em, sông liền sông, núi liền núi. Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí mà còn là người thầy tín cẩn, đã cưu mang chúng ta, nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng Sa và Trường sa thuộc về Trung Quốc hay thuộc về ta cũng vậy thôi. Khi nào chúng ta muốn thu hồi thì Trung Quốc sẽ sẵn sàng trao lại!...”

.
Chẳng lẽ đây là cái “tình anh em xã hội chủ nghĩa” mà em được học?
Trăm lần không, ngàn lần không, em không muốn tin, nhưng nó lại là sự thật. Đây đúng là câu chuyện “Cây Khế” thời đại rồi!

.
Hôm qua, cùng các bạn xuống đường tuần hành phản đối Trung Quốc hành chính hóa hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam em đã ngộ ra một điều: Tiền không thể mua được sự an nguy của tổ quốc, lòng yêu nước theo kiểu Xã hội chủ nghĩa có cái gì đó không thể tiêu hóa nổi.

.
Trung Quốc vĩ đại không chỉ là người đồng chí mà còn là người thầy tín cẩn, vậy thì chủ quyền Hoàng Sa và Trường sa thuộc về Trung Quốc hay thuộc về ta cũng vậy thôi.

.
Vẫn một điệp khúc cũ khi anh công an ngăn cản chúng em đến gần toà lãnh sự Trung Quốc: “Vấn Đề Hoàng Sa và Trường sa đã có nhà nước lo, các anh tụ tập phản đối như vậy là bất hợp pháp”.

.
* Chao ôi, sao lại thế này?
* Phản đối kẻ xâm lược cũng là bất hợp pháp ư?
* Vậy thì còn việc gì mà hợp pháp trong chính quyền em đang sống đây?
.
Em tự hỏi và tự trả lời. Không, không có việc gì cả chỉ là vấn đề “chính quyền nhân dân” có thích nhân dân hay không mà thôi.

.
Các bạn ơi chúng ta đã bị ru ngủ từ lâu lắm rồi. Đất nước của chúng ta do máu xương của cha anh để lại thì cũng phải lấy máu xương của chúng ta mà gìn giữ nó.
Chúng ta không thể ủy thác cho bất kỳ một ai dù là chính quyền khi họ không còn đủ ý chí chính trị mạnh mẽ. Chúng ta phải nên làm một cái gì đó nhỏ thôi nhưng thật ý nghĩa trước khi mọi việc quá muộn, để đến khi thế hệ con em chúng ta được sinh ra đất nước này vẫn hình chữ S thân yêu.

.
Hãy vững bước lên các bạn ơi.
Một tiếng thét giữa trời xanh, sóng dậy
Nước non này không phải của riêng aiJustify Full
Núi trả núi, sông đền sông, đòi lại
Nam sơn hà một dải định thiên thư
Trong vũ trụ bao la không cùng tận
Việt Nam mình bất khuất sử lưu danh
Sông có cạn, núi có mòn, vẫn giữ
Lệ có nhòa, máu có đổ, xông lên!

Sơn Nguyễn

.

Mặc cảm chiêu hồi và khát vọng tự do
Trần Trung Đạo, Sep 15, 2008
.
Cali Today News -
Mùa hè năm nay tôi đến thăm một đảo nhỏ vùng Trung Mỹ. Thật ngạc nhiên. Cuối tháng Bảy, những hàng phượng vĩ trổ bông màu đỏ rực giống hệt như trong các sân trường ở Việt Nam. Tuổi học trò mộng mơ ngủ yên trong ký ức chợt thức dậy ở một nơi rất xa xôi. Nhìn hàng phượng vĩ lòng lại bâng khuâng nhớ đến quê nhà. Cả gia đình ngồi bên hàng phượng đỏ và kể cho nhau nghe những kỷ niệm về hoa phượng. Hai mươi bảy năm. Thời gian tôi sống ở ngoài nước đã dài hơn thời gian tôi sinh ra và lớn lên trong nước, thế nhưng, Việt Nam vẫn là đề tài chính không chỉ trong sinh hoạt cộng đồng, những buổi họp mặt anh em văn nghệ, trong bữa cơm gia đình mà ngay cả trong những ngày ở lại trên một hòn đảo cách Việt Nam hàng chục ngàn dặm. Đơn giản, bởi vì đó là đất nước. Không có gì quan trọng hơn đất nước. Mỗi người rồi sẽ ra đi nhưng đất nước sẽ ở lại cho nhiều đời sau.
.
Có lần tôi được hỏi mai mốt có dịp trở về, ngoài gia đình, tôi sẽ đi đâu khác. Tôi trả lời rằng tôi sẽ đi thăm Hà Nội. Thật vậy, tôi không hề có ý nghĩ trở về chỉ để thăm những hàng phượng đỏ trên đường Bạch Đằng Đà Nẵng, những đồi sim tím ở Quế Sơn hay tìm lại những gì tôi đã mất. Không. Nền nhà cũ, con đường xưa, trường học, dòng sông tuổi thơ đã là kỷ niệm và dù vui hay buồn cũng đã thuộc về quá khứ. Mỗi thứ đã có một ngăn riêng trong tâm hồn. Tôi vẫn ôm ấp và sống với chúng trong mỗi ngày tôi còn có mặt ở đây. Nếu có dịp trở về, tôi sẽ đến thăm sông Hồng, Quốc Tử Giám, hồ Hoàn Kiếm, chùa Một Cột. Tôi sẽ đi Phong Châu, Phú Thọ để dâng nén hương lên anh linh các đấng vua Hùng. Tôi sẽ hành hương về Yên Tử, vùng đất tổ của Phật giáo Việt Nam. Ở mỗi nơi tôi sẽ không quên dành một phút để trịnh trọng thưa rằng tôi là người có lỗi.Tôi có lỗi bởi vì trước đây tôi đã nghĩ sai về Hà Nội, nghĩ xấu về Hà Nội, nghĩ sai về miền Bắc, nghĩ xấu về miền Bắc. Hà Nội trong tôi 33 năm trước là trung tâm quyền lực của một chế độ độc tài, tàn bạo đã mang súng đạn của Nga, Tàu về tàn sát hàng triệu người dân miền Nam, giày xéo lên quê hương Việt Nam. Tôi có mặc cảm rằng ra Hà Nội là đầu hàng, ra Hà Nội là chấp nhận chế độ, là một hình thức chiêu hồi.
.
Tôi ở lại Việt Nam thêm 6 năm nhưng nhất định không đi thăm miền Bắc, dù có nhiều cơ hội. Thực tế chính trị Việt Nam sau 1975 với hàng loạt các chính sách vô cùng thất nhân tâm là những đám mây đen che khuất đi những đền tháp vàng son của một Hà Nội uy nghi trong tâm hồn tôi. Đứng trên đường phố Sài Gòn buổi trưa 30 tháng 4 năm 1975, tôi nhớ lại những ngày ở Đà Nẵng đầu năm 1968 với tiếng gầm thét của những máy bay chiến đấu, những khẩu đại pháo nòng dài, những quân trang quân dụng, tất cả đều được chế tạo và mang đến từ nước Mỹ. Và 30 tháng 4 năm 1975 cũng chẳng khác gì. Từ khẩu súng trường cho đến túi lương khô, nếu không mang nhãn hiệu Trung Quốc thì cũng Liên Xô. Cả con người cùng dòng giống với tôi nhưng xa lạ không khác gì những anh chàng Mỹ đen Mỹ trắng trước đây. Đặc tính lai căn thể hiện không chỉ trong sách vở, trong giáo trình mà cả trong cách ăn nói, giọng hát, diễn kịch, điệu múa, dáng đi cũng rập theo cung cách của Nga. Hà Nội trong tôi sau 1975 không còn là Hà Nội nơi Trần Quang Khải từng khẳng khái ngâm vang “Thái bình nên gắng sức, non nước ấy ngàn thu” trong đêm liên hoan mừng chiến thắng quân Nguyên cuối thế kỷ 13. Giấc mơ được ra thăm miền Bắc của tôi không ai đụng nhẹ nhưng đã tan như chiếc bong bóng nước trong cơn mưa Sài Gòn buổi sáng cuối tháng 4 năm 1975.
.
Tôi cắt đứt không thương tiếc tình yêu dành cho chiếc nôi văn hóa của dân tộc Việt Nam mà từ tuổi thiếu thời tôi bao đêm mơ ước một lần được đến, được trở về thăm, được hôn lên mảnh đất nơi tôi đã từng viết “mỗi chiếc lá như còn nghe hơi thở, mỗi cành cây như có một linh hồn”. Thật vậy. Những năm đầu thập niên 1970, khi còn học trung học Trần Quý Cáp ở Hội An, nếu ai hỏi tôi sẽ làm gì sau khi đất nước thanh bình, tôi trả lời ngay rằng tôi sẽ đi thăm miền Bắc. Không phải vì tôi bị ảnh hưởng bởi nhạc Trịnh Công Sơn “khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi ba miền”, mà vì trong các môn học tôi vẫn thích nhất môn sử. Quê cha của tôi là Quảng Nam nhưng đất tổ của tôi là miền Bắc. Khi còn nhỏ, mỗi năm trong ngày giỗ chạp, bác tôi thường nhắc nhở con cháu, dòng họ chúng tôi lần đầu từ ngoài Bắc đi vào Nam chỉ có hai anh em, người anh dừng lại ở Quảng Nam nhưng người em thì đi tiếp vào Quảng Ngãi. Nhưng cũng sau lần chia tay đó họ đã lạc nhau cho đến bây giờ.
.
Tôi lớn lên với cảm tình sâu đậm dành cho cả hai xứ Quảng thân yêu và niềm khao khát tìm về những bà con cùng tộc ở miền Bắc vẫn âm thầm chảy trong tâm hồn tôi. Thầy dạy môn sử cũng đam mê lịch sử như tôi và đã dạy chúng tôi những giờ sử tuyệt vời. Thầy diễn tả các trận Tụy Động, Chúc Động còn hay hơn Kim Dung tả trận Tụ Hiền Trang trong Thiên Long bát bộ. Từ ô cửa của trung học Trần Quý Cáp, những buổi chiều tôi đã thả hồn mình trôi theo sóng nước sông Hồng, và đâu đó dưới lòng sông như vẫn còn những chiếc cọc gỗ lim mà hơn một ngàn năm trước đã đâm thủng chiến thuyền quân Nam Hán hay hơn bảy thế kỷ trước Trần Hưng Đạo đã đánh bại quân Nguyên. Tôi thuộc nằm lòng tên tuổi của các vị danh tướng thời Lê Lợi như Lê Thạch, Lê Sát, Lê Lai, Nguyễn Xí, Đinh Lễ, Đinh Liệt… và các vương tước nhà Trần như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản… Những địa danh Đông Đô, Tây Đô, Chi Lăng, Vạn Kiếp, Thiên Trường đi vào ý thức tuổi học trò của tôi như những niềm kiêu hãnh không bao giờ phai nhạt.Là một trong những sinh viên thuộc diện “sinh viên chế độ cũ”, sau mấy tháng đi làm thủy lợi, chúng tôi trở về trường Luật học tiếp. Để tìm giải đáp cho những câu hỏi về Đảng Cộng sản, về chiến tranh và cách mạng Việt Nam, tôi học rất nghiêm túc, chăm chú lắng nghe các cán bộ giảng dạy kinh tế chính trị, triết học Mác - Lê, đến nhà tập thể để tìm hiểu thêm từ các giáo sư đại học miền Bắc về những điều các ông các bà có thể không nói hết ở trường và đọc tất cả những gì có thể đọc.
.
Sau thời gian khá dài học hỏi và tiếp xúc với nhiều người, tôi hiểu ra rằng những gì tôi nghĩ về miền Bắc trước đó là không đúng. Tôi đã vơ đũa cả nắm. Đồng bào miền Bắc, giống như chúng tôi ở miền Nam, đều là nạn nhân của ý thức hệ cộng sản, thậm chí họ còn chịu đựng dài hơn, lâu hơn và đau đớn hơn nhiều. Thế hệ trẻ chúng tôi ở miền Nam cũng may mắn hơn những người cùng tuổi ở miền Bắc. Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong một xã hội tuy không hẳn hoàn toàn tự do nhưng vẫn có ít nhiều chọn lựa. Chúng tôi chẳng những có quyền phàn nàn, chỉ trích mà còn xuống đường, hoan hô và đả đảo. Tuổi trẻ miền Bắc thì không. Họ sinh ra khi Đảng đã có rồi. Sự có mặt của Đảng Cộng sản như họ được dạy từ lớp mẫu giáo là một quy luật tất yếu của xã hội loài người. Đảng cần thiết như hơi thở và sự sống, tự nhiên như nắng và mưa, khoa học như mặt trời mọc buổi sáng và lặn vào buổi tối. Đảng là tối thượng, là tuyệt đối, trên cả cha mẹ, gia đình và tổ quốc. Chính sách tẩy não, thuần hóa con người không phải là sản phẩm độc quyền của chế độ cộng sản, nhưng chỉ trong xã hội cộng sản việc “trồng người” mới được xem như là mục tiêu của nền giáo dục. Tôi ý thức điều đó cũng là thời gian tôi phải lo tìm đường vượt biển, nên không có dịp ra thăm miền Bắc.
.
Đối với miền Nam, tôi cũng hiểu ra rằng miền Nam mất không phải vì thiếu 300 triệu đôla viện trợ đặc biệt đầu 1975 hay vì bị Mỹ bỏ rơi như cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thở than oán trách trong diễn văn cuối cùng của ông vài ngày trước khi lên máy bay. Miền Nam mất không phải vì quân đội Việt Nam Cộng hòa yếu kém hơn quân đội cộng sản hay các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa không tài ba thao lược bằng các tướng cộng Sản. Cộng sản thắng cuộc chiến Việt Nam, như tôi đã viết trong vài bài trước trên talawas, chỉ vì từ ngày thành lập 1930 họ luôn nhất quán với mục đích toàn trị và bất chấp mọi phương tiện để đạt đến mục đích; họ tổ chức tinh vi và phát huy triệt để tính Đảng từ trong mỗi tổ ba người cho đến cấp trung ương, và quan trọng nhất, họ tận dụng lòng yêu nước truyền thống, nhất là đặc tính bảo thủ, của người dân Việt Nam.
.
Việt Nam Cộng hòa thì hoàn toàn khác. Tại miền Nam không có một đảng chính trị nào được tổ chức tinh vi đến mức có thể gọi là lực đối kháng tương xứng với Đảng Cộng sản, không có một hệ thống thông tin ngang tầm với bộ máy tuyên truyền cộng sản và các nhà lãnh đạo miền Nam, vì những vướng mắc bản thân và mải lo tranh quyền đoạt lợi, đã không làm sáng lên được chính nghĩa, không tổng hợp được lòng yêu nước, yêu tự do dân chủ trong người dân miền Nam thành sức mạnh. Vì thế, nếu không có ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì rồi cũng sẽ có 30 tháng 4 năm 1976, 30 tháng 4 năm 1977, nói khác đi, việc miền Nam rơi vào tay cộng sản chỉ là vấn đề sớm hay muộn, trước hay sau chứ không phải là khả năng có hay không có thể xảy ra.
.
Với nhận thức đó, tôi không còn mang mặc cảm chiêu hồi khi nghĩ về Hà Nội và tìm lại được trong tôi tình yêu dành cho chiếc nôi của lịch sử Việt Nam. Vâng, nhưng đó không phải là quan trọng nhất. Quan trọng hơn thế nữa vì tôi hiểu đã rằng ngay từ trên những điêu tàn đổ nát, một cuộc chiến mới đã được phát động trong âm thầm trên phạm vi cả nước, đó là cuộc chiến giữa khát vọng tự do nhân bản và cộng sản độc tài toàn trị, giữa tự do và nô lệ, giữa thịnh vượng văn minh và nghèo nàn lạc hậu.
.
Tôi bắt gặp trong ánh mắt của những người dân đang chui rúc dưới những tấm ny-long trên đường Trần Hưng Đạo, trong những căn nhà không vách ở các vùng kinh tế mới, đang sắp hàng bán máu ở bịnh viện Chợ Rẫy môt niềm đau câm nín và tôi tin một ngày những nỗi đau câm nín đó sẽ biến thành vũ khí. Không ai nói đây là cuộc tranh đấu dễ dàng. Bằng chứng là, dù nói gì thì nói, sau 33 năm chế độ cộng sản vẫn còn tồn tại và Việt Nam vẫn còn là một nước lạc hậu về văn minh, nghèo nàn về kinh tế và tất cả các quyền căn bản của một con người vẫn còn là một mơ ước xa xôi.
.
Cộng sản còn sống bởi vì nhiều người nghĩ rằng cộng sản đã chết.Nếu cho rằng cộng sản đã chết thì trước khi chết cộng sản sống ở đâu? Liên Xô sau Cách mạng 1917 có phải là cộng sản không? Liên Xô dưới thời Stalin có phải là cộng sản không? Trung Quốc dưới thời Mao với những “nhà máy luyện kim sau hè” và công xã nhân dân có phải là cộng sản không? Bắc Hàn dưới thời Kim Nhật Thành có phải là cộng sản không? Campuchia dưới thời Pol Pot có phải là cộng sản không? Việt Nam dưới thời Hồ Chí Minh với Cải cách Ruộng đất và Nhân văn - Giai phẩm có phải là cộng sản không? Tất cả đều không và đều có, đều khác nhau và đều giống nhau. Không, bởi vì chưa có nước cộng sản nào kể cả Liên Xô với những kế hoạch 5 năm đầy tham vọng, đạt được những bước phát triển kinh tế có thể giải thích đúng với lý thuyết của Mác; và đều giống nhau, vì tất cả đều dùng những phương tiện mà lý thuyết Mác - Lê đã đề cao, đó là áp dụng bạo lực không thương tiếc đối với các thành phần xã hội cản trở bước tiến hay chống đối lại các mục tiêu của Đảng Cộng sản.
.
Đặng Tiểu Bình, một thời đã được thế giới ca ngợi là nhà cải cách xã hội lớn và thậm chí có người còn hy vọng ông ta sẽ từng bước mở đường cho một Trung Quốc dân chủ, hội nhập vào dòng phát triển của văn minh thế giới khi họ Đặng chuyển hướng nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, xóa bỏ toàn bộ hệ thống công xã thời Mao, tố cáo tội ác của Cách mạng Văn hóa, thiết lập các khu kinh tế đặc biệt làm cửa ngõ giao thương quốc tế, cho phép người dân phát biểu ý kiến qua phương tiện của “Bức tường dân chủ” gần khu Tử Cấm thành ở Bắc Kinh. Đặng Tiểu Bình viếng thăm Mỹ vào tháng Giêng 1979 và được Tổng thống Jimmy Carter tiếp đãi như quốc khách, mặc dù chức vụ của ông ta chỉ là Phó Thủ tướng.
.
Nhưng cũng chính Đặng Tiểu Bình chứ không ai khác, là người có quyền tối hậu trong quyết định tàn sát nhiều ngàn sinh viên Trung Quốc yêu dân chủ đầu tháng 6 năm 1989. Những chiếc tăng của các binh đoàn 27 và 28 trên đường phố Bắc Kinh gợi lại cho người xem hình ảnh của những chiếc tăng Liên Xô tại thủ đô Praha, Tiệp Khắc mùa xuân 1965 hay thủ đô Budapest, Hungary tháng 11 năm 1956. Thời điểm khác nhau, nạn nhân cũng khác màu da, nhưng phương pháp mà các lãnh tụ cộng sản áp dụng để tiêu diệt kẻ thù của đảng dù ở nước nào cũng giống nhau và độc ác như nhau. Cộng sản không phải chỉ là mớ lý luận mơ hồ mà chính là thực tế vô cùng cụ thể và tàn bạo. Đặc điểm áp dụng bạo lực không thương tiếc đó vẫn còn sống hùng và sống mạnh tại Việt Nam. Các cơ quan truyền thông quốc tế khi nhắc đến Việt Nam thường kèm theo chữ cộng sản đi đầu như để nhắc nhở người đọc về một xã hội còn nhiều lạc hậu, là một cơ chế chính trị độc tài, là một đảng chính trị sống nhờ bạo lực chứ không phải là nơi có những con người đang theo đuổi mục tiêu “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” như Mác viết. .
.
Cộng sản còn sống vì căn bệnh sùng bái cá nhân vẫn còn hoành hành và tác hại.Khi nói đến bịnh sùng bái cá nhân, người ta sẽ nghĩ ngay đến Bắc Hàn trước. Nhà báo Robert Marquand, một chuyên viên về Bắc Hàn của tờ Christian Science Monitor, trong các phóng sự về phần đất cô lập từ thế giới nầy đã thu thập hàng trăm tin tức, mẩu chuyện về cuộc sống đồi trụy cha con Kim Nhật Thành mà đối với phần lớn nhân loại gần như là những chuyện khó tin đến độ hoang đường. Theo Robert Marquand, Kim Chính Nhất có khoảng từ 2 đến 4 tỉ đôla ký thác trong các ngân hàng châu Âu. Sau khi kế thừa sự nghiệp của “lãnh tụ vĩ đại” năm 1994, Kim Chính Nhật sống xa hoa trong cung điện Trường Thọ ở Bình Nhưỡng và ngày đêm tận hưởng thú vui xác thịt với các đoàn vũ cho chính họ Kim đặt tên như “đội ca vũ”, “đội hạnh phúc”, “đội thỏa mãn”. Đối với việc ăn uống, y rất kiêng cữ và chọn lọc. “Lãnh tụ kính yêu” thích món ăn Ý hơn là món do các đầu bếp Bắc Hàn chuẩn bị. Để món ăn được nấu cho đúng kiểu, lãnh tụ mướn không những chỉ đầu bếp Ý mà còn yêu cầu chở nguyên cả cái bếp từ Ý sang để nấu nướng cho y ăn.
.
Những điều đó xảy ra trong thời điểm khi khối Xô-viết vừa tan rã, các nguồn viện trợ lớn từ các quốc gia cộng sản bị cắt đứt, hạn hán, mùa màng thất thu, và trên đường phố tỉnh Bắc Hàm Kính (North Hamgyong) người chết đói nằm la liệt. Không một thống kê nào cho biết chính xác bao nhiêu người dân vô tội, bao nhiêu trẻ em Bắc Hàn đã chết, nhưng theo ước lượng từ nhiều cơ quan từ thiện quốc tế cũng như lời kể những viên chức Bắc Hàn cao cấp đào thoát được, khoảng 600 ngàn cho đến 3 triệu (hơn 10 phần trăm dân số) dân Bắc Hàn chết đói trong giai đoạn từ 1990 đến 1997.
.
Tại sao một đất nước 23 triệu người lại có thể chấp nhận để những người lãnh đạo đất nước đối xử một cách tàn tệ như thế? Phải chăng họ sợ chết, bị bỏ tù, tra tấn, lao động khổ sai? Tất cả lý do đó đều đúng nhưng chưa phải là hoàn toàn chính đáng. Theo giáo sư và ký giả Bradley K. Martin, tác giả của tác phẩm Dưới sự bảo bọc đầy tình thương của cha già dân tộc (Under the Loving Care of the Fatherly Leader), được nhà điểm sách Nicholas D. Kristof của The New York Review of Books đánh giá là tác phẩm xuất sắc nhất về xã hội Bắc Hàn từ trước đến nay, ở Bắc Hàn “mọi người bị tiêm nhiễm ngay từ khi mới sinh ra để tin vào các lý thuyết tôn thờ cá nhân. Họ tin rằng cha con Kim Nhật Thành là bậc thánh nhân, vượt qua khỏi các luật căn bản của loài người, là một giống người đặc biệt, loại người xứng đáng để tôn thờ”. Phần lớn dân Bắc Hàn vẫn tin rằng nạn đói là do thời tiết, hạn hán, thất thu chứ không phải là hậu quả của một chính sách cai trị dã man, ngu xuẩn và tàn bạo nhất trong lịch sử loài người.
.
Các đảng viên cộng sản hay đoàn viên trung kiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh khi đọc những mẩu chuyện đau lòng đang xảy ra tại Bắc Hàn, hẳn nhiên cảm thấy an ủi bởi vì Việt Nam không phải là Bắc Hàn. “Bác Hồ tình yêu bao la” của họ không giống như Kim Nhật Thành. “Bác Hồ” xứng đáng được gọi là “cha già dân tộc”, là “nhà thơ lỗi lạc” của văn học Việt Nam, là “nhà quân sự thiên tài” không thua kém gì Hưng Đạo Đại vương, là “nhà giáo dục vĩ đại” của đất nước, không, không thể so sánh “Bác Hồ” với cha con Kim Nhật Thành bịnh hoạn kia được. Xin đừng mừng vội. Nếu đi hỏi những người dân Bắc Hàn, họ cũng trả lời tương tự như thế. Với người dân Bắc Hàn, Kim Nhật Thành cũng là “nhà thơ, nhà khoa học, nhà giáo dục vĩ đại”, đừng nói chi là “Bác Hồ” của Việt Nam mà cả gần bảy tỉ người trên trái đất nầy không ai có một đời sống thanh bần, trong sạch, một trái tim to lớn, một tình yêu bao la dành cho đất nước hơn là “lãnh tụ vĩ đại” và “lãnh tụ kính yêu” của họ. Điều đó cho thấy mức độ trầm trọng tuy có thể khác nhau, nhưng nhiều người Việt Nam cũng đang mang một căn bịnh như người dân Bắc Hàn. Một em bé khăn quàng đỏ của Việt Nam cũng ca ngợi “Bác Hồ tình yêu bao la” một cách chân thành như một em bé khăng quàng đỏ Bắc Hàn ca ngợi “lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật Thành” của em. Sùng bái cá nhân là căn bịnh của chủ nghĩa cộng sản, nơi nào chủ nghĩa cộng sản đặt chân đến là nơi đó bịnh sùng bái cá nhân phát sinh và tồn tại theo suốt chiều dài của Đảng. Việt Nam cũng thế, đừng nói chi các làng bản xa xôi, nông thôn hẻo lánh, nơi ông Hồ được đưa vào miếu Thần hoàng để cúng tế hàng năm, mà ngay cả ở thành phố, trong chùa chiền, trong sách vở văn học, ông Hồ Chí Minh, giống như cha con họ Kim ở Bắc Hàn, vẫn được xem như là “là bậc thánh nhân vượt qua khỏi các luật căn bản của loài người, là một giống người đặc biệt, loại người xứng đáng để tôn thờ”. Chúa và Phật có thể sai nhưng ông Hồ thì không. Tất cả những tìm hiểu, nghiên cứu khoa học, khách quan, độc lập về cuộc đời ông Hồ đều bị nghiêm cấm và có thể bị bỏ tù nếu vi phạm. Bịnh sùng bái cá nhân như một loại tà đạo mấy chục năm qua đã giết chết các mầm mống sáng tạo, vươn lên, suy nghĩ độc lập trong nhiều thế hệ Việt Nam.
.
Đảng Cộng sản còn tồn tại nhờ vào một tầng lớp có học phục vụ cho Đảng.Vì các lý do địa-chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam khống chế tư tưởng và đời sống con người khôn khéo hơn cha con Kim Nhật Thành nhiều. Thay vì đóng đinh toàn bộ đất nước vào một hệ thống giáo điều không tưởng như lý thuyết Juche ở Bắc Hàn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo ra những không gian sinh tồn tương đối rộng và tồn tại một cách độc lập dành cho các thành phần xã hội khác nhau. Mỗi thành phần có một môi trường sinh hoạt riêng và chịu các điều kiện chi phối riêng. Như Mác đã nói “Giai cấp tiểu tư sản là đòn xóc nhọn hai đầu”, thành phần có học phục vụ đắc lực nhưng nguy hiểm, cho nên vừa được nhiều biệt đãi mà cũng vừa bị kiểm soát chặt chẽ hơn so với các thành phần khác. Ngày nay, trong khu vườn văn học vẫn có tiếng chim kêu, có tiếng nước chảy, tiếng suối reo và các nhà thơ, nhà văn vẫn có quyền sáng tác, miễn là đừng bước ra khỏi giới hạn mà Đảng đã khoanh vùng. Ngoại trừ một số nhỏ đã vượt qua hay đang tìm cách vượt qua khỏi hàng rào cản để cùng chịu đựng với những bất hạnh của dân tộc, dùng ngòi bút để nói lên thảm trạng của đất nước hay đấu tranh cho quyền lợi đất nước, phần lớn đã ở lại trong vườn. Như Erich Maria Remarque viết trong Chiến hữu, “hạnh phúc bắt đầu từ thói quen”, họ dần dần cũng cảm thấy hạnh phúc và tự an ủi rằng ít ra môi trường sáng tác ngày nay tốt hơn nhiều so với ba mươi ba năm trước. Ngày nay họ không phải thức đêm nén bút để ca ngợi một “anh hùng diệt Mỹ” mà họ chưa bao giờ biết mặt hay tả một “chiến thắng thần thánh” mà họ chưa hề tham dự. Ngày nay họ có quyền viết về tình dục, tình yêu và cả về cuộc sống, miễn là đừng viết về cuộc sống của những người đang ở trong các nhà tù của chế độ, cuộc sống của hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam đang bán mồ hôi nước mắt khắp thế giới, cuộc sống của hàng ngàn người dân oan khiếu kiện bị mất nhà mất đất đang ngồi chờ các quan lớn trả lời trong các công viên.
.
Hơn ai hết, thành phần có học biết rằng dù trong khoa học tự nhiên hay khoa học nhân văn, không có phản biện sẽ không bao giờ có sự thăng tiến và phản biện chỉ hình thành trên môi trường tự do sáng tạo chứ không thể ở một môi trường nào khác, thế nhưng, họ chấp nhận làm một người câm điếc để được tồn tại hơn là phản biện để rồi bị tước đi bổng lộc. Mới đây, ông Chu Hảo, nguyên thứ trưởng Khoa học Công nghệ và Môi trường, trong buổi phỏng vấn dành cho web Dân Trí mà talawas có nối lại trong mục spectrum, cũng thừa nhận rằng “để có độc lập tư duy, tự do sáng tạo và khách quan phê phán thì phải có một cơ chế dân chủ để đảm bảo cho các quyền đó.” Quá đúng. Tuy nhiên, khi được hỏi tại sao thời còn là Thứ trưởng ông đã không nói câu đó mà đợi cho đến khi không còn tại chức mới “lớn tiếng”, ông Hảo đáp “Đơn giản là khi còn tham gia quản lý, họ là con người của guồng máy đó nên phải tôn trọng kỉ luật guồng máy, chưa kể người trong cuộc khó có cái nhìn khách quan như người ở ngoài cuộc.” Ông không giải thích nhưng người đọc cũng hiểu việc “tôn trọng kỉ luật guồng máy” chính là việc phục vụ cho quyền lợi của Đảng Cộng sản theo kiểu ăn cây nào thì rào cây nấy. Nếu hiểu theo cách nói của ông Chu Hảo, trong guồng máy nhà nước hiện nay không ai đáng gọi là trí thức vì không ai dám phản biện, dám nói lên những cái đúng, tố cáo những cái sai, biết đau cái đau của dân tộc và biết buồn trong nỗi buồn của dân tộc. Như phần lớn những người thuộc tầng lớp có học, ông cũng không đủ can đảm bước ra khỏi chiếc chiếu mà Đảng đã trải cho các ông ngồi. Tâm trạng của ông Chu Hảo cũng là tâm trạng chung của những người thuộc tầng lớp gọi là trí thức trí thức xã hội chủ nghĩa hiện nay, khi về hưu, thất sủng, bị bỏ rơi, họ phê bình, phán xét như những quan tòa, nhưng thời gian trẻ trung, năng nổ, đóng góp được nhiều nhất cho đất nước thì họ lại là những kẻ tòng phạm.

Nhà báo Mike Benge của tờ Washington Times, trong bài bình luận trên ấn bản ngày 1 tháng 7 năm 2007, ‘Láo to’ sống tại Việt Nam (‘Big Lie’ lives in Vietnam), cho rằng Thomas Jefferson sẽ lăn lộn trong mồ nếu biết ông Hồ Chí Minh đã dùng câu nói bất hủ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” để lừa gạt dân tộc Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua. Trong cuộc chạy đua vào chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ, về quan điểm và cách giải quyết các vấn đề của Mỹ, John McCain và Barrack Obama gần như khác nhau hoàn toàn nhưng cả hai đều rất giống nhau trong định nghĩa về đất nước. Tối ngày 11 tháng 9 vừa qua, trong buổi phỏng vấn nhân dịp lễ tưởng niệm nạn nhân khủng bố, khi được hỏi tại sao ông yêu nước Mỹ, John McCain trả lời “Tôi yêu nước Mỹ, không chỉ là nơi tôi sinh ra và lớn lên mà còn là lý tưởng, là khát vọng”. Tương tự, trong diễn văn chấp nhận làm ứng cử viên Đảng Dân chủ, Barrack Obama đã nói: “Có một lời hứa đã làm cho nước Mỹ khác với các quốc gia khác, rằng qua sự làm việc cần mẫn và hy sinh, mỗi chúng ta có thể theo đuổi những giấc mơ riêng nhưng vẫn đến cùng nhau như một gia đinh nước Mỹ, để bảo đảm rằng các thế hệ sau cũng có thể theo đuổi các giấc mơ của họ.” John McCain và Barrack Obama không nói để tuyên truyền hay kiếm phiếu mà là sự thật. Từ khi Thomas Jefferson nắn nót những dòng chữ đầu tiên cho bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ 1776 cho đến hôm nay, nước Mỹ trải qua nhiều cuộc chiến, trong đó có cuộc chiến giành độc lập đầy vinh quang và một cuộc nội chiến tương tàn đẫm máu, nhưng họ vẫn là một cường quốc. Nước Mỹ trưởng thành không phải nhờ bom nguyên tử mà nhờ ở giấc mơ, lời hứa, khát vọng, như Tổng thống Kennedy một lần đã viết: “Con người có thể chết, đất nước có thể thăng hay trầm, nhưng lý tưởng luôn sống mãi”.
.
Nhà báo Mike Benge dùng câu nói của Thomas Jefferson để mỉa mai giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam như là những người ăn cắp ý tưởng của Mỹ để lừa gạt dân tộc Việt Nam nhưng ông có thể không biết rằng khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam là một khát vọng có thật và bắt đầu từ nhiều ngàn năm thăng trầm của lịch sử. Câu nói của Thomas Jefferson rất hay, những câu trả lời của John McCain, Barrack Obama rất ý nghĩa, nhưng không phải là quá mới lạ. Tổ tiên Việt Nam đã mơ, đã sống và đã chết cho giấc mơ khai phóng của mình. Khát vọng tự do dân chủ chưa bao giờ bức thiết hơn lúc này, khi một phần lãnh thổ của tổ tiên đang nằm trong tay ngoại bang, khi Việt Nam mỗi ngày một lùi thêm so với đà tiến của nhân loại. Đây không phải lúc đứng trước ngã ba để chọn lựa đường nào là đúng nhất. Không giống như ngày xưa, thế hệ hôm nay chỉ có hai con đường để chọn, hoặc làm công cụ cho chế độ độc tài hoặc đi về phía dân tộc để cùng tranh đấu cho một ngày mai tươi đẹp. Nếu trước 1954, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam là giải phóng đất nước ra khỏi chế độ thực dân bóc lột thì chính nghĩa của ngày nay là giải phóng đất nước khỏi chế độ cộng sản độc tài, chuyên chính, đưa dân tộc đi lên cùng nhịp với đà tiến tự do, dân chủ và văn minh. Vũ khí được trang bị hôm nay không phải là bom napalm, tăng T54, súng M16 hay AK47 mà là lòng yêu nước chân chính, là trí tuệ của thời đại. Người lính tự do trong trận chiến hôm nay là những người Việt Nam yêu nước, kiên nhẫn, biết hy sinh những quyền lợi và cả những đau nhức bản thân mình cho nhu cầu chung của đất nước, biết vượt qua được những cách ngăn tôn giáo, Bắc - Nam để sống vì tương lai của các thế hệ mai sau. Cuộc tranh đấu sẽ không diễn ra ở miền Nam hay miền Bắc, trên không hay ngoài biển, mà trải rộng khắp nơi, trong và cả ở ngoài nước. Chỗ dựa của người lính tự do không phải là đôla Mỹ hay súng đạn Nga mà là lịch sử, là Đống Đa, Vạn Kiếp trước đây và Hoàng Sa, Trường Sa hôm nay. Những tranh luận, biện minh, đối thoại, hay mặc cảm chiêu hồi, vì thế, đều không còn cần thiết nữa.
.
Chẳng lẽ 33 năm với tất cả chịu đựng và hy sinh, với tất cả máu và nước mắt nhỏ xuống khắp ba miền, chưa đủ là lý do để thay đổi chế độ độc tài này bằng một thể chế tự do dân chủ, mà phải đào xới thêm trong các văn khố ở Washington DC, Bắc Kinh, Moskva…, để chứng minh ai bán nước hơn ai?
.

Thursday, May 28, 2009

Bắm dấu >>Play >> nghe Tinh Thư của lính

Lá Thư Tình Của Người Lính VNCH
MƯỜNG GIANG . Việt Báo Thứ Hai, 2/16/2009, 12:00:00 AM

Nhân Ngày Lứa Đôi Hạnh Phúc Lại Nhớ Tới Những: LÁ THƯ TìNH CỦA NGƯỜI LÍNH VNCH VIẾT TỪ CHIẾN TRƯỜNG Trước Tháng 5-1975
MƯỜNG GIANG
(Bài được lưu trữ trong website huongvebinhthuan.org và thuvientoancau.org)
.
Cuộc chiến VN kéo dài gần ba mươi năm (1945-1975) nay xem như đã kết thúc nhưng đâu đó dường như vẫn còn những tiếng rên nghẹn ấm ức của những người lính già Miền Nam thua trận đã may mắn được sống sót sau một cuộc đổi đời. Tất cả như một màn kịch có nhân vật, thời gian và địa điểm, được đạo diễn cho mở màn và kết thúc sân khấu một cách tài tình. Có điều màn kịch được các diễn viên hay nói đúng hơn đó là những người lính trận mà hầu hết đang ở cái tuổi ‘ xuân thì đầy mộng mơ hoa bướm ‘ ghi lại qua những ‘ Tình Khúc ‘ được viết từ mặt trận đang còn nghi ngút khói, bên xác của bạn lẫn thù, đã làm cho những người xem sửng sốt tới rơi lệ vì không mấy ai tin là sự thật.

‘ băng đạn cuối chìm rơi khi qua sông
người lính mệt nhoài nằm ngủ
đầu dựa góc đa
hàng bình vôi trắng răng cười cợt
thép súng khô dầu bụi nước hoen
có phải hòa bình vừa nở một bông hoa
nở giữa tình yêu và tiếng hát .. ’ ’ ’
(Thi Vũ tháng 1/1973 - thơ tình của người lính)
.
Họ là lính nên ai cũng viết rất chân thật về tâm trạng của mình qua sự lo âu, thương xót, phẩn nộ, bi ai và chán đời trong lúc đang đối mặt với tử thần từng phút từng giây vì tình hình bất ổn tại hậu phương và cảnh chiến tranh loạn lạc hầu như khắp bốn vùng chiến thuật mà người lính trận nào cũng phải đăt chân tới. Tất cả đã trở thành những sự kiện có tính chất lịch sử qua những tiếng khóc thực dù không dám khóc to trước mặt bạn bè đồng đội. Mà dù có khóc to thì cũng chẳng để làm gì vì ai biểu chúng ta sinh ra làm trai hùng nước Việt ?
.
‘ em mắt nghìn thu xanh cỏ biếc
ta lên rừng thắm ngủ chiêm bao
vòng tay thần thánh xa biền biệt
ta gặp nhau mà vẫn nhớ nhau
*
em nhớ ta hay ta nhớ em ?
từng đêm lặn lội giữa bưng biền
ta qua Hậu Nghĩa ngày mưa xám
róc vỏ thân chàm ta viết tên
năm tuổi chiến trường xuôi vạn lý
núi sông biết mặt đứa phong trần
yêu em ta bổng thành thi sĩ
thơ lính hào hoa vỗ súng ngâm.. ’ ’ ’
( Chiêm Bao - Tôn Nữ Kim Phượng)
.
Đó là cái đỉnh cao của thơ văn do lính viết qua suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Cho dù nay phần lớn những tác giả đã không còn nhưng kỷ niệm ngày xưa vẫn cứ ngổn ngang trong tâm trí mọi người, một phần bởi tiếng thơ đầy nước mắt tuy rất cởi mở và ấm áp tình người. Đó cũng là lý do xuân tết xưa nay luôn được thi nhân ưu ái trong thi ca nhưng với lính thì ngày nào cũng như mọi ngày, vất vã cơ cực tới cái mức không còn ai khổ hơn. Cho nên với họ lấy gì vui để mà xuân hay Tết như người lính Vũ Hoàng qua bài thơ ‘Mưa Xuân Ngoài Biên Khu‘ viết tặng Lâm Hảo Dũng :
.
‘ hãy uống cạn cho lòng vơi nổi nhớ
rượu chất đầy : nón sắt bình đông
người lấy rượu đốt men xuân càng nồng
ta say khướt để quên đời dưới đó
*
dẫu là xuân hay hạ đông gì cũng thế
bởi quanh năm ta với rượu : đôi bạn già
(tiển thằng bạn vừa mất ta nốc đầy cốc rượumừng kẻ nhập đàn ta lại cụng ly ).. ’ ’
’*‘
bó gối trong căn hầm tránh đạn
chia nhau một cốc cà phê đen
hít dăm ba điếu quân tiếp vụ
ấy tết cô đơn của lính quèn
*
rừng vẫn viễn miên buồn ủ rũ
gục đầu tắm đạn pháo thương đau
chim rừng cũng bỏ đàn về núi
để mặc chinh nhân vạn cổ sầu .. ’ ’
’(Xuân chiến địa - Phong Nhân Hoài)
.
Thân phận và hiện hữu là hai mộng ước mà người lính trận nào cũng canh cánh bên lòng. Vì vậy nó đã chắp cánh thành thơ đậu trên đầu súng, đầy ắp trong chiếc ba lô và chan chứa khắp mặt đất. Nhờ vậy mà người lính mới phần nào phôi pha cái ranh giới tử sinh trước mắt. Nổi nhớ của người lính khác hẳn với những tình cảm thừa mứa nơi chốn hậu phương vì ở đây con người có nhiều thời gian để mà yêu hờn ghét giận như Thanh Tâm Tuyền đã viết ‘ ôm em trong tay mà nhớ em những ngày sắp tới ‘ hay cùng lắm thì ‘ vắt mẫu thuốc cuối cùng xuống dòng sông mà lòng phơi trên kè đá ‘.Ngược lại người lính Trần Văn Sơn thì tự mình kể chuyện trong một đêm kích ở Dốc Đồn Đền làm cho những người một thời trong cuộc, đọc tới thấy thật là gần gũi thân thương và hối tiếc vì nó đã không còn :
.
‘ Đêm nằm nghe vượn hú
ba lô, súng gối đầu
mắt mở trừng không ngủ
rừng tiếp rừng âm u
*
gió lòn qua kẽ lá
cuốn tròn trong ba lô
rét rừng cơn mệt lã
đồi tiếp đồi bao la
hay :‘
dẫu nước mắt mọi người có vỗ về hy vọng
ta vẫn cười khan nhìn bạn bè say
có phải không em dù mây
vẫn cứ bayvà mai mốt ta có nằm yên trong lòng đất
em hãy giữ trong lòng những điều thành thật
ta đã cho em và chưa vội mang theo
giữa đời ta không phân biệt bạn thù
chuyện sinh tử là chuyện từng giây phút
‘(Khi xa Bình Tuy)
.
.
Phần lớn những bài thơ của lính là loại thơ ‘ Tự Sự ‘ được viết như những ‘ tình khúc chiến trường ‘ vì tự nó có đủ tầm vóc của môn thi ca chứa đựng các phần ngôn ngữ, nhạc điệu, cảm xúc và sự gợi cãm. Sự đồng điệu ngẫu hứng giữa thơ lính và những nhạc khúc được Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Dũng Chinh Nguyễn văn Chính.. sáng tạo trước tháng 4-1975, phải chăng đó là tâm cảnh của đời lính, nên ai cũng đều có sự suy nghĩ giống nhau cho dù xa cách muôn trùng. Nhưng yếu tố tạo nên sự đồng cảm đó , trước hết cũng là do tình yêu quê hương của mọi người. Có yêu nước thương dân mọi người mới hy sinh đời mình để chấp nhận tử sinh thua thiệt. Chân thành trong câu chuyện kể đã làm rung cảm một cách sâu sắc tới người đọc, nhất là những em gái hậu phương, vì yêu lính bằng lời, nên đã cất giữ những hình bóng cũ, nhờ vậy mà nó đã trở thành bất tử tới ngày nay, cho dù anh có hiên ngang hay đã trở thành tàn phế :

‘ Rừng thưa dạt gió Hạ Lào
đêm nằm phục kích nhìn sao,
nhớ nhà tháng tư thương nụ hoa cà
hồn quê gởi ngọn mây xa cuối trời
(viết ở căn cứ Tiên Sa)
.
Phất phơ áo lụa trên cầu
nắng nghiêng cổ tháp ngã màu thời gian
gió xao sóng nước mênh mang
thương em, nhớ mẹ ngập tràn nhánh sông
(chiều qua sông)
.
Ba mươi tuổi bóng tôi về hối hả
đàn em nhìn như người lạ quây quanh
chân khập khểnh đứng trên bờ đất lở
tuổi ngày xuân theo lá rụng tan tành.. ’ ’ ’
( Trần Vạn Giả - Tình cảnh người về)
.
Bạch Cư Dị là một trong những nhà thơ cổ Trung Hoa được nổi tiếng khi ông viết ‘ Tỳ Bà Hành ‘ kể lại số phận hẳm hiu của người ca kỷ về chiều trên bến Tầm Dương. Trong xã hội Miền Nam VN thời chinh chiến, số phận của người lính cũng thương đau chất chứa hằng hằng, cho dù là người đã chết hay bị thương tật tàn phế như Phế Binh Trần Quang Thiếu đã ghi lại trong bài thơ ‘ Buổi nhớ núi ‘ :
.
mới hôm nào dừng chân ven núi
bè có bè có đứa còn vui
anh có anh, chúng ta đời lính
còn lúc này tay nắm môi cười
*
đêm nằm ngủ cay hơi khói đạn
chân co tìm dấu mất chân xưa
ta bỏ quên bên ngoài biên trận
tặng cho rừng ướt lá thêm mưa
*
Buổi đến rừng cây cao nhớ núi
gió nhớ đời ta nhớ anh em
giờ một chân, tật nguyền đau dại
mưa móc người, ơn núi nghĩa sông
.
Đời ai mà không có bạn nhưng đậm đà thắm thiết hơn vẫn là tình lính sống chết có nhau, chính cái thâm giao huynh đệ chi binh đó , đã làm bén lửa trong hồn những con người mà ai cũng tưởng là chai đá nhưng thật sự có ai sưót mướt trữ tình bằng họ ?
Chợt nhớ xuân nào trên chiến địa,Tao mày hiu hắt đón xuân chơiMột thằng lính bộ đời như bỏMột đứa nhảy dù cũng tả tơi..
.
Bốn câu thơ của người lính Phong Nhân Hoài viết cho bạn năm nào, đã làm cho người lính gia tha hương càng thêm trơ trọi, lạc lõng giữa tối ba mươi lạnh lẽo nơi chốn quê người.. Trong quán khách bên đường, ta một mình sóng đôi với ngọn đèn hiu hắt, qua đêm lại một năm buồn. Rượu chưa nhắp mà môi dã muốn cay sè, ngoài trời con chim kỹ niệm vẫn như thiết tha giục giã dù khói lửa đã ngưng trên chiến địa, bạn bè cũng không còn quan hà cạn chén ly bôi , sau những tiếng tỳ bà nhặt khoan nức nỡ. Tan tác, chia xa,giờ đây chúng ta đang lang thang như mây chiều, sau những năm tháng đã giốc ngược đời mình cho quê hương.
.
‘ Tội nghiệp đời trai chưa thỏa
chí sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẩm lối gầy
Chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
đêm hát vang lừng nơi chiến địa
mộng hoàng hôn khép giữa hư vô .. ’ ’ ’
.
Thời gian trôi đi tưởng có thể làm vơi phần nào nổi đau của thân phận nhưng ai có thể làm ngơ khi được đọc qua những lời thơ viết của Trần Dzạ Lữ, của Tô Thùy Yên, của Trần Đức Uyển.. những người lính được sống sót sau chiến trận, đã gởi vào gió đất những tiếng thầm thì, để cố níu lại thời gian để mình được sóng với đồng đội vừa gục ngã :
.
‘ giặc đánh lớn, mùa mưa đã tới
mùa mưa như một trận mưa liền
châu thổ mang mang trời sát nước
hồn chừng hiu hắt nổi không tên
tiếp tế khó, đôi lần phải lục
trên người bạn gục đạn mười viên
di tản khó, sâu giòi lúc nhúc
trong vết thương người bạn nín rên
người chết mấy ngày chưa lấy xác
thây sình, mặt nát lạch mương tanh .. ’ ’
’( qua sông )
.
‘ bốn năm thằng lơ láo
áo quần rách tả tơi
ăn cơm bên xác người
tay bốc tay cầm súng
.
lòng nhớ mẹ phương tây
ý thương em chạy giặc
xóm làng sầu khôn khuây
.
ăn xong múc nước ruộng
uống đại cho qua ngày
quê nhà em có biết
chinh chiến thân lưu đày
*
ăn được là điều may
có khi hai ba ngày
không ăn chẳng có uống
ta nằm với cỏ cây.. ’ ’ ’
(Trần Dzạ Lữ - Bữa cơm ngoài chiến trường)‘
.
Tự hỏi về đâu, đâu chả được ?
hãy tìm bên suối ngủ đêm nay
gối đầu lên đá nhìn trăng sáng
rừng núi sương mù ướt chẳng hay.. ’ ’ ’
(Trần Đức Uyển - Buổi chiều ngồi trên đá)
.
Cuộc chiến đã khuất dần trong quá khứ hơn một phần tư thế kỷ nhưng dư âm của nó vẫn còn phảng phất khắp nơi nơi, in đậm trên từng khuông mặt héo gầy của những chàng trai Việt một thời ngang dọc, đã bỏ lại chiến trường một phần cơ thể của mẹ ban cho. Nhưng xương máu của chúng ta tới nay cũng vẫn là những đóng góp cao quý trong công cuộc ngăn chống giặc thù bảo vệ quê hương Miền Nam suốt hai mươi năm chinh chiến.
.
‘ Trên non năm bảy thằng tuổi trẻ
buổi chiều thu uống rượu không cười
ôi người tuổi trẻ sầu trong mắt
đêm trong rừng mộng gởi quê xa
*
quê xa ta có em và mẹ
nhớ ao bèo xanh bông tím thiết tha
nhớ người con gái bên hàng xóm
chiều thả thuyền vớt mộng nở hoa.’
(Vũ Hửu Đinh viết cho Trần Dạ Lữ)..
.
Trên đường mênh mang đi tìm đồng đội cũ khắp miền yêu thương trong ký ức, qua hàng ngàn bài thơ được viết từ chiến trường lửa đạn, nơi chòi canh đồn vắng, trong giao thông hào hay nơi quán lẽ bên đường những lúc người lính tạm dừng chân. Cao Thoại Châu một người lính trẻ, hồi tưởng lại thời gian theo học tại Trường Bộ Binh Thủ Đức với tâm trạng thương nhớ em nên chỉ muôn cho mau tới kỳ đi phép hay mãn khóa để chúng mình lại tương ngộ :
.
‘ thứ hai này nhớ em buồn vỡ mắt
ước làm chim bay qua cổng quân trường
qua cánh đồng có lúa mạ xanh non
những mái nhà đỏ tươi ngói mới
muốn bay lên từ tối tăm hiện tại
phải qua cổng nào em chọn cho anh ?
ký ức anh phai mờ như bụi đóng
áo ngả màu ba lô mũ sắt
và giấc ngủ vẫn rình trên mắt
và tương lai như một góc phòng
mà bóng đêm đã lấp dần ánh sáng
như tận cùng ước muốn đời ta ‘
(Cao Thoại Châu viết trong cánh cửa quân trường)
.
Đời lính gian lao cực khổ nên đâu sá gì chuyện đổi thay của trời đất. Nhưng thật tình mà nói mỗi khi tới mùa mưa làm nhớ không chịu được, dù là mưa bụi lất phất từng hạt nhẹ hay những cơn mưa đầm đìa nước mắt rơi lộp độp trên nón sắt hay những tấm poncho. Bởi vì mỗi mùa mưa là những mùa kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò. Thời tao loạn, mấy đứa con trai tới tuổi lớn đã không còn được cắp sách đến trường, đã xa rồi một cuộc tình thương nhớ. Năm 1966, từ chiến trường Bùi Khiết đã viết gửi về em những niềm thương nhớ :
.
Vào đêm em ngủ chưa em ?
Trong mơ có gặp ưu phiền nhiều không ?
Đèn xanh thành phố xa trông
Hoang vu anh đứng mà lòng chiêm bao
Mưa rừng tiếng lá xôn xao
Tay ôm súng lạnh buồn sao là buồn .. ’ ’ ’
(Thơ Bui Khiết viết trong Đêm mưa hành quân 1966)
.
Nhận được tin con đầy tháng, Vũ Trong Quang người lính Sư Đoàn 2 Bộ Binh rất vui nhưng rồi buồn vì đang hành quân đâu có phép để về thăm con vợ. Cùng một tâm trạng, Tô Nhược Châu cũng viết những lời thơ rất nồng nàn trìu mến gửi lại cho vợ con trước giờ hành quân :
.
‘ Hay tin con đầu vừa tròn một tháng
vui thì vui nhưng lòng cũng thật buồn
vui vì con hiện hữu trên đời sống
buồn bởi ta không được phép về thăm
*
Ta còn phải lội vượt sông trèo núi
đường vào Ba Gia trăm nẻo hiểm nguy
sáng pháo Sa Huỳnh
lửa chiều Mộ Đức
đêm nằm Trà Bồng xôi đậu phân ly.. ’ ’ ’
( Đầy tháng con - 1973)‘
.
Hãy ngủ ngoan đừng kinh hoàng nghe con
dù đêm nay thật nhiều súng nổ
hãy ngủ yên đừng đợi chờ nghe em
dù đêm nay anh đi ra trận
dù đêm nay anh đi không về .. ’ ’ ’
(Tô Nhược Châu - Lời dặn vợ con trước giờ hành quân)
.
.Buồn quá đời lính thú đã kéo chúng ta ra khỏi cuộc gối chăn, tất cả những con đường ngắn dài của tuổi thơ đã trở thành những nẻo đường trong trí nhớ nên chỉ còn biết vui với rừng sâu mưa núi qua cuộc rượu những lúc dừng chân bên quốc lộ đêm nhớ ngày mong :
.
‘ rượu pha xá xị đầy nón sắt
dăm thằng chuyền nhau uống vòng vòng
đuổi bắt nhau như ngày với tháng
như khoanh tròn tựa một số không ‘
(Linh thú - 1973)
.
Đà Lạt mù sương với những đồi thông và muôn ngàn cỏ hoa nỏn nưởng khoe hương sắc, Ban Mê Thuộc, PleiKu, Kon Tum cát bụi mịt mù, những địa danh đến và đi của người lính biên trấn Quân Khu II một thời oanh liệt, những chiến sĩ Lôi Hổ, Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Sư Đoàn 22 và 23 Bộ Binh một thời vẩy vùng ngang dọc, đã được người lính Vũ Hửu Định ghi lại qua nhiều tình khúc rất nồng nàn. Tiếc thay Anh đã qua đời quá sớm vào năm 1980 khi mới có 34 tuổi (1980-1946) :
..
phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
*
em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trông
*
xin cám ơn thành phố có em
xin cám ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc trên đường biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên.. ’ ’
’(còn một chút gì để nhớ)
*
cũng có khi nào anh trở lại
phố xưa đường cũ mùa mưa bay
mưa như gió ướt nên lòng lạnh
gió thổi sầu sương đậu tóc bay
*
phố không đèn điện con đường lặng
những ánh đèn cây sáng chập chờn
anh gặp em ngồi đang rẽ tóc
mái tóc dài xanh những ngón tay
*
và anh yêu lấy sầu chẳng nói
mình anh ở lại quán mù mù
tưởng bao năm trước ta là bạn
chỉ nhìn nhau mà cảm được nhau.’
(Cũng có khi nào)
.
.Lính là thế đó, buồn nhiều vui ít, với một chút nhun nhén tình cờ bắt gặp, trên các nẽo đường hành quân vô định, qua dăm ba ngày Tết dưỡng quân hay canh giặc chốn tiền đồn, lẽ loi ngoài quan tái. Ai đã từng là lính, mới cãm thông cho lính, sống thật cô đơn lếch thếch và chết cũng rất hiu hắt ngậm ngùi. Thời gian và không gian đời lính cũng chẳng qua chỉ là một cái mốc vô tình để biết ta hiện hửu. Nhưng thôi tiếc làm gì ai biểu ta sinh ra làm trai hùng đất Việt ? nên phải chấp nhận kiếp lính “ ôm yên gối trống đã chồn, nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh “ để rồi thui thủi “ đêm từng đêm ngó mông lung, vỗ bờ kiếm thép hát rừng mà nghe “.Nổi buồn của lính đã được Yên Bằng viết trong một bức thư gửi về cho người vợ lính của Sư Đoàn 21 Bộ Binh , đọc sao mà thảm thiết quá :
.
‘ Nghe ta chết ở một nơi nào trong rừng U Minh
em rót rượu uống mừng nhau nhé
hởi người vợ lính Sư Đoàn 21 Bộ Binh
có nhìn thấy mặt trời mỗi khi lặn khuất
là cuộc tình ta đó
trên tháng ngày chờ ôm tấm mộ bia
nên mỗi sáng ngồi uống chum cà phê
ta bổng thấy tim hồng rớm máu
*
Thật là cảm động biết bao những người lính sau cuộc chiến may mắn được sống sót, ngồi hồi tưởng lại những đêm say cùng bạn trong ‘ Quán Cô Hồn ‘ với bửa tiệc nơi quán xếp bằng xị rượu nồng, miếng khô nai cứng ngắc nhai trong miệng mà ta cứ tưởng như đang nhai cả cuộc đời lận đận đắng cay của kiếp lính, cho nên uống vào như ta uống cả niềm đau sầu cháy long đong. Buồn quá đổi lại càng buồn thêm khi chạnh nhìn cô quán trẻ vừa mới làm quả phụ khi cuộc tình chưa quá một mùa đông. Sau đó bạn ra đi và đã gảy cánh tại Kon Tum năm 1974, được Tiếp Sĩ Trường một phi công ở Phi Đoàn 218 ghi lại qua bài thơ ‘ Nữa Mảnh Phi Bào ‘ khóc bạn cố Trung Uý Nguyễn Văn Phú :
*‘
.. cởi mảnh phi bào anh để lại
trao về quê mẹ một trời xuân
mai đây nếu có ai thương tiếc
xin đốt cho người một nén hương
ngày xưa anh đứng bên song cửa
nhìn áng mây trời ngó cánh
baygiờ đây mây trắng
anh xây mộng
lại biến vành tan buổi xum vầy.. ’ ’
’(nửa mãnh phi bào)
.
Em hãy nhận dùm ta tấm thẻ bài
ở đó có số quân cùng loại máu
vì máu ta đã chảy
trong khu rừng vàng úa cỏ vô tâm
chẳng biết rằng khi chết có vui không ?
nhưng chắc hẳn em buồn quá đổi
vì ở Đầm Dơi có nhiều chuyện lạ
người chôn người như thể thù nhau..
là nổi đau thương của người vợ lính .
.*
quyển sổ dầy mở rộngtôi ghi gì nữa đây ?
từng đốt tay tê cóng máu trong tim đã đầy.. ’ ’ ’
.
Với lính thì tết nào cũng tết tha hương, xuân nào cũng xuân lữ thứ. Đêm trừ tịch giữa tối ba mươi, cái khoảnh khắc năm cũ sắp tàn, khi mà mọi nhà chặt then kín cửa, để sửa soạn đón giao thừa, trong niềm hạnh phúc của gia đình, thì lính cũng đón chào năm mới trong chiếc hầm trốn đạn hay mái chòi canh giặc đen tối lạnh lùng. Nhớ từ đâu bổng kéo tới, vây kín cái không gian nhỏ hẹp . Chu Trầm Nguyên Minh, tác giả của ‘ Cuộc Tình Người 1969’ cũng là một người lính trẻ, viết thư gởi về cho người yêu trong một phiên gác đêm :
.
Súng kê giấc ngủ mơ hồ
đêm nghe tiếng nhảy ngựa thồ đổi phiên
xin cho em ý ngoan hiền
biển sương rơi đọng trên miền dung thân
anh nhìn anh những phân vân
đời trai giờ chỉ có ngần ấy sao ?
(Chu Trầm Nguyên Minh viết trong Phiên Gác Đêm tại đồi 182)Ngoài trời mưa xuân đến sớm nhưng sao buốt lạnh quá chừng, khiến cho ta thêm buồn rầu trong bóng tối một tết tha hương. Dường như có ai đang hát ru NHỮNG TÌNH KHÚC CHIẾN TRƯỜNG giúp ta nhắp một chút men nồng để thấy lại ngày xưa, để ta dìu ta trở về trong kỷ niệm buồn vui của đời lính với những tết không bao giờ quên được dù nay bạn bè người còn kẻ mất, trong đó có rất nhiều anh em đã gục chết ngay giữa tuổi thanh xuân mộng thắm tràn đầy .
.
‘ Giữa đồi sương và gió
Tình cờ ta ghé qua
Ngu ngơ nhìn ngọn cỏ
Quanh mộ đời phôi pha
*
Giun dế đọc dùm ta .
Tên một loài dễ vỡ
Chim một bầy gọi nhỏ
Tên một loài hư vô
*
Người ôm bờ huyệt lạnh
Ngủ cùng đất ngàn năm
Ta ôm đời lẽ bạn
Mang mang sầu uanh quanh..
(Chinh Yên một chiều viếng mộ bạn)
.
Ngày đầu tiên về đơn vị cũng là ngày cuối năm, nên khi xe lủa tới Đà Lạt, cũng là lúc thiên hạ đang rộn rịp đón giao thừa. Cao nguyên Lâm Viên mùa Tết, nên trời rét căm căm. Chúng tôi tát cả là dân miền biển và miền nam,nên chịu không thấu với cái lạnh miền núi,cát da tím thịt, trong bộ đồ trận mõng manh, qua đêm đầu tiên tại nhà vãng lai của Tiểu Khu Tuyên Đức. Viết sao cho hết nổi buồn rầu của bọn lính xa nhà trong đêm Tết ? dù đêm Xuân Đà Lạt thật tuyệt vời, khiến ta cứ ngở như mình đang lạc lối đào nguyên, giữa hoa và người đẹp, cả hai sắc hương đường như cùng với mây trời ngạt ngào trong sương giá. Đà Lạt đêm xuân thú vui không kể xiết, khắp phường phố thiên hạ quần áo là lượt hạnh phúc, gắn bó từng cặp, từng đôi trong muôn màu đam mê rực rỡ nhưng với bọn lính mới đầu đời, Đà Lạt lại vô tình hờ hửng.
.
Xin chào mi , hởi núi rừng
Trung ViệtTa đã qua và ta đã dừng chân
Ta đã nhiều đêm giấc ngủ chập chờn
Những tối trăng sao không buồn ló dạng
Những tối nghe mưa lòng buồn vô hạn
Những hạt mưa như nước mắt mẹ già
Những hạt mưa lạnh buốt cõi hồn ta
(Hạ Đình Thao giả từ )
Không dưng mà lạnh thật đầy
với hồn thương tích với thây ma người
chiều lên ôm súng nhìn trời
bâng quơ ngó xuống cuộc đời buồn tênh
rươu đâu mà uống cho quên
người đâu mà họp đủ phiên chợ nghèo
lá rừng ai đốt đen thui
chim về ngơ ngẩn ngày vui năm nào
hởi em tình thoảng chiêm bao
giờ không khí đó đã vào cổ sơ ‘
(Giang Hữu Tuyền viết ở biên giới Việt Miên)
.
Bởi vậy cả bọn đều mong mau sáng, để sớm trả lại cái thiên đường hạnh phúc mà trời trót dành cho những giai nhân tài tử. Rồi thì chia tay, dăm đứa gọi là kém may mắn khi về TD 3/43 gần mặt trời. số còn lại bổ sung cho TD 1 và 2/43. Một cuộc hành quân mở ra vào ngày mùng ba tết nguyên đán, mục đich khai thông quốc lộ 12, đưa lính mới và quân trang quân dụng bổ sung cho hai đơn vị tại Bình Thuận. Nhờ vậy mới có dịp hưởng được một cái tết núi rừng vui nhộn với người Koho, quanh bếp lửa hồng.
.
‘ Những chiều Trường Sơn gió cao , gió nhớ
Sao người không về theo gió chiều nay
Cho em tình ấm vui hồn nhỏ
Đợi chờ nhiều, em giận cả mây bay
Những chiều buồn đường lên dốc thẳng
Em ngở chừng đang về cửa trời cao
Mây đệm trắng êm đềm thân thể mới
thông rừng xanh gọi gió nhớ lao xao
Thôi Anh rượu đắng thôi đừng rót
Sương khuya chùng lạnh xuống vai em
Như đời băng giá trong đáy cốc
Người đi làm rượu đổ nghiêng nghiêng .. ’ ’ ’
(Nẻo Cao thơ Hoàng thị Bích Ni)
.
Được vui Tết với người Koho là một thích thú tột cùng. Ở đây hoa nhiều không đếm hết nhưng cũng không có hoa gì đẹp hơn hoa mai làm đêm thêm ngát, làm cho lính đã ngây ngất bên ché rượu cần, lại càng ngẩn ngơ hóa bướm vì tiếng hát ngây thơ hồn nhiên của các cô gái vùng cao,khiến cho mấy chục năm qua rồi, mà trong hồn mỗi lần chợt nhớ, như muốn khựng vì mùi chua của rượu cần và muì hương của núi rừng tây bắc. Sáng tới lính lại lên đường, không được như người Koho, sung sướng tiếp tục cuộc vui Tết quanh các gia đình, cho đến hết tháng giêng mới chấm dứt khi cả Buôn không còn rượu và thịt.:
.
Ớ chàng trai lính ơi,
đùng quên đêm nay bên vũ điệu Lam Tơi,
đôi ta tình cờ quen nhau ngắn mgũi,
nhưng em nguyện chờ chàng trở về ..”‘
Mai mốt em về em về đâu?
Con sông nước chảy trắng chân cầu
Tiếng hát già nua người bạn cũ
Đêm dài muôn thuở buộc lòng nhau
Ngoài kia buồn buồn không em ?
Xa hởi ngàn xa bóng nhạn chìm
Thương ai ái ngại tìm đôi mắt
Chưa biết đêm nào thức trắng đêm ..
( Cõi Nghìn Trùng - Hoàng Trúc Ly)
.
“ Đón giao thừa một phiên gác đêm
chào xuân đến súng xa vang rền
.
Xác hoa tàn rơi trên bán súng..
ngở pháo tung bay,
ngở tóc em vương..”
.
Bài hát củ của nhạc sỹ Nguyễn văn Đông, mấy chục năm về trước ,nay sao vẫn nhớ như niềm nhớ về một cái tết xa xưa rất tình cờ với đồng bào Thái Trắng, khi tiểu đoàn nằm tiền đồn, giữ an ninh ngoài vòng đai Tùng Nghĩa.
.
Buổi cà phê cuối cùng
Thôi rời trường Thủ Đức
ta lên đường lên đường
tiếng ca buồn ở lại
*
Bốn đứa nhìn bàn ăn
đĩa thịt bò kỷ niệm
những bãi nắng khô cằn
bước chân buồn xa lạ
*
Chung quanh anh toàn là dây cháy chậm
ô vuông bản đồ sao toàn màu rừng man thiên
nhìn một bận bóng thiết tha nhòa bóng tối
anh giật mình kinh rạch nhện đan luôn
*
Anh trằn trọc từng nằm đêm nhẩm từng tọa độ địch
màu bút chì xanh đỏ đứng nghênh nhau
nghe một thoáng tên em nhòa tiếng súng
anh đứng nhìn hoa lửa cháy trăng sao.. ’ ’ ’
(Thư gởi người phương cũ của Hoàng Yên Trang cũng la Trần Như Liên Phượng tử trận tại Chương Thiện năm 1965 mới 29 tuổi)
.
Chốn biên thuỳ này xuân tới chi, tình lính chiến khác chi bao người “.,nên đêm tiền đồn được vui ké với bản làng một cái tết vui nhộn từ đầu thôn tới cuối ấp, nơi nào cũng vang vang tiếng pháo, khiến người lính trẻ xa nhà chạnh lòng để rơi nước mắt, khi nhớ về những ngày xuân củ, nhớ màu hoa cúc hoa mai, tết đến nở tròn như mắt môi em một thời tuổi học
.
“ tay anh ghì nhẹ trên bán súng, cứ ngở cùng em sóng bước xuân “.
.
‘ Dưới chân đồi Xích Thổ này có con sông
Con sông có cây cầu bắt qua
Bên này là vườn táo là nghĩa địa là ruộng hoang
Là lô cốt là hầm chông là bãi mìn
Buổi sáng anh ở nơi đây
Đu đưa lời tình bên khóm táo
Với bầy te te với tiếng gió sang mùa
Anh phải ngủ thật hiều vào ban ngày
Để đêm từng đêm ngồi ôm súng gác
Anh phải cười nơi đây thật to
Để khỏi nghe tiếng súng
Mỗi khi đài quân đội đưa lời ‘ em yêu lính’
Anh phải văng tục nơi đây cho đã
Vì thiếu bóng đàn bà suốt tháng .. ’ ’ ’
.
(Huỳnh Hữu Võ viết nơi đồn trú duới chân Đồi Xích Thổ) Đâu đâu cũng là chiến trường, nơi nào cũng chết chóc đau thương kể cả những ngày Tết đến. Bởi vậy chỉ mong gặp nhau một lần thôi để lòng bớt vấn vương thương cảm, rồi thì cứ phó mặc cho số phận đẩy đưa bởi chiến trận đâu phải là trò đùa :
.
.. sau những đợt xung phong ào thác lũ
còn lại gì vườn trống cạnh nhà hoang
và hoa cỏ im lìm nghe đón gió
bầy gà con vừa lạc mẹ kêu đàn
*
trên sân nắng nhiều quân thù phơi xác
thanh AK Tiệp Khắc lỏng tay gầy
ngoài bờ lúa nhiều anh em nhắm mắt
vuông đất hồng làm gối lạnh từ đây
*
khi tôi đến quê xa chìm tiếng hát
chiều hành quân vai nặng túi cơm rời
để nép bóng tòa bin đinh cao ngất
trên đường về nghe đắng mặn đầy vơi .. ’ ’ ’
(Sau Chiến Trận - Ý Yên)
.
Chiến tranh tàn nhẩn, oan nghiệt khiến suốt đời lính không quên được hình ảnh chết chóc của những người dân lành vô tội, giữa nhang đèn bánh mứt.. chờ đón xuân về.
.
‘ thằng Vũ chết rồi trong trận Pleime đó em
khủng khiếp và khốc liệt
những lần về phép sau này em ra cửa đón anh
sẽ không bao giờ thấy nó
nó chết rồinó chết cho quê hương đó .. ’ ’ ’
(Phan Huy Mộng - Người chết ở Pleime)
.
Cố nhân xa rồi nên đâu còn ai thương nhớ ai, khiến cho người lính trận thêm cô đơn lạc lỏng nơi chốn thị thành khi nhớ lại những ngày còn tóc bồng còm em mười sáu thơ ngây, để ngày ra đi người lính trẻ chỉ còn có môi em gói lại làm hồn nhớ bâng khuâng :
.
‘ mai ta trở về với núi cao
có mây xanh ngắt lá reo sầu
đêm chờ đạn nổ ngày tạp dịch
ta còn lúc nào để nhớ thu
*
mai ta trở về cùng khói núi
tình mình còn chăng sợi khói bay
nhớ thu ta đứng trên triền dố
cmà lối đi về mây xám bay
*
đã lỡ một đời thân lính thú
còn mơ ước gì chuyện tương lai
tuổi trẻ cháy dần trong khói súng
ta lấy đời mình đánh cuộc chơi .. ’ ’ ’
(Vũ Hoàng - với thu như một giã từ).
.
Một thơi dại chinh chiến bao lớp người nối tiếp ra đi vì nước non nên chỉ biết giả từ tất cả mà Hoàng Trọng đã gom lại để viết thành một ca khúc rất nổi tiếng ngay từ năm 1962 :

.
biết đến bao giờ gặp lại người em thời thơ ấu
để báo tin rằng cuộc đời từ nay đã khác xưa
một phút gần nhau rồi tình mãi mãi lìa xa
quà nghèo chỉ có lời ca
tặng nàng trước khi từ giã
( Giã từ)
Em yêu hãy hôn anh một lần trước khi anh đi lính
giữa thời đại chiến tranh cái gì cũng vội vã
hếtphải không em
nhưng nhớ hôn anh một lần này thôi
vì không chừng anh sẽ ra đi
hoặc trong mười năm mười lăm năm
hay vĩnh viển
bây giờ anh còn tay bây giờ anh còn chân
bây giờ anh còn mắt
bây giơ anh chưa đui mù
chưa câm điếc chưa què quặt
nhưng biết mai anh còn đủ không
và cả trái tim anh nữa
biết còn rung động hay im lìm ngừng đập
nhiều lúc anh tự hỏi chiến tranh để làm gì ?
(Trần Uyên Phương - Trước khi đi lính).
‘ tao để Tiểu đoàn 6 cho mày
trạm cứu thươngcó thằng Khiên mù
có thằng Nhu ngọng
tao để Vũng Tàu lại cho mày
bãi trước bãi sau
gió biển ngây ngây mùi gái
hỡi thằng Y Sĩ Dù bé nhỏ của chúng tao ơi
đi chưa bao giờ biết mệt
chiến đấu chưa bao giờ biết nằm
Đêm Gio Linh xác địch chất bên miệng hầm
Chiều Cao Lãnh đạn ghìm sâu vào gối
và Dakto mãnh sướt bờ vai
để một sớm mai buồn chúng tao thức dậy
lặng người đau đớnnghe tin mày hy sinh.. ’ ’ ’
(Trang Châu - Một bài thơ cho Tuấn)
.
Hình như giao thừa sắp đến, trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho mẹ già, em gái, cho ngươi yêu củ, bạn bè, đồng đội, đồng bào.. được may mắn an bình trong buổi hổn mang dâu bể.. Kỹ niệm xưa từng mảng lại trôi bềnh bồng trên mắt, lén lút đẩn dắt hồn người lính trẻ về thuở hoa niên, khi những cánh hoa phượng đỏ ối nối hàng, dọc theo con đường Nguyễn Hoàng dẫn vào lớp học, đã bắt đầu rụng rơi lã tã giữa các trang lưu bút, trên từng rèm mắt ô môi, cũng là lúc bọn học trò nghĩ hè làm gã giang hồ lãng tử, trên những chuyến tàu hỏa chui Phan Thiết-Sài Gòn rồi Sài Gòn-Phan Thiết, đi hoài vẫn không thấy chán. Nhưng em đã đi rồi từ khi tôi vào lính :
.
.‘ năm năm rồi không gặp
từ khi em lấy chồng
anh dặm trường mê mãi
đời chia hai nhánh sông
*
phong thư tình ngây dại
đường xưa quen lối về
trong mịt mùng gió cuốn
nghe nhạt nhòa mưa qua
*
ngày nhà em pháo nổ
anh cuộn mình trong chăn
như con sâu làm tổ
trong trái vải cô đơn
*
năm năm rồi ly biệt
một màu tang ngút trời
chúa buồn trên thánh giá
nằm trơ vơ gác chuông .. ’ ’ ’
(năm năm rồi không gặp ố Phạm Văn Bình).
.
Rồi những ngày dài chinh chiến, định mệnh lại đẩy đưa đời lính về chốn cũ Long Khánh-Bình Tuy-Phan Thiết. Tuy tàu hỏa đã bị gián đọan nhưng suốt con đường sắt từ Mường Mán về Gia Ray, con đường mòn Võ Xu tới Suói Kiết, kể cả những suối rạch, bải đá ven sông La Ngà, đều là những lối lại qua quen thuộc , đã cùng tôi chắt chiu suốt đoan đường tuổi trẻ. Làm sao quên được những ngày dừng quân ở Văn Phong, Mường Mán ? ngày ngày ngồi ngâm nga tách cà phê đen ngon tuyệt nơi quán lẽ ven sông, ngó nhìn các chuyền tàu xuôi ngược.
.
‘ quê cũ mười năm mây lớp lớp
mười năm mưa khóc buổi sang mùa
dưới trời sương lạnh rơi tan tác
rét mùa đông cũ rét lê thê
.
đường tôi đi có bom và đạn
có hận thù trên mỗi dấu chân
ai thả vào hồn tôi mới lớn
những mùa xương máu ngập tang thương..
’ ’ ’(Đi giữa chiến tranh - Phạm Cao Hoàng)
.
Những người tuổi trẻ như chúng ta một thời chinh chiến đã lần lượt rũ nhau đi trong lửa đạn, làm kiếp lang thang mây chiều, cũng vì ai mà xương máu ngất núi trên quê hương hận thù. Tan tác, chia ly kẻ còn người mất, kỷ niệm chỉ còn vương lại một hớp rượu cay mà ta cố giữ lại trên đầu lưởi.
.
Hồn ta nay đã mất, có còn chăng là dư ảnh của ngày xưa, của đồng đội bạn bè.. như những giọt nước mắt cứ chảy dài của những người góa phụ trẻ mà Lê Xuân Hảo đã viết cho chồng là cố Thiếu Tá Pháo Binh VNCH Nguyễn Tấn Hưng thuộc Tiểu Đoàn 155 ly Pháo Binh, đã mất tích tại Kon Tum vào mùa hè đỏ lửa 1972 :
.
Ngày anh lên thiếu tá
với chữ cố đứng đầu
em trở thành góa phụ
trầm mình trong vực sâu
*
ngày anh lên thiếu tá
sao chẳng có rượu nồng ?
ngoài năm vành khăn trắng
nay dật dờ cô đơn
(Ngày vinh thăng của Anh)
25 tuổi đầu, tôi làm góa phụ
bốn đứa con thơ tỉnh yêu chưa tròn
10 năm chiến chinh vai đời pháo thủ
chồng tôi bây giờ nằm xuống cô đơn
*
25 tuổi đầu tôi làm góa phụ
má đỏ môi hồng còn gì nữa đâu
thu đến đông sang xuân qua hè
lại màu trắng khăn sô : tôi chít trên đầu
‘(Góa phụ 25).
.
Gọi là cuộc hành trình vô vọng dù cô Băng Phương đã ròng rã suốt hai tháng trường, đi khắp lãnh thổ Miền Nam, từ Nghĩa Trang Quân Đội tai Biên Hòa ra tới miền Bắc, lên tận Pleiku, Kon Tum.. nhưng tin tức của người cha yêu dấu vẫn biền biệt phương ngàn. Thật là cảm động biết bao về tấm lòng hiếu thảo của một người con chí hiếu, xin chân thành dâng lên một nén hương lòng lên các Anh : Những người lính oai hùng của VNCH một thời lửa đạn, người có tên, người còn mồ hay người đã biệt tích. Tất cả đều xứng đáng được hậu thế tôn vinh, sử xanh ghi công rạng rỡ :‘ mai về nẻo ấy chiều sương khóita biết tìm đâu bước bạn hiềnvượt thác Mé Kông qua cầu khỉPaské héo hắt bóng trăng đơn*mai về quê mẹ qua biên giớithăm lại Trường Sơn thuở kiếm cungrừng núi vẫn xanh màu khát vọngchỉ ta hờn tủi kiếp tha hương(Phong Nhân Hoài ố Thì thôi hãy khóc để quên đời 1972).
.
Gọi là cuộc hành trình vô vọng dù cô Băng Phương đã ròng rã suốt hai tháng trường, đi khắp lãnh thổ Miền Nam, từ Nghĩa Trang Quân Đội tai Biên Hòa ra tới miền Bắc, lên tận Pleiku, Kon Tum.. nhưng tin tức của người cha yêu dấu vẫn biền biệt phương ngàn. Thật là cảm động biết bao về tấm lòng hiếu thảo của một người con chí hiếu, xin chân thành dâng lên một nén hương lòng lên các Anh : Những người lính oai hùng của VNCH một thời lửa đạn, người có tên, người còn mồ hay người đã biệt tích. Tất cả đều xứng đáng được hậu thế tôn vinh, sử xanh ghi công rạng rỡ :‘
.
mai về nẻo ấy chiều sương khói
ta biết tìm đâu bước bạn hiền
vượt thác Mé Kông qua cầu khỉ
Paské héo hắt bóng trăng đơn
*
mai về quê mẹ qua biên giới
thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung
rừng núi vẫn xanh màu khát vọng
chỉ ta hờn tủi kiếp tha hương
(Phong Nhân Hoài ố Thì thôi hãy khóc để quên đời 1972).
.
Có ai còn nhớ lối xưa để tìm về mà có tim chăng nữa thì cũng chỉ thấy những thành mộ chí hoang vu, cỏ lau xưa hiu quạnh, khiến cho những người lính già cứ ngẩn ngơ hóa bướm dù bàn tay vẫn ấp trên những trang báo ngày nào. Ngoài đêm bây giờ hình như tiếng ngựa vẫn còn lao xao hí hoài những hồi thúc giục, đời vẫn mỡ ra trước mắt như đang gọi hồn người lính đi vào cõi mộng lung muôn trùng.‘ còn ba năm nữa anh sẽ vềanh biết chắc không còn quê hương để ở em gắng sắm cho anh một cây đàn bầu làm bằng nắp hòm người lính nghèo chết ngoài mặt trận anh sẽ đàn cho mọi người cùng nghe mà không xin tiền chỉ tìm lại những đôi mắt trân tráo những bước chân đi qua vĩa hèvới nụ cười mà nhiều năm anh đã mất .. ’ ’ ’
(Khi giải ngũ - thơ Hà Nguyên Dũng). -/-
.Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy DiMười lăm Tháng Hai 2009
.
MƯỜNG GIANG
.