Thursday, June 3, 2010

Người lính Nghĩa Quân trong tim tôi.
Nguyễn Thanh Thuỷ

Năm tôi được 10 tuổi, gia đình tôi bỏ ruộng vườn vào ở trong khu Ấp chiến lược, được bao bọc bởi một vòng thành kiên cố có kẽm gai, có hào sâu chung quanh. Ở hai đầu ấp có hai cái đồn nghĩa quân nhỏ. Ba má tôi thỉnh thoảng trở về nhà làm ruộng, gặt lúa ban ngày, rồi ban đêm vào xóm ở. Ấp Chiến lược là một công trình chiến lược dùng để cô lập Việt Cộng ra khỏi dân chúng. Việt Cộng hay trà trộn trong dân và bắn giết dân chúng, quân lính Việt Nam Cộng Hòa.

Lúc nầy VC bắt đầu nổi dậy mạnh ở miền Tây, thâu thuế, giết hại dân thường, ám sát Xã trưởng, Ấp trưởng của VNCH gây kinh hoàng cho dân chúng, gây mất ổn định cho xã hội miền Nam đang sống trong thanh bình. Họ bịt mắt, chặt đầu hay chôn sống bất cứ người nào họ nghi ngờ là đang cộng tác với chính quyền VNCH. Khu ấp chiến lược tôi ở được bảo vệ bởi một trung đội nghĩa quân, gồm có 3 tiểu đội. Các chú lính hay ở trong đồn còn vợ con họ sống trong các căn nhà nhỏ trong xóm. Nhà tôi ở gần nhà ông Tiểu đội trưởng, tôi kêu là chú Tấn.

Lúc mới vào ấp tôi chỉ là một đứa con gái nhỏ quê mùa ngơ ngác. Nhưng lần lần tôi cặp bè bạn chơi với mấy đứa bạn, gái có, trai có, lớn tuổi, lanh lợi hơn, tôi học được nhiều thứ mới mẻ . Tôi biết cả tên cây súng nào là cây Carbine, cây nào là Garant, Thompsom, cây nào là cây súng phóng lựu .
Tôi biết tên hầu hết các chú lính nghĩa quân trong tiểu đội của chú Tấn, nào là chú Tường, chú Sanh, chú Đúng, chú Quít, chú Mực ... Các chú rất hiền và chú nào cũng nghèo. Bộ quân phục được các bà vợ vá nhiều chổ. Tôi hay lân la đến nhà các chú chơi với con của họ. Với đồng lương nghĩa quân khiêm tốn, các chú ăn uống rất đạm bạc, thường là cá linh, cá lòng tong kho, với rau lang luộc hoặc chút ít canh bí, canh bầu . Hầu như chú nào cũng có vợ và vài ba đứa con. Khi rãnh rỗi tôi thấy các chú hay giúp việc nhà cho vợ buôn bán chút đỉnh kiếm thêm tiền. Có chú giữ con cho vợ ngồi bán rau ngoài chợ. Có chú xay bột cho vợ làm bánh tầm, bánh bò bán cho dân trong xóm ..

Chú Tấn còn trẻ, nhưng ít nói . Thím Tấn là một người đàn bà hiền lành, có đôi mắt đẹp, to và dễ khóc Chú hay xay đậu nành làm thành bánh đậu hủ cho thím ủ chao, ủ tương, rồi thím đem bán vào những buổi chợ rằm, chợ ba mươi cho người ta ăn chay . Chú thím Tấn có hai đứa con . Thằng Dũng được 6 tuổi, con Lan 3 tuổi . Khi bận bán tương, chao , thím Tấn hay gởi 2 đứa nó nhờ tôi giử dùm . Tôi hay chơi đùa và coi chúng nó như em. Tụi nó cũng rất thương tôi .

Rất ít khi dân trong xóm gặp các chú nghĩa quân ra đi hành quân, các chú lặng lẽ ra đi khi trời sụp tối để giử bí mật . Họ âm thầm canh gác đâu đó dọc theo bờ thành ấp chiến lược, sáng sớm mới trở về. Họ đi về im lặng như những cái bóng mờ . Có những sáng tôi hay gặp các chú trở về, thường thì chỉ có cái áo khô, quần các chú ướt đẫm, sình bùn lên trên đùi. Các chú thường đi dép hay đi chân không, chẳng mấy ai có được đôi giầy .

Có khi đang đêm, tôi nghe súng nổ dòn giả . Sáng hôm sau các chú lính quen thuộc mang về hai cây súng chiến lợi phẩm của VC cùng với vài trái lựu đạn . Các chú kể cho mọi người trong xóm nghe là đêm rồi một toán VC băng qua ruộng phá hàng rào định đột nhập vào ấp chiến lược thu thuế và bắt dân đi làm dân công, qua sự hướng dẫn của một tên giao liên là người trong ấp. Các chú bắn chết hai tên, thây còn bỏ ngoài bìa ấp . Chúng tôi rủ nhau đi coi xác VC. Có lần các chú bắn chết cả một xuồng VC đang băng qua sông . Nhờ các bác ghe chài vớt lên, được nhiều súng . Sáng hôm sau ông Quận trưởng bất ngờ đến đồn nghĩa quân xóm tôi, khen ngợi và thưởng tiền mua một con heo quay thật lớn . Các chú được dịp ăn nhậu vui vẽ . Mấy đứa con các chú nghĩa quân cũng hí hửng được dịp ăn thịt heo quay .

Một ngày nọ tôi đi học về thấy cả xóm nhốn nháo lên, mấy thím vợ lính hớt hãi lo lắng. Thím Tấn nước mắt đoanh tròng. Tôi hỏi thì thím cho tôi hay Trung đội nghĩa quân vừa bị tấn công và 2 chú nghĩa quân hiền lành của xóm tôi vừa hy sinh, đền nợ nước. Chú Mực mà tôi quen thì bị đạp mìn VC gảy giò . Thật là một cái tang lớn cho cả xóm tôi . Linh cửu của 2 chú được quàng tại chùa, vợ con lối xóm khóc lóc tỉ tê . Đến chiều thì người ta chôn 2 chú ngoài bờ rào ấp . Một hàng 6 chú nghĩa quân đứng chào trên bờ huyệt . Quan tài hạ xuống, các chú bắn 6 loạt đạn điếc tai . Mặt các chú rất đau khổ, gầm lại khác hẳn các khuôn mặt hiền từ hàng ngày mà tôi thấy .

Vợ con hai chú đòi nhảy xuống huyệt chết theo chồng . Nhiều người phải xúm lại kéo các thím lên, khó khăn lắm mới dẩn được họ về nhà . Bọn chúng tôi và mấy đứa con trai ngày thường hay chạy nhảy, phá phách, la hét, mà giờ cũng đứng im ru . Tôi không biết VC là ai, nhưng tôi lờ mờ hiểu rằng họ là người không tốt, vì họ bắn phá mà gia đình tôi phải bỏ thôn xóm vào đây . Giờ họ còn theo định đột nhập vào cái ấp chiến lược nầy làm chi nữa ?

Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt . VC bắt đầu tấn công miền Nam ở cấp số lớn hơn. Họ đặt mìn giật xe chạy trên quốc lộ , họ giật xập cầu , bắt dân chúng đi đắp mô cản đường xe chạy . Có khi họ giật mìn chết cả một chiếc xe đò . Nhiều người chết có cả đàn bà và trẻ em, thịt xương văng tung toé . Có lúc họ pháo kích hay đặt mìn giật xập trường học của học sinh miền Nam. Tiểu đội của chú Tấn phải đi kích liên miên. Thím Tấn lo âu thấy rõ . Trung đội nghĩa quân lập được nhiều chiến công . Nhưng các chú nghĩa quân mà tôi quen biết cũng vơi dần . Họ đã âm thầm ra đi như những người chiến sĩ vô danh và trở về im lìm, trong những chiếc chiếu, những cái poncho, trong cái cảnh da ngựa bọc thây .

Rồi cái ngày đau thương của thím Tấn và 2 đứa con dại đã đến Chú Tấn và một chú nghĩa quân nữa hy sinh trong một cuộc đụng độ dữ dội với VC năm 1965. Xác chú được khiêng để trên bộ ván trong căn nhà nhỏ của chú . Khi tôi đi học về , tôi thấy người ta đang tắm rửa thay đồ rồi để một nải chuối lên bụng chú, ngọn đèn dầu leo lét được thắp trên đầu nằm có để một chén cơm và một cái trứng vịt . Đầu chú được băng bông trắng. Máu còn rĩ ra bên màng tang . Vợ con chú vật vã khóc than, đau đớn không thể nào kể xiết. Tôi đến mắm tay 2 đứa nhỏ. Thằng Dũng thỉnh thoảng hỏi tôi “Bộ Ba em chết rồi hả chị ?”. Tôi chỉ ừ, không biết trả lời làm sao !

Đến khi chôn chú Tấn, hàng loạt đạn đưa tiễn vang rền. Thím Tấn chết lên chết xuống, bộ đồ tang trắng bê bết bùn sình. Người ta phủ lên cái mã đất của chú Tấn một lá cờ Việt Nam Cộng Hoà thật dài . Bốn phía có cắm bốn lóng trúc có gạo và muối . Tôi phải dẩn con Lan và thằng Dũng về nhà. Nước mắt tôi tuôn rơi. Cuộc sống chúng tôi đang êm đềm hiền hoà , thì tại sao người ta phải tấn công thôn ấp, giết hết người nầy người nọ. Để làm gì ? Miền Nam độc lập tự chủ, có ai chiếm đóng miền Nam đâu, mà phải giải phóng chúng tôi. Cuộc đời dân miền Nam không hạnh phúc, sung sướng gấp chục lần dân miền Bắc hay sao ? Tại sao các người phải giết chú Tấn của chúng tôi để cho cuộc đời mẹ con thằng Dũng từ đó ảm đạm, sa sút hẳn đi. Thím Tấn khóc hoài không dứt ...

Năm sau, gia đình tôi dời đi chổ khác. Tôi ít được gặp lại Thím Tấn, thằng Dũng và con Lan. Năm năm sau, tôi mới được về thăm ấp cũ, tôi mừng rỡ gặp lại thím Tấn và 2 đứa con. Bây giờ ngày nào thím cũng phải ra chợ bán tương chao nuôi con. Thằng Dũng vẫn còn nhớ tôi nhưng con Lan thì không nhận ra tôi nửa.
Sau nầy tôi có dịp tiếp xúc với nhiều binh chủng oai hùng khác của quân lực VNCH, nhưng lòng tôi vẫn còn nhớ về các chú nghĩa quân hiền lành mà tôi đã biết năm nào . Hơn phân nửa các chú đã nằm xuống để bảo vệ làng xóm, quê hương tôi . Số còn lại có người gẫy chân , có người cụt tay, sống đời tàn phế. Việt Cộng đã chà đạp lên Hiệp Định Hoà Bình Paris mà họ vừa ký kết năm 1973, cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975, đưa cả nước xuống 10 tầng địa ngục. Thân tôi giờ xa xứ xa quê, đã hiểu được ý nghĩa sự hy sinh cao cả của các anh, các chú quân nhân quân lực miền Nam, thỉnh thoảng tôi nhớ lại các chú lính nghĩa quân tôi quen biết mà thấy lòng thương lắm . Cùng với bao nhiêu binh chủng khác của quân đội, các chú âm thầm lặng lẽ hy sinh, cho dân chúng trong ấp tôi được sống trong yên bình . Các chú đem xương máu ra bảo vệ nền tự do, dân chủ mới được thành hình trên miền Nam yêu dấu .

Các chú đã nằm xuống - bỏ lại con thơ, vợ dại - để ngăn cản bọn quỷ đỏ hung tàn trong công cuộc tiến chiếm miền Nam, áp đặt cả nước trong một chế độ độc tài, hung bạo, không lối thoát . Các chú đã đem sinh mạng, xương máu của mình, để ngăn cản bọn bán nước buôn dân đày đoạ cả dân tộc, và đưa đất nước Việt Nam đi ngược dòng tiến hoá cũa nhân loại . Các chú đã anh dũng hy sinh, ngăn cản bọn CSVN chiếm đoạt đất nước làm tài sản riêng tư cho đảng, rồi tự ý dâng hiến đất đai, hải đảo của tiền nhân cho quan thầy Trung Cộng .

Hởi cô bác, hởi anh chị ơi ! Nếu vị nào may mắn, có cuộc sống bình yên xin đừng quên các chú lính nghĩa quân đang sống đời tàn phế . Xin đừng quên các chú nghĩa quân đã lặng lẽ hy sinh để bảo vệ tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nạm Xin đừng quên vợ con họ , bị bỏ lại sau lưng với cuộc đời đau khổ.

Nguyễn Thanh Thuỷ.
(Bài nầy được viết dựa vào những sự kiện có thật. Vì sự an toàn của một số người còn kẹt lại, tác giả tạm thời không đề cập đến những địa danh và tên người cần thiết trong bài nầy)
tro ve dau trang

Wednesday, June 2, 2010

Bố Tôi
hướng dương

Ngày bố tôi sắp về hưu, lúc ấy ông gần sáu mươi lăm tuổi, tôi thấy ông có thái độ lạ lùng, không là con người ông vẫn là lúc trước. Ông đã thay đổi không những về tính nết mà cả về cách cư xử và hành động. Nói cách khác, ông đã trở thành một con người khác lạ trong gia đình. Ông càng ngày càng ít nói và cuối cùng gần như không còn nói một câu nào suốt ngày, chỉ trả lời vắn tắt “có” hay “ không” khi chúng tôi hỏi, và nhiều khi im lặng không trả lời khi câu hỏi bắt ông phải nói ra một câu dài. Đối với mẹ tôi, ông càng không nói, chỉ lầm lầm lì lì.

Ông vốn là một người nóng tính, hay cau có gắt gỏng, hơi một tí là la hét um sùm. Bây giờ ông chỉ suốt ngày yên lặng, không để ý tới ai, như thể ông chỉ còn sống cho mình ông. Có lẽ vì ông không còn giao tiếp với mẹ tôi nhiều nữa nên ít còn cọ sát, ít đụng chạm. Những vụ to tiếng thường xuyên đối với mẹ tôi đã mất hẳn, vì ông không còn nói gì với bà nữa, ông chỉ còn là một sự hiện diện trong nhà, có cũng như không.

Ông cũng đã cả đời tỏ ra là một người khó tính, luôn luôn đòi hỏi sự tuyệt mỹ, đòi hỏi cái tối đa, cái nhất, không hẳn là chỉ đối với mẹ tôi và chúng tôi mà ngay cả đối với chính ông nữa. Ông ít khi bằng lòng liền với những công việc chúng tôi làm, ông thường hay phê bình chỉ trích, đôi khi bắt chúng tôi sửa hay làm lại. Chúng tôi thấy ở nơi ông một con người khó hợp với, khó sống cùng vì thế!

Nhưng ông lại là một con ngưòi nhiều tình cảm, ông sống cả đời vì chúng tôi, ông thương chúng tôi hơn cả chính ông, ông làm cái gì cũng vì người khác, kể cả những người không ruột thịt máu mủ. Ông lo lắng từng tí cho chúng tôi, ngay cả khi chúng tôi đã trường thành và đã có gia đình riêng. Ngày ông có các cháu nội, ông dành bao nhiêu thì giờ rảnh chơi với chúng, đùa nghịch với chúng như một đứa bé con, ông cũng giỡn, cũng cười, cũng chơi như chúng, coi chúng như những đứa bạn nhỏ của mình. Ấy thế mà bỗng nhiên ông đả thay đổi hoàn toàn, ông không còn thân thiết với ai trong nhà nữa. Dường như ông chỉ còn sống cho bản thân ông, ông chỉ còn nghĩ đến ông, không còn ai xung quanh ông là quan trọng nữa. Ngay cả các cháu nội, ông cũng không còn bồng bế, nô đùa với chúng, ông đã quên chúng, ông không xa lánh nhưng không còn gần gũi như xưa.

Nhưng cái khác lạ rõ ràng nhất là sự đối xử của ông đối với mẹ tôi. Ngày xưa ông thương yêu mẹ tôi biết là chừng nào. Ông sống vì bà, ông cố gắng, hy sinh vì bà. Ông đã từng chăm sóc cho bà như chăm sóc cho một người tình, lúc nào cũng muốn có bà bên cạnh. Nhưng mối tình nóng hổi ấy đã phai nhạt với năm tháng, một phần bởi vì mẹ tôi không hiểu rằng có ông là một cái gì quí mà trời cho, bà luôn luôn coi việc có ông như là một sự đương nhiên, bà không gây dựng hay tìm cách nuôi dưỡng cho mối tình tiếp tục nẩy nở hay ít ra là không suy tàn. Vì thế mà dần dần giữa hai người không còn sự thắm thiết của thuở xưa nữa, không còn sự cảm thông, sự hiểu biết nhau, không còn mối tương quan thắm thiết giữa hai người bạn đời, trái lại chỉ còn sự cay đắng, sự chống đối, sự bất đồng, và có thể nói gần như là sự hận thù. Vì vậy mà mẹ tôi coi sự thể ông đã thôi không giao tiếp với bà nữa như là một điều may mắn, bà khỏi bận tâm, khỏi suy nghĩ, và nhất là khỏi phải đối phó với những khó khăn mà, bà nói do ông gây ra.

Sau ngày ông về hưu, ông lại còn lạ lụng hơn nữa. Ông cứ suốt ngày ngồi trong phòng đọc sách, viết văn, hay suy tư. Ông hay ngồi hàng giờ với một ly rượu và bao thuốc nghĩ ngợi, tôi không hiểu ông nghĩ gì, cái gì làm cho ông bận tâm khi mà ông đã về hưởng tuổi già, khi đáng lý ra ông phải được hưởng sự thanh thản của tâm hồn? Tôi không dám hỏi ông, mặc dầu những lần tôi về thăm nhà cùng đứa con ba tuổi, tôi không thấy ông vui, ông chỉ ra ôm đứa cháu, hôn nó một cái rồi lại đi vào trong phòng riêng của ông. Tôi có cảm tưởng ông sống trong một thế giới cô lập cũa riêng ông, ông không còn màng tới những gì xẩy ra bên ngoài căn phòng đó, ông đã bị lôi cuốn vào một thế giới của ảo tưởng, của tiềm năng, ông sống với những mơ ước mà ông đã không thực hiện được trong cuộc đời mình.

Thế rồi một hôm, khi không ai để ý đến ông, ông đã ra đi, ông đã biến mất để cho đến khi đứa cháu nội vào gọi ông ra ăn cơm chiều thì cả nhà mới hay ông không còn ở đó nữa, ông đã đi rồi. Tôi vào trong phòng ông lục lọi xem ông có mang thứ gì theo hay không, thì thấy ông chỉ đi người không, ông đã mặc bộ đồ khi ông còn đi làm. Trên bàn có tờ giấy nhỏ xíu, trên đó ông viết: "Tôi đi rồi tôi sẽ về, không có gì phải lo lắng cả. Đừng đi tìm tôi vô ích."

Và đúng như lời ông dặn dò, chúng tôi không đi tìm ông. Mẹ tôi chẳng tỏ vẻ lo lắng gì cả. Bà nói:
Để cho bố chúng mày đi chơi cho sướng cái thân. Ở với tao ông thấy khổ, tao cho ông ấy đi ở với gái trẻ, đi chán ông ấy sẽ về!

Cái sai lầm ở mẹ tôi là ở chỗ ấy. Bà nói cứ để cho bố tôi đi, nhưng rồi ở nhà ai lo công việc trong nhà? Mặc dù bố tôi có vẻ bất thường nhưng ông vẫn là người quyết định mọi việc, ông vẫn lo giải quyết những vấn đề khó khăn như vấn đề tiền bạc, vấn đề sửa sang nhà cửa, và nhất là khi phải đối phó với người ngoài. Nay ông đi rồi thì mẹ tôi đâu có biết phải làm những công việc ấy? Tôi sẽ phải đứng ra thế ông, nhưng nay tôi đã có gia đình riêng, tôi lo thân tôi chưa xong, nhiều khi còn phải hỏi ý kiến bố tôi thì làm sao bây giờ?

Vả lại có ông ở nhà thì mẹ tôi còn lo dọn dẹp nhà cửa, đi chợ đi búa về làm cơn cho ông ăn. Nay ông đi vắng mẹ tôi, vốn dĩ lười, cứ để nhà bừa bộn, không lau chùi nên nhà bếp nhà tắm bẩn như hủi. Trong phòng ngủ quần áo mặc rổi mẹ tôi chất đống, chẳng buốn treo lên mà cũng chẳng đem đi giặt. Phòng khách phòng ăn ôi đủ thứ la liệt, sách báo, kẹo bánh, đồ dùng xài xong vẫn vứt đó, chén trà, cốc nước uống xong không buồn dọn, có khi để đó vài ba ngày, một tuần. Đồ đi mua về vứt ngay cửa ra vào có khi cả mấy tuần không đem cất. Mỗi khi về nhà thăm mẹ tôi, hai vợ chồng tôi phải dọn dẹp cho bớt ghê mắt, riêng tôi chỉ sợ bố tôi về bất tử thì lại có chuyện.

Mẹ tôi hay cãi lại ông làm ông nổi giận đập phá đùng đùng. Bà có tật hay dựng đứng câu chuyện lên rồi đổ lên đầu bố tôi, làm cho bố tôi phát điên lên thì mới thôi. Hơn nữa, mẹ tôi là dân Hà Đông, bà có cách nói xéo, làm người nghe rất khó chịu. Bố tôi ghét cái tính xấu đó của bà nhưng chẳng làm được gì. Bố tôi nói càng về già mẹ tôi càng có nhiều hành đông làm cho bố tôi bực bội. Tối đến bà thức có khi đền hai giờ sáng chỉ để ngồi xem báo hay xem truyền hình. Bố tôi dục đi ngủ bà cứ lờ đi. Sáng ra bà không dậy nổi, bố tôi chuẩn bị bữa ăn sáng xong, bà cũng chưa chịu dạy, đến khi bố tôi ăn xong bà mới ra ngồi ăn. Cơm tối cũng vậy, mẹ tôi đi làm tan sở không về liền, bố tôi chờ không được dành dọn cơm lên ngồi ăn, ăn nửa chừng thì bà về. Bố tôi ăn xong đi nơi khác, mẹ tôi ngồi ăn, cả tiếng đồng hồ sau vẫn chưa xong, bà cứ ngồi một mình chậm rãi ăn, lúc nào muốn thôi thì thôi.

Nay bố tôi đi rồi thì mẹ tôi chẳng còn đối tượng để mà chống đối nữa, bà dành toàn thì giờ đọc báo hay coi truyền hình. Bà có thể ngồi đọc báo hoặc coi truyền hình hai ba tiếng đồng hồ, quên ăn quên ngủ. Tin tức gì bà cụng thuộc nằm lòng. Bà cứ kể đi kể lại những gì bà học được, nhiều khi người nghe phải nhắc là bà đã nói hai ba lần rồi thì bà mới thôi kể. Bà cũng có thể ôm điện thoại nói chuyện với bạn bè hết giờ này sang giờ khác. Còn nói đến việc đi mua bán thì có khi mẹ tôi đi không còn biết giờ về. Bà đi đến đâu cũng xem hết thứ này đến thứ kia nhưng không mua, bà chỉ thích xem để mà xem, để mà biết. Cái gì bán ở đâu bà đều biết, nói đến cái gì bà cũng hay.

Có một điều là mẹ tôi hay nói nhưng không bao giờ làm. Bà muốn cái gì thì cứ nói lên cho bố tôi nghe, rồi nếu ông không làm thì bà than, bà trách. Bà nói bảo làm không làm để bây giờ như thế này, như thế kia. Mà khi bà không bằng lòng một chuyện gì thì bà cứ nói tới nói lui, có khi cả hai ba năm sau bà vẫn còn lôi chuyện cũ ra mà nói. Bố tôi đến khổ vì bà, nhưng ông cho đó là vì bà già, bà thay đổi tính nết, bà khó chịu cũng như tất cả những người đàn bà khác khi về già. Khi bố tôi góp ý với bà thì bà nói với bố tôi:
Không vừa ý thì đi tìm gái mười tám cho nó hầu hạ, để cho tôi yên thân.
Tôi không hiểu trong đầu bà nghĩ gì mà lại nói thế, nhưng tôi biết bà cũng không sung sướng gì. Câu nói đó thể hiện một sự bất mản cùng cực. Có một điều tôi thấy lạ là thay vì đạp đổ, tại sao bà không chịu có một thái độ xây dựng? Tâm lý người đàn bà vào cái tuổi trên năm mươi hẳn là rất phức tạp, tôi không hiểu được những biến chuyển sinh tâm lý xẩy ra nơi họ. Tôi nghe nói là chính những người đàn bà đó cũng không hay biết rằng họ đã thay đổi, họ đã khác xưa, và vì thế họ khăng cho rằng họ vẫn thế, lỗi là do những người khác chứ không phải tại họ.

Tôi nghĩ bố tôi đã chán cái cảnh cơm không ngọt canh không bùi, ông đã không chịu nổi cái uơng ngạnh của mẹ tôi, ông muốn sống những ngày còn lại trong yên bình, và vì thế ông đã rút lui vào cái thế giới của riêng ông, vào giữa bốn bức tường của căn phòng làm việc mà xưa kia ông không thích vào. Nhưng như thế cũng không mang lại cho ông niềm sung sướng, vì ai sướng khi chỉ sống trong môi trường chết, môi trường im lìm, không tiếng nói, tiếng cười? Ai có thể ngày đêm chìm đắm trong sự u mê, sự day dứt của nội tâm? Tôi biết ông đang bị giằng co giửa bổn phận và hạnh phúc cá nhân. Ông đã không chịu ly dị vì còn con cái, còn các cháu của ông mà ông thương yêu vô ngần. Mẹ tôi đã bao lần nói thẳng vào mặt ông:
Sao ông không ly dị tôi cái quách đi cho rồi? Để mà còn đi tìm gái tơ mà hưởng đời chứ? Ông còn tiếc cái gì nữa?

Tôi không biết bà có thực sự muốn thế không, nhưng tôi thấy bố tôi chỉ cắn răng lại để khỏi nói câu gì, vì tôi biết nếu đổ thêm dầu vào lửa tất nó sẽ bùng lên và không còn cứu chữa được nữa.

Ngày bố tôi ra đi, chúng tôi tưởng ông đi đâu chơi một hai ngày. Nhưng cả tháng trôi qua chúng tôi không thấy về, tôi cũng hơi lo lắng. Tôi gọi điện thoại đến các bác, các chú, bạn bè của ông thì không ai biết ông đi đâu, ông không hề thổ lộ kế hoạch của ông cho ai hết. Họ cũng ngạc nhiên về hạnh động này và không ngờ bố tôi lại có thể làm cái chuyện bất thường như thế. Nhưng tôi thì không ngạc nhiên chút nào. Ngày ông còn trẻ ông đã làm nhiều chuyện ngông cuồng. Đang đi làm yên bình ở sở này, ông vì bất bình một chuyện gì, ông xin nghỉ và sang làm một sở khác. Trong cuộc đời ông, ông đã thay đổi việc làm như chong chóng, ông đã không làm một công việc gì quá năm năm. Ông tuyên bố làm lâu một nơi chán, ông thấy cần thiết phải thay đổi. May mà ông là người có chí, ông luôn luôn trau dồi kiến thức, và ông có khả năng trí tuệ phi thường, không có một công việc gì mà ông không làm cho bằng được. Cuộc đời ông đã có những lúc khổ cùng cực, ông đã phải làm những công việc nặng nhọc hay thật tầm thường để tạm sống. Ông có tinh thần đấu tranh phi thường, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào ông cũng cố vươn lên để thoát khỏi sự cơ cực. Ông rất tự hào về những thành quả ông gặt hái được trong cuộc đời. Tất nhiên tôi rất hãnh diện về con người phấn đấu của ông, tôi rất muốn giống ông và ông đã là gương sáng dẫn đường cho tôi đi. Chính vì tôi nhìn vào ông, noi gương ông, mà cũng đã thành công nhanh chóng và tiến lên trong sự nghiệp của mình.

Và như thế bố tôi đi đâu, không ai biết, cho đến một hôm chúng tôi nhận được một tấm thiệp ông gởi về đề tên Bé Mai, đứa con gái đầu lòng của em tôi, sanh ra khi ông không có nhà. Tấm thiệp mang những giòng chữ nắn nót của ông như sau :
Cháu Mai thương yêu của Ông Nội,
Ông rất tiếc khi cháu ra đời ông không có mặt để bồng cháu ngay từ khi mới lọt lòng mẹ. Vì hoàn cảnh đặc biệt ông không thể về ngay thăm cháu, nhưng khi nào ông về thì ông hứa sẽ không quên có quà cho Bé Mai của ông.
Ông hôn cháu và yêu cháu vô cùng.
Nhìn con dấu bưu điện chúng tôi ngạc nhiên thấy rằng ông đã gởi nó từ một tiểu bang xa xôi cách chúng tôi cả mấy ngàn dậm. Thì ra ông đã quyết định ra đi thật xa, đi như thể đi trốn cái nơi đã làm cho ông buồn khổ, đi để mà quên lãng, đi để không còn gì gắn bó với một dĩ vãng đau thương.
Thành phố ông đang ở cũng là một thành phố lớn, nơi đó cũng có nhiều ngưới Việt sinh sống. Tôi chưa bao giờ đặt chân đến nơi đấy nhưng tôi nghe nói nơi đó sinh hoạt của cộng đồng cũng cao, cũng có nhiều người làm ăn buôn bán nhộn nhip, và nhiều khu cũng sầm uất không khác gì nơi tôi đang ở.

Trong khi chúng tôi rất xúc động khi nhận thiệp ông gởi về thì mẹ tôi vẫn dửng dưng như không. Bà cũng chẳng buồn cầm đến lá thơ mà cũng chẳng hỏi xem bố tôi đã viết những gì trong ấy. Tôi lấy làm lạ sao mà mẹ tôi lại có thể dứt tình với bố tôi như vậy. Tôi muốn tìm hiểu xem bố tôi đi xa như thế để sống với ai, không phải vì tôi tò mò hay muốn tìm cách kết tội ông, mà là vì tôi thương ông. Tôi thương bố tôi vì tôi biết chẳng đặng đừng bố tôi mới phải ra đi như thế, tôi biết rằng xa các con cháu ông nhớ lắm và cũng khổ sở không ít. Và tôi định tâm một ngày nào gần đây tôi sẽ xin nghỉ một tuần lễ để đi tìm ông.

Tôi chưa kịp đi thì bố tôi về. Ông về vào lúc đêm tối khi mẹ tôi đã đi ngủ, ông lẳng lặng mở cửa vào nhà, rồi vào phòng ông nghỉ. Sáng hôm sau khi mà mẹ tôi còn ngủ thì ông đã thức dậy pha trà uống và ngồi đọc báo ở ngoài phòng khách. Nghe tiếng động mẹ tôi tỉnh dậy và thấy ông, bà rất ngạc nhiên. Ông đi như vậy là gần ba tháng trời, ra đi ông không nói cho ai hay mà về cũng chẳng báo trước. Mẹ tôi nói:
Tôi tưởng ông đi luôn rồi chứ! Sao lại còn về? Tôi tưởng ông đi cho sướng cái thân thì còn về nhà làm gì cho khổ thêm cả tôi nữa?
Bố tôi cứ im lặng chẳng nói câu gì. Mẹ tôi nói thêm:
Nó bòn hết của rồi nó đuổi ông đi chứ gì. Bây giờ lại về lấy thêm tiền mang đi nuôi nó chứ gì?
Cáu quá bố tôi nói lại:
Bà xem tôi có lấy đồng xu nào mang đi không nào? Bà đừng có ăn nói hồ đồ. Đừng có làm cho tôi điên tiết lên. Khôn hồn thì để cho tôi yên!
Mẹ tôi vừa đi xuống bếp vừa nói:
Ông không có tiền thì nó ăn bả gì mà nó nuôi ông?
Thế là bố tôi đập bàn một cái rầm, rồi nói:
Đã bảo câm cha nó cái miệng lại mà không chịu câm.

Bố tôi đi vào phòng của ông đóng xầm cửa lại. Thế là ông lại trở về với cái thế giới của ông, trong cái thế giới đó không có người vợ oái oăm, khó chịu mà ông nay ghét thậm tệ.

Chiếu thứ bẩy nghe tin bố tôi về, hai anh em tôi mừng rỡ, định tổ chức đi ăn cơm chiều cho cả gia đình. Em tôi bế bé Mai về ra mắt ông nội, ông mừng hết sức, ông ẵm bé, ông hôn, ông không chịu rời đứa cháu cưng của ông. Ông về ông đã mua cho cháu ông một tấm lắc đeo tay bằng vàng tây, ông lấy ra đeo cho cháu rồi bắt chụp cho ông cả chục tấm ảnh ông bồng bé Mai của ông. Thấy ông vui sướng, chúng tôi mừng quá chừng, mẹ tôi tức tối nói:
Sao ông không đẻ một bé Mai của ông mà ôm mà thương yêu? Lấy một con vợ mười tám tuổi thì nó đẻ cho chứ có khó gì?

Thế là bố tôi giận, không đi ăn cơm chiều nữa, ông nói ông “không đi ăn với con mẹ khó chịu đó”. Ông bảo mẹ tôi là việt cộng, chuyên môn phá hoại, cứ đến lúc cả gia đình vui vẻ thì bà phải làm một cái gì để phá, để chọc giận bố tôi, làm cả nhà hết vui vẻ. Mẹ tôi chẳng cần có bố tôi đi, bà nói tỉnh bơ:
Bố mày dỗi, để cho ông ấy ở nhà. Mình đi mình cứ đi!

Chúng tôi đành đi mua đố ăn về nhà, bố tôi không còn hứng, ông ăn hai ba miếng rồi bồng bé Mai vào trong phòng ngồi ôm cháu. Mẹ tôi ngồi ăn vui vẻ như không có chuyện gì, trong khi chúng tôi thì rầu thối ruột.

Những ngày ông ở nhà, chiều nào ông cũng đến thăm các cháu nội, nhất là cháu bé gái bé bỏng của ông. Nhưng vì ở nhà không được vui, hai tuần sau ông lại ra đi, ông đi mà không nói trước với ai, tự dưng ông biến mất, không để lại một vết tích gì.

Thế rồi mỗi tháng ông biên thơ về cho các cháu, ông hỏi thăm, nói chuyện này nọ, và thơ nào ông cũng nói ông nhớ chúng nó, nhất là bé Mai của ông. Ông muốn chúng tôi gởi hình các cháu cho ông và ông cho một hộp thơ để chúng tôi gởi tới đó.

Sáu tháng trôi qua, không thấy ông về thăm nhà, chúng tôi sốt ruột, tôi bèn xin nghỉ một tuần đi tìm ông. Tôi nghĩ tôi biết thành phố nơi ông ở, tôi chỉ cần đi hỏi thăm thì sẽ tìm được ra ông, nhưng tôi đã lầm. Năm ngày trời tôi đi khắp các khu phố có người Việt làm ăn buôn bán hỏi thăm, không ai biết và không ai nhận ra người trong tấm hình của bố tôi mà tôi đưa cho xem. Ban ngày tôi đi mỏi cả chân, chiều tối về khách sạn, tôi điên thoại cho những người quen biết ông hiện đang ở vùng này để xem bố tôi có liên lạc với ai không, thì cũng không ai biết tin gì vì ông không hề tiếp xúc với họ. Thật là một chuyện lạ lùng, như thể ông muốn giấu hết tất cả mọi người về sự hiện diện của ông ở nơi đây.

Đến tối hôm thứ sáu, khi tôi đã thất vọng tưởng phải bay về tay không, thì bố tôi gọi điện thoại đến khách sạn hỏi tôi. Ông nói ông được biết tôi đi tìm ông nên ông muốn gập tôi nói chuyện. Ông hẹn sáng thứ bẩy hai bố con đi ăn sáng gặp nhau, vì chiều tôi đã lên máy bay trở về. Ông cho nơi hẹn và giờ hẹn rồi thôi không nói gì hơn nữa.

Đêm hôm ấy tôi trằn trọc không ngủ được. Tôi không hiểu tại sao ông biết tôi đến đây đi tìm ông mà ông gọi? Tại sao ông lại chọn nơi này mà đến ở? Ông sống với ai nơi đây?Thật là những điều bí hiểm.

Sáng hôm sau tôi đến nơi hẹn sớm cả nửa tiếng đồng hồ vì tôi muốn xem ông tới bằng cách nào và với ai. Đúng giờ hẹn tôi thấy một chiếc xe hơi loại sang đậu lại cách nơi đây vài trăm thước và tôi thấy ông bước xuống. Ông mặc một bộ đồ mà tôi chưa thấy bao giờ, trông rất lịch sự, ông bước rất khoan thai, vẻ mặt tươi tỉnh, không ủ rũ như khi ở nhà. Cái gì làm ông thay đổi như vậy, tôi tự hỏi. Tôi thấy ông đẩy cánh cửa tiệm ăn, nhìn một vòng, thấy tôi, ông cười và tiến tới. Ông nói:
Làm gì mà con phải đi tìm bố vậy? Thư thả rồi bố về chứ gì?

Con muốn sang đây thăm bố và xem bố sống làm sao. Ở nhà chúng con hơi lo…
Sao phải lo? Bố sống ở đâu chẳng được? Thôi con đã đến đây thì để bố kể hết chuyện cho con nghe. Con lớn rồi chẳng có gì mà phải giấu con nữa.

Người hầu bàn đến, chúng tôi gọi phở và cà phê đen. Bố tôi hỏi chuyện ở nhà ra sao, tôi nói mọi chuyện vẫn bình thường, các cháu nhớ ông lắm, chúng cứ hỏi ông đâu. Nghe nói vậy vẻ mặt bố tôi hơi thay đổi, phảng phất một nỗi buồn, tôi biết ông cũng nhớ các cháu ông lắm.

Phở mang ra, chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện. Tôi hỏi:
Bố ở đây với ai? Ăn uống làm sao?
Ông ngừng ăn, tay vẫn còn cấm hai chiếc đũa, nhìn tôi như muốn xem tôi có ẩn ý gì không. Ông ăn thêm vài ba gắp rồi đẩy bát phở sang một bên, cho đường vào cà phê uống. Ông nói:
Bố ở với một người bạn quen từ lâu lắm rồi, con không biết bà ấy. Bố quen từ trước khi lấy mẹ con.
Bố tìm bà ấy hả bố?
Không, tình cờ bố gập lại. Đã gần bốn mươi năm trôi qua. Bố không nhận ra bà ta nhưng bà nhận ra bố. Thật là một chuyện lạ lùng!
Bố gập hồi nào?
Cách đây năm năm, ở Paris, tại nhà một người bạn chung của hai người.
Sau đó bố vẫn tiếp tục liên lạc?

Thỉnh thoảng, bố nói chuyện điện thoại thôi. Lúc sau này bố buồn thì tâm sự nhiều hơn. Bà ấy góa chồng đã hơn mười năm nay rồi, có một đứa con gái nay cũng bằng tuổi con. Bà làm ăn buốn bán nên khá gỉa, nhà cửa rộng mà không có ai ở, chỉ có hai mẹ con nên mời bố sang chơi.
Thế rồi bố ở luôn ?

Không bố đâu có tính ở luôn? Ở nhà lúc nào tinh thần cũng căng thẳng, làm sao bố chịu mãi cho được. Bố bị suy nhược thần kinh vì thế. Ở đây thoải mái, bố thấy dễ thở, bồ bớt u sầu, không còn buồn bực. Bố ở tạm một thời gian cho khỏe lại…
Con thấy bố có khá hơn ở nhà, bố bình thường hơn trước, con mừng lắm. Nhưng ở như thế mãi sao tiện?

Người ta mời bố, chứ bố có xin đâu? Nhà cửa rộng thênh thang để không, không ai chăm nom, bố làm quản gia, người ta còn mừng. Nói thế chứ bà ta thương bố, thấy bố buồn khổ, muốn giúp. Bố không thấy có gì phiền hà…
Cơm nước thì sao hả bố?
Ở chung nhà thì ăn chung chứ có gì đâu? Bố ăn đâu có bao nhiêu?
Bố có góp tiền hàng tháng không?
Bà ấy đâu chịu lấy? Bà nói, bố đến ở là vui cửa vui nhà, bố không phải lo lắng gì cả. Tiền mà làm gì hả con?
Thế còn tiền máy bay đi về?
Con Thủy nó mua cho bố. Quần áo bố mặc cũng vậy, nó thương bố lắm! Mỗi lần bố về nhà, cả hai mẹ con cứ thấp thỏm, chỉ sợ bố không qua nữa!
Vì vậy mà lâu quá bố không về nhà?
Có lẽ vậy. Không có vé máy bay thì làm sao về? Mà về đến nhà là lại có chuyện, bố không muốn về nữa! Mẹ con đâu còn thương bố nữa?
Bà ấy thương bố nhiều lắm phải không?
Không biết, nhưng ở đây không bao giờ có một vấn đề gì để buốn phiền!
Bố thích ở đây hơn?
Không hẳn là thế! Hoàn cảnh bó buộc. Bố đâu còn cách lưạ chọn nào khác? Xa con và các cháu, bố nhớ lắm chứ!

Con biết! Thôi con nghĩ thế này cũng được. Bố cần có cuộc sống riêng của bố, con không dám nói gì.
Con về cứ coi như không tìm ra bố. Chớ có nói gì với ai. Cái này là bí mật giữa hai bố con mình.

Thưa bố vâng!
Chưa bao giờ bố tôi lại tâm sự với tôi như thế! Tôi nghĩ ông cảm thấy thoải mái hơn sau khi cho tôi biết những gì ẩn náu trong lòng ông từ nhiều năm nay. Sau khi ông đã chia sẻ nỗi lòng của ông với tôi, ông không còn phải chịu cái gánh nặng ấy một mình. Tôi thấy hình như ông thở ra khoan khoái, và ông ra về vui vẻ. Ông ôm vai tôi, chúng tôi ra cửa, ông leo lên chiếc xe vẫn chờ từ nãy giờ nơi đó, tôi về khách sạn đệ chuẩn bị ra phi trường.

Những lần sau ông về, ông ở nhà hai vợ chồng tôi, ông vui chơi với các cháu nội, nhưng về được một tuần, ông lại sốt ruột đòi ra đi. Tôi hiểu ông nên không dám nói gì. Chỉ có các cháu nhỏ, chúng cứ nhao nhao “Ông nội đừng đi! Ông nội đừng đi!” làm ông chảy nước mắt mỗi khi ra đi.

Tôi cũng một năm hai lần lấy cớ đi họp, sang thăm ông vài ba ngày. Chúng tôi chỉ gập nhau ở nơi công cộng, ông không bao giờ cho tôi biết nơi ông ở, càng không cho tôi biết ngươì đàn bà bí mật mà ông ở nhờ.

Cứ như thế được mười năm trời. Rồi một hôm ông về, ông ốm nặng đòi tôi đưa vào nhà thương. Mới vào hôm trước hôm sau thì ông qua đời. Những lần tôi vào với ông vào những giờ chót ông sắp ra đi, tôi thấy hai người đàn bà, một người lớn tuổi như mẹ tôi, ăn mặc sang trọng, ngồi nơi chiếc của sổ cách phòng bố tôi nằm chừng mươi thước. Trông họ nghiêm trang và có vẻ buồn rầu lắm. Tôi biết ngay đó là Thủy và mẹ chị, người đã nuôi dưỡng chăm sóc bố tôi hơn mười năm qua.

Những ngày xác bố tôi quàn ở chùa, tôi thấy suốt ngày bóng dáng hai người đàn bà ấy lảng vảng ở sân chùa, người mẹ cầm chiếc khăn tay lau mắt. Tôi lấy làm sót sa cho bà, vì bố tôi chết, mẹ tôi không buồn, không khóc mà bà thì đau đớn sụt sùi. Và bà lại không được khóc công khai! Thật là một sự bất công, nhưng làm sao được? Định mệnh đã an bài như thế! Ngày xưa bố tôi đả bỏ người con gái ấy để lấy mẹ tôi. Thế mà một đời, người ấy vẫn thương vẫn muốn làm sao cho bố tôi bớt khổ. Công lao ấy tôi ghi trong lòng mãi mãi. e

Tuesday, June 1, 2010

Xin phổ biến rộng rãi để làm phước:


Tin thêm về chuyện bốc mộ các sĩ quan QLVNCH ở các trại cải tạo Việt Nam
(04.22.2010, 01:37 pm GMT-7 )


Một số khu vực mộ của các người tù cải tạo sắp bị chính quyền địa phương ở Việt Nam giải tỏa Thông báo gần đây của Tổng Hội H.O. cho biết, sau ba năm làm việc, hội đã tìm được 313 ngôi mộ của cựu tù cải tạo tại Việt Nam. Trong số này, 59 gia đình đã được, trực tiếp hoặc gián tiếp, hướng dẫn bốc mộ....
Phần lớn còn lại vẫn chưa liên lạc được thân nhân, hoặc mộ không có bia để nhận diện.
Bên cạnh đó, thông báo của Tổng Hội cũng cho biết, một số khu vực “sắp bị giải tỏa,” mộ tại các khu vực này cần được bốc đi, và Tổng Hội sẵn sàng giúp thân nhân biết thủ tục. Chẳng hạn, khu mộ Làng Ðá, thị trấn Thác Bà còn 22 ngôi mộ, sắp bị giải tỏa. Trong số 22 ngôi mộ này, chỉ còn một số mộ có bia.
Tổng Hội cũng nói rằng “đang hoàn tất thủ tục để được phép của chính phủ Việt Nam đến các trại tại Vĩnh Phú - Tân Lập Nghệ Tĩnh - Nam Hà - Trại Thanh Chương” tìm mộ. Ðồng hương có thân nhân qua đời tại các địa điểm vừa nêu, có thể liên lạc Tổng Hội H.O. để được giúp đỡ.
Riêng những gia đình đã gởi thư yêu cầu Tổng Hội H.O. giúp tìm mộ người thân tại Làng Ðá, nay cần liên lạc lại để được hướng dẫn thủ tục và giúp đỡ thử DNA, nếu cần. Trong thông báo, Tổng Hội cũng viết, rằng những ai “bốc lầm hài cốt ngươi khác, xin hoàn trả lại cho thân nhân người quá cố, đồng thời, sẽ nhận lại đúng hài cốt người thân của mình.”
Trong tài liệu được công bố, Tổng Hội đã tổng kết danh sách mộ tù cải tạo được tìm thấy từ ngày 1 Tháng Mười, 2007 đến 1 Tháng Mười, 2008.
Cụ thể, khu vực xã Tân Thịnh, Hoàng Liên Sơn có 28 mộ; khu vực đồi Cây Khế, xã Việt Cường, huyện Trấn Yên, Hoàng Liên Sơn có 57 mộ; khu vực Mường Côi, huyện Phù Yên, Sơn La có 13 mộ; Bản Bò, huyện Văn Bàn, Hoàng Liên Sơn có 15 mộ; khe nước Village, huyện Văn Chấn, Hoàng Liên Sơn có 6 mộ; Bản Nã, Hoàng Liên Sơn có 2 mộ; khe Cốc, Hoàng Liên Sơn có 2 mộ; xã Kiên Thành, Hoàng Liên Sơn có 15 mộ; đồi con trăn có 1 mộ; trại cải tạo Nam Hà, Hà Nam Ninh có 120 mộ; làng Ðá, xã Cẩm Nhân, thị trấn Thác Bà, Yên Bái có 31 mộ; xã Việt Hồng, Hoàng Liên Sơn có 1 mộ; trại Bù Gia Mập, Phước Long có 22 mộ.
Riêng khu vực Làng Ðá, xã Cẩm Nhân, Thác Bà, Yên Bái, thông báo của Tổng Hội cho biết, “chính quyền địa phương đã có kế hoạch phóng một con đường ngang qua khu mộ. Cọc tim đường đá cắm ngay giữa khu mộ. Dự trù, khu mộ sẽ bị dời đi vào năm 2010.”
Thông báo kể thêm, rằng “Ngày 9 Tháng Chín, 2009, phái đoàn của Tổng Hội H.O do ông Nguyễn Ðạc Thành, Chủ Tịch, cùng Luật Sư Cố Vấn Wesley Coddou được đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Matthew Palmer (Duputy Director Office of Mainland Southeast Asia) và ông Marc Forino (Vietnam Deask) tiếp. Ông Chủ Tịch Tổng Hội đưa đề nghị, xin chính phủ Hoa Kỳ chánh thức lãnh trách nhiệm, thảo luận với chánh quyền Việt Nam, giúp người Mỹ gốc Việt tìm hài cốt thân nhân đã chết trong trại tù cải tạo...”
“Buổi chiều cùng ngày, Chủ Tịch Tổng Hội H.O được Thượng Nghị Sĩ Jim Webb tiếp và thảo luận trong vòng 25 phút về Chương Trình Tìm Hài Cốt Tù Cải Tạo. Bộ Ngoại Giao và Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, yêu cầu Tổng Hội H.O gởi cho bản đề xuất Kế Hoạch va Nhu Cầu cho Chương Trình Tìm Mộ. Ngày 15 Tháng Mười Hai, Tổng Hội H.O đã văn bản này lên Bộ Ngoại Giao và văn phòng Thượng Nghị Sĩ Jim Webb.”
“Do nhu cầu của Bộ Ngoại Giao, ngày hôm sau, phái đoàn Tổng Hội đã đến Tòa Ðại Sứ Việt Nam để tham khảo; được tiếp và nhanh chóng cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết. Những thông tin nầy, đã được Tổng Hội gởi đến Bộ Ngoại Giao cùng ngày.”
Tòa Ðại Sứ Việt Nam, vẫn theo thông báo của Tổng Hội, “chính thức xác nhận, hơn hai năm trước, Tổng Hội H.O. đã được Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Phú Bình cho phép đại diện thân nhân đi tìm một tù cải tạo.” Và việc này, đến nay “vẫn giữ nguyên như trước, không thay đổi.”

Danh sách mộ tù cải tạo đã tìm được từ ngày 1 Tháng Mười, năm 2007 đến 1 Tháng Mười, 2008
I - Dõng Hóc - Xã Tân Thịnh - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 28 Mộ
1. Nguyễn Văn An 15. Nguyễn Văn Trọng
2. Tạ Văn Ân 16. Lê Văn Ngôn (*)
3. Phạm Văn (Công) Bằng 17. Trần Xuân Phú (*)
4. Nguyễn Văn Bia 18. Lê Ðức Thắng
5. Lê Văn Chinh 19. Nguyễn Ng. Thanh
6. Ðỗ công Huệ 20. Dương Văn Tư
7. Trần Ðại Vĩnh 21. Ðặng Hồng Sơn (*)
8. Ngô Văn Nhật (Nhựt) 22. Lê Kỳ Sơn
9. Phù Văn Vũ (*) 23. Bùi Quang Kính (or Tính)
10. Trần Văn Sách 24. Hoàng Thế Tựu
11. Nguyễn Thanh Quang 25. Trần Văn Hiếu
12. Vũ Văn Tình 26. Nguyễn Văn Tuyết
13. Nguyễn Văn Hom 27. Trần Liệu
14. Trần Văn Quang 28. Nguyễn Văn Minh (*)

II - Ðồi Cây Khế - Xã Việt Cường - Huyện Trấn Yên - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 57 Mộ
1. Lương Ðình Bảy
2. Ðỗ Văn Ưng 30. Trần Văn Cung
3. Trần Hữu Công (*) 31. Huỳnh Hữu Ba (Ban)
4. Hồ Nghạch 32. Bùi Văn Phước
5. Y Nam 33. Phạm Phước Hồng (*)
6. Phạm Văn Ðoàn 34. Nguyễn Văn Bảy
7. Trần Văn Thạch 35. Nguyễn Văn Nô (*)
8. Nguyễn Thanh Vân 36. Lý Văn Phinh
9. Nguyễn Quang Tôn 37. Phạm Phú Mạnh
10. Lại Thế Cường 38. Nguyễn Thanh Chương
11. Nguyễn Phước Khiêm (Kiêm) 39. Lưu Thinh Văn
12. Nguyễn Tấn Công 40. Dương Tấn Hưng
13. Võ Tín 41. Nguyễn Duy Tăng (1)
14. Nguyễn Bá Thìn 42. Ngô Thiện Thắng
15. Lê Văn Chuyên (Tuyên) 43. Lê Minh Luân (*)
16. Nguyễn Hữu Chí 44. Dương Phúc Sáng
17. Ðặng Phương Chi 45. Ðỗ Xuân Sinh
18. Vương Ðăng Ðỡm (Don) 46. Trần Tuấn Trung (3)
19. Phạm Văn Chí 47. Lê Văn Ðông
20. Lương Sinh Ðiền 48. Nguyễn Năng Sính
21. Lê Hữu Ðức (Dực) 49. Nguyễn Chí Hòa
22. Cao Triệu Ðạt 50. Nguyễn Văn Vân
23. Dương Hữu Chí 51. Khẩu Phụ Mạng
24. Nguyễn Văn Sanh 52. Dương Tấn Mông
25. Trần Duy Ðắc 53. Lê Văn Ðông
26. Nguyễn Văn Nghĩa (*) 54. Trương Văn Vinh
27. Nguyễn Văn Hai 55. Nguyễn Văn Vân
28. Nguyễn Văn Linh (Sinh) 56. Lê Văn Luận
29. Dương Văn Sáu (*) 57. Nguyễn Văn Năng

III - Mường Côi - Huyện Phù Yên - Tỉnh Sơn La: 13 Mộ
1. Huỳnh Tự Trọng và 12 ngôi mộ không có mộ bia.
IV- Bản Bò, Huyện Văn Bàn, Hoàng Tỉnh Liên Sơn: 15 Mộ:
1. Phạm Văn Nghym (*)
2. Ông Tấn Ngọc (*)
3. Nguyễn Hữu Nghiệp
4. Ngô Huỳnh Cảnh (3)
*11 ngôi mộ không còn mộ bia
Vố Làng Khe Nước - Huyện Văn Chấn -Hoàng Liên Sơn: 6 Mộ
1. Tôn Thất Hiệp
2. Nguyễn Văn Vàng
3. Huỳnh Nguyên
4. Phan Ngọc Ðại (*)
5. Ngôi mộ còn chữ Thủ Dầu Một.
6. Ngôi mộ còn chữ Thừa Thiên.
* Hai ngôi mộ còn bia nhưng mất hết tên, còn địa chỉ: Thủ Dầu Một và Thừa Thiên.
VI- Bản Nã - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 2 Mộ
1. Nguyễn Trung Khiêm
2. Nguyễn Hữu Vui
VII- Khe Cốc - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 2 Mộ

1.- Phạm Minh Xuân
2.- Một mộ không bia
IX- Xã Kiên Thành - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 15 Mộ
1. Dương Văn Nữ (*) 9. Nguyễn Quang Thái (*)
2. Trần Thanh Ðức (*) 10. Nguyễn Văn Ðông
3. Trần Sĩ 11. Phan Huỳnh Luông (*)
4. Nguyễn (or Trương) Quang Ân 12. Một người tên Xuân, bia mất họ
5. Ðào Văn Sinh 13. Nguyễn Ngọc Cang
6. Nguyễn Văn Sang 14. Phạm Gia Lai
7. Nguyễn Văn Mân 15. Một người họ Võ, bia mất tên
8. Nguyễn Văn Ðồng
X- Ðồi Con Trăn: 01 Mộ
1. Lê Bá Tường
XI- Trại Cải Tạo Nam Hà - Tỉnh Hà Nam Ninh: 120 Mộ
Dãy I: 21 Mộ
1. Hà Văn Chung 9. Hoàng Văn Khuê
2. Nguyễn Văn Chi 10. Nguyễn Ðức Ðịnh
3. Lục Văn Chung 11. Phan Văn Cảnh
4. Lương Ðình Thơm 12. Bùi Văn Vụ
5. Mộ 13 không tên 13. Nguyễn Văn Quý
6. Nguyễn Văn Trị 14. Hoàng Văn Quang
7. Giáp Văn Hùng 15. Nguyễn thanh Phong
8. Ðỗ Văn Thông 16. Nguyễn Văn Dũng
17. Trần Văn Hiếu
Mộ số 18, 19, 20, 21 không có tên, họ

Dãy II: 14 Mộ
1. Ðỗ Ðình Thế 8. Mộ bia số 25 không có tên
2. Nguyễn Lê Tính 9. Mộ bia số 26 không có tên
3. Võ Thanh Tâm 10. Mộ bia số 27 không có tên
4. Mộ bia số 21 không có tên 11. Mộ bia số 28 không có tên
5. Mộ số bia 22 không có tên 12. Mộ bia số 29 không có tên
6. Mộ bia số 23 không có tên 13. Mộ bia số 30 không có tên
7. Mộ bia số 24 không có tên 14. Hậu Văn Nghĩa

Dãy III: 20 Mộ
1. Nguyễn Văn Lưu 12. Lang Văn Chữ
2. Nguyễn Văn Nông 13. Mộ bia số 45 không có tên
3. Mộ bia số 35 không có tên 14. Mộ bia số 46 không có tên
4. Mộ bia số 36 không có tên 15. Mộ bia số 47 không có tên
5. Mộ bia số 37 không có tên 16. Mộ bia số 48 không có tên
6. Mộ bia số 38 không có tên 17. Cao Kim Chẩn (*)
7. Mộ bia số 39 không có tên 18. Mộ bia số 50 không có tên
8. Mộ bia số 40 không có tên 19. Mộ bia số 51 không có tên
9. Mộ bia số 41 không có tên 20. Mộ bia số 52 không có tên
10. Trang Văn Bốn
11. Nguyễn Xuân Minh

Dãy IV: 25 Mộ
1. Mộ bia số 53 không có tên. 13. Mộ bia số 65 không có tên
2. Mộ bia số 54 không có tên 14. Mộ bia số 66 không có tên
3. Mộ bia số 55 không có tên 15. Mộ bia số 67 không có tên
4. Mộ bia số 56 không có tên 16. Mộ bia số 68 không có tên
5. Mộ bia số 57 không có tên 17. Mộ bia số 69 không có tên
6. Nguyễn Văn Minh 18. Mộ bia số 69 không có tên
7. Hoàng Văn Toản 19. Mộ bia số 70 không có tên
8. Nguyễn Văn Nhân 20. Mộ bia số 71 không có tên
9. Mộ bia số 61 không có tên 21. Mộ bia số 72 không có tên
10. Mộ bia số 62 không có tên 22. Mộ bia số 73 không có tên
11. Mộ bia số 63 không có tên 23. Mộ bia sô 74 không có tên
12. Mộ bia số 64 không có tên 24. Mộ bia số 75 không có tên
25. Mộ bia số 76 không có tên

Dãy V: 21 Mộ
1.- Nguyễn Yến Lương 12. Mộ bia số 89 không có tên
2.- Phùng Tân Phương 13. Mộ bia số 90 không có tên
3. Mộ bia số 78 không có tên 14. Ðào Văn Ðạo
4. Mộ bia số 79 không có tên 15. Mộ bia số 93 không có tên
5. Phạm Cảnh 16. Mộ bia số 94 không có tên
6. Mộ bia số 82 không có tên 17. Nguyễn Quang Quyền
7. Mộ bia số 83 không có tên 18. Mộ bia số 96 không có tên
8. Vũ Sinh 19. Nguyễn Hà Ðăng
9. Trần Tư 20.- Nguyễn Văn Lê
10. Mộ bia số 86 không có tên 21.- Nguyễn Văn Ðào
11. Nguyễn Quang

Dãy VI: 19 Mộ
1. Nguyễn Văn Thắng 11. Mộ bia số 119 không có tên
2. Lương Văn Giáo 12. Vương Huấn
3. Mộ bia số 108 không có tên 13. Trương Chính
4. Nguyễn Hà Dư 14. Nguyễn Văn Hùng
5. Mộ bia số 106 không có tên 15. Mộ bia số 123 không có tên
6. Phạm Văn Ðê 16. Mộ bia số 124 không có tên
7. Ðinh Quang 17. Mộ bia số 125 không có tên
8. Trần Quang 18. Mộ bia số 126 không có tên
9. Mộ bia số 111 không có tên 19. Hoàng Văn Thảo
10. Mộ bia số 112 không có tên

VII- Làng Ðá - Xã Cẩm Nhân - Thị Trấn Thác Bà - Tỉnh Yên Bái: 31 Mộ

1. Bia Mộ Lương Văn Hòa 17. Mộ không biết tên
2. Bia Mộ Chung Hữu Hạnh 18. Mộ không biết tên
3. Bia Mộ Ðỗ Hữu Tước 19. Mộ không biết tên
4. Bia Mộ Nguyễn Minh Kiệt 20. Mộ không biết tên
5. Bia Mộ Ngô Văn Sáng 21. Mộ không biết tên
6. Bia Mộ Nguyễn Văn Bảy 22. Mộ không biết tên
7. Bia Mộ Trần Xuất 23. Mộ không biết tên
8. Mộ Thiếu Tá Hứa Minh Ðức (*) 24. Mộ không biết tên
9. Bia Mộ Chung Hữu Nam 25. Mộ không biết tên
10. Bia Mộ Lương Ðình Bảy 26. Mộ không biết tên
11. Trung Tá Ðinh Văn Tân (*) 27. Mộ không biết tên
12. Mộ cố Th/tá Trần Ðình Năm 28. Mộ không biết tên
13. Mộ không biết tên 29. Mô không biết tên
14. Mộ không biết tên 30. Mộ không biết tên
15. Mộ không biết tên 31. Mộ không biết tên
16. Mộ không biết tên

Ghi chú quan trọng
-Chúng tôi có bản đồ khu mộ, có đánh số thứ tự, nhưng không có tên người quá cố.
-30 mộ không còn bia, không còn nấm mộ. Chỉ còn một mộ còn bia, tên là Chung Hữu Hạnh
-Một số bia mộ bị bể, vài bia còn nguyên, nằm rải tác trong khu mộ, không biết của mộ nào.
-Chánh quyền địa phương đã có kế hoạch phóng một con đường ngang qua khu mộ.
*Cọc Tim
Ðường đá cắm ngay giữa khu mộ. Dự trù, khu mộ sẽ bị dời đi vào năm 2010.
- Tại Làng Ðá, ngôi mộ số 10, 11, 13, 17, 18, 19, 20, 30, 31 đã được bốc.
VIII- Xã Việt Hồng - Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 01 Mộ
1. Lê Xuân Ðèo (*)
VIII- Trại Cải Tạo Bùi Gia Mập - Bùi Gia Phúc - Phước Long: 22 Mộ
1. Nguyễn Thanh Nhàn
2. Lê Ngọc Bích
3. Ngô Ngọc Khánh
* 10 grave without tombstone
* Làng Phú Nghĩa 09 mộ không có mộ bia
Tổng Cộng: 313 Mộ
-Những ngôi mộ này chúng tôi đã tìm thấy vào cuối năm 2007, sau lần họp với Thứ Trưởng Nguyễn Phú Bình. Vì vậy, đã có một số mộ đã được thân nhân bốc và cải táng.
- (*) dấu hiệu chỉ hài cốt đã được thân nhân bốc và cải táng.
- (1) Mộ trước đây đã tìm thấy, nhưng nay đã mất, chưa tìm được.
- (2) Ðã có thân nhân nhưng còn chờ giúp đỡ vì quá nghèo.
- (3) Sau khi tù cải tạo qua đời, trại cho chôn một dãy hàng ngang gồm 6 ngôi mộ, không có mộ bia. Một thời gian sau, trại cho làm mộ bia. Một Tù Cải Tạo được lệnh đem mộ bia ra cấm trên đầu mỗi ngôi mộ. Người đi cắm bia mộ đã vô ý, ca sai. Thí dụ: Nếu đứng trên đầu mộ (ngay trước đầu người quá cố), mặt hướng về mộ từ đầu đến chân). Ngôi Mộ đầu tiên bên trái là ông A, mộ cuối cùng là ông F. Người cắm mộ bia sơ ý, cắm mộ bia của ông F cho ông A mộ bia ông A lại cắm cho ông F. Rất may, người cắm mộ bia đã cho thân nhân biết sự sai sót đó. May mắn thứ nhì, anh em tù đi chôn xác bạn đã dùng sơn màu đỏ, vẽ trên cục đá to, chôn theo dưới mộ. Do đó, chúng tôi đã thông báo cho chánh quyền địa phương sự sai sót và tìm đúng mộ của cố Trung Tá Phạm Văn Nghym va ông Ông Tấn Ngọc. Cả hai đều có cục đá có vẽ tên chôn dưới mộ.
* Chúng tôi chân thành cảm tạ:
-Thân Nhân của Tử Sĩ Cao Kim Chẩn, đã gởi cho chúng tôi danh sách Mộ Tù Cải Tạo Nam Hà.
Sau đó, chúng tôi đã đến Trại Tù Nam Hà và kiểm lại trước khi loan tin.
-Cháu Hiệp ở New Mexico đã cho chúng tôi tin tức khu mộ Làng Ðá. Nhờ đó, chúng tôi đã tìm được khu mộ nói trên và giúp cho cháu Hứa Minh Ðộ tìm được mộ cha là cố Thiếu Tá Hứa Minh Ðức.
-Chúng tôi cám ơn các bạn Tù Cải Tạo sau đây đã cho chúng tôi tên, họ một số bạn tù đã qua đời:
1- Anh Phạm Ðức Dư ở Úc Châu.
2- Ðại Úy Nguyễn Văn Ðại.
3- Thiếu Tá Nguyễn Văn Ngọc TMP/HQ/TV Tiểu khu Hậu Nghĩa.
4- Anh Phạm Duy Nhân, Houston, Texas.
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ sự đóng góp của một số đồng đội, đồng bào trong thời gian qua. tấm lòng của quý vị, gia đình người quá cố sẽ không quên Anh Linh người chiến sĩ được an ủi, ngậm cười nơi chín suối.
Houston ngày 15 Tháng Giêng, năm 2010
Chủ Tịch Tổng Hội H.O
Nguyễn Ðạc Thành
VIETNAMESE MIA & POW FOUNDATION
1117 Herkimer, Houston, TX 77008
Tổng Hội H.O. là tổ chức bất vụ lợi, có hai chức năng: tìm mộ tù cải tạo và những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam, và đưa hài cốt tử sĩ trở về với gia đình.
Ðể liên lạc Tổng Hội H.O., đồng hương có thể gọi điện thoại (832) 725-3231;
email thanhdnguyen41@ yahoo.com hoặc vào website www.vietremains. org - www.tinhdongdoi. net.
Sài Gòn Ngày Trở Lại

1978 ...Những năm sau này, thỉnh thoảng, tôi vẫn hát nho nhỏ một bản nhạc quần hành mà ngày xưa tôi rất là … không thích: Cờ bay, cờ bay tung trời ta về với quê hương vừa chiếm lại đêm qua bằng máu . Cờ bay, cờ bay oai hùng ta về với quê hương vừa chiếm lại, quân ta kéo về . Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào quỳ hôn đất quê hương, Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng .

Hồi sinh rồi, này mẹ, này em, vui đêm nay, qua đêm đen tìm thấy ánh mặt trời . Ði lên, đi lên, trên hoang tàn, ta xây dựng ngày mai …

Có thời gian bản nhạc đã làm tôi khó chịu vì tôi vốn không ưa những bài hát đồng ca, không khoái cái cảnh cầm súng đi trong hàng, vừa hát vừa đếm nhịp, và vì tôi đâu đã biết thế nào là cái thân phận của một người chiến bại, cái tâm cảm của một kẻ mất quê hương ! Tôi nghe tin tái chiếm được Quảng Trị với một vẻ thờ ơ và hờ hững cũng thờ ơ và hờ hững y như lúc được tin thất thủ Phước Long .(Chao ơi, tôi thực lấy làm tiếc vì một phần đời ti tiểu, khốn nạn của mình) . Mãi cho đến khi nửa phần quê hương còn lại mất luôn vào tay của một lũ người khát máu, tôi mới ngẩn mặt ra, mới thất thía nỗi đau đớn sót xa của đồng bào mình ở Phước Long, Quảng Trị vào những thời điểm cũ . Quảng Trị ơi, Phước Long ơi, quê hương yêu dấu ơi, xin nhận nơi đây một lời tạ tội chân thành và niềm thống hối vô biên của một kẻ - đã có lần – sống như một tên vô loại !

Tôi vừa ngồi nắn nót viết lại cả bản nhạc ngày xưa mình ghét mà bùi ngùi xúc cảm, mà thấy ngẩn ngơ thương sót cho từng con sâu, ngọn cỏ đang bị dày xéo trên đất nước của mình; và thấy nhớ Sài Gòn đớn đau, quay quắt . Nhiều đêm, tôi cứ nghĩ đến những gót chân thô bạo đang dẫm nát Sài Gòn mà thấy se lòng . Nhiều chiều, tôi cứ đứng chống cuốc nơi một trại tù heo hút, nhìn về hướng Sài Gòn mà thương tiếc đến đứt ruột một buổi chiều nào khác đã xa xăm – nơi thành phố cũ .

Sài Gòn, đã bao lâu rồi tôi không trở lại nơi đó ? Dẫu biết rằng Sài Gòn đang rên xiết, đang quằn quại, rẫy rụa; tôi vẫn thiết tha mong mỏi nhìn lại được Thủ Đô trong những giây phúr kinh hoàng và bi thảm ấy .
*
* *
Niềm mơ ước thê thiết của tôi rồi cũng có lúc trở thành sự thực . Tôi được tạm tha . Chuyến xe đưa tôi trở lại Sài Gòn khởi hành từ Bảo Lộc, một tỉnh lỵ cao nguyên, nơi tôi đã bị giam giữ nhiều năm . Tôi quá mệt và quá đói nên cứ gục người mà ngủ, trên một chiếc xe đò bẩn thỉu và chật chội .

Khi tôi tỉnh giấc, xe đã vào đến Hố Nai . Ngay từ khi còn bé, trên những chuyến xe đi từ Đà Lạt xuống Sài Gòn . Vẫn những hình ảnh quen thuộc lại hiện ra trước mắt . Từng căn nhà nho nhỏ nối tiếp nhau, với vài ba cây ăn trái và khoảng sân rào dậu chung quanh . Qua một con đường lỗ chỗ ổ gà, xe chạy thật chậm . Tôi nhìn kỹ hơn vào từng căn nhà và suýt kêu lên vì thảng thốt . Trên mọi bức tường chính diện đều có vẽ một lá cờ đỏ sao vàng nho nhỏ . Bên trong, cạnh ảnh Chúa lồng khung kính còn có thêm tấm ảnh chân dung của Hồ Chí Minh . 1954-1975: hai mươi mốt năm, thời gian tuy có dài nhưng vẫn chưa đủ an toàn cho một lần chạy chết . Hố Nai, Gia Kiệm, Giốc Mơ, Phước Tỉnh …và bao nhiêu địa danh nữa không còn là nơi nương náu an bình cho những người dân miền Bắc di cư . Họ đã bị cộng sản bắt lại ngay giữa miền Nam . Tôi chưa kịp tìm hiểu về những đòn thù mà họ đã và sẽ phải chịu đựng, nhưng chỉ cần nhìn cảnh tượng những giáo dân ngoan đạo phải treo cờ và chưng hình của kẻ thù không đội trời chung bên ảnh Chúa, cũng đủ cho tôi cảm nhận được thấm thía nỗi uất hận trong lòng những người không may đó .

Từng ngôi nhà thờ xưa cũ vẫn còn nằm cách quãng dọc theo quốc lộ . Tháp chuông rêu phong, buồn tủi . Sân cỏ vắng vẻ đìu hiu . Hình tượng Chúa trông vẫn nhân từ nhưng không dấu được nỗi ưu phiền, trên thập tự . Lậy Chúa con là người ngoại đạo nhưng tin có Chúa ở trên Trời . Kính xin ngài sót thương cho hàng chục triệu tín đồ đang bị vùi dập khốn đốn trên phần đất quê hương tù ngục này, cũng xin ngài đoái thương cho cả dân tộc bất hạnh của con . Nếu thực đây là thánh ý thì nhiều năm qua đã là một thời gian thử thách đủ dài cho một kiếp nhân sinh ngắn ngủi rồi !

Đức Tu vắng lặng, thưa người . Đường phố chỉ phơi bày một nếp sống cầm hơi . Tôi chạnh nhớ đến những ngày cả tỉnh Biên Hoà đông vui náo nhiệt mà thấy não lòng . Rồi xe bắt đầu đi vào xa lộ . Đường rộng thênh thang . Không còn những đoàn xe vận tải, du lịch ngược xuôi tấp nập . Cũng hết rồi hình ảnh của những cô cậu choai choai chở nhau bằng xe Honda chạy những đường lả lướt: ghé Thủ Đức ăn nem, lên Biên Hòa ăn bưởi, rồi về hồ tắm Thiên Nga ngồi nhìn đùi nhìn ngực nhau chơi . Hết giờ chơi lâu rồi thì phải ?

Thảng hoặc, cũng có vài cái xe đò chạy ngược chạy xuôi chiều, chất chứa đầy nhóc khách hàng, quang gánh và khoai củ . Những chiếc xe cũ nát, ì ạch, nặng nề chuyển bánh được nhờ vào thùng nhiên liệu tròn, cao hai ba mét. gắn ở phía sau .

- Đi mấy cái xe chạy bằng than kiểu này đỡ hao tốn xăng dầu cho Nhà Nước và …ấm lắm đó nha !
Có hành khách buột miệng thốt lên một nhận xét mỉa mai . Nhiều nụ cười nửa miệng, nở vội trên những gương mặt xanh xao, mệt mỏi . Mùa Đông ở một nơi có tuyết mà được chen chúc nhau trên xe đò với hùng than rực lửa như vậy thì ấm cúng và hạnh phúc thật . Tiếc thay, Sài Gòn không có mùa đông !

Cách Mạng Về, thật sự, đã có lúc là niềm ước mơ làm ấm lòng không ít những người dân miền Nam cùng khổ . Bây giờ thì Cách Mạng Về đến nơi lâu rồi . Chắc chắn đâu có ai viễn vông đến độ nghĩ rằng Đảng sẽ gắn máy lạnh trên xe đò quốc doanh, nhưng cũng chả người nào ngờ được rằng Nhà Nước lại nỡ đặt nguyên cả cái thùng than rực lửa vào sau những chiếc xe luôn luôn chật ních người như thế . Đến nông nỗi này thì e rằng ấm quá . Giá Cách Mạng đừng về thì hay hơn .

Xe đến Thủ Đức . Thủ Đức – Sài Gòn 12 KM . Cái bảng xanh nho nhỏ với giòng chữ trắng đã úa màu vẫn còn nằm nguyên ở vị trí cũ . Tôi cúi mặt tránh ánh mắt soi mói của một tên công an lưu thông đang đứng ở ngã tư . Không dưng mà thấy nhớ và thương quá một thằng …quân cảnh !
Bên phải là đường dẫn vào chợ Thủ Đức, bên trái là đường dẫn vào trường Bộ Binh . Tôi nhìn mãi vào con đường nhỏ vắng lặng đó và tưởng như tim mình đập hụt liền mấy nhịp . Khi còn là sinh viên sĩ quan, tôi rất sợ và chán ngán những ngày tháng sống ở quân trường . Trời ơi, lúc hớn hỡ vác ba lô về đơn vị làm sao tôi ngờ được rằng lại có một buổi trưa mình cúi mặt đi qua trường cũ với cái tâm cảm bùi ngùi đến thế !

Đã có lúc tôi vô cùng thành thực khi nghĩ rằng: Chiến tranh là một hình thức sinh hoạt tồi tệ nhất của loài người ! Sự hà khắc, bạo ngược của chủ nghĩa cộng sản đã dậy cho tôi một quan niệm mới: trong nhiều trường hợp người ta bắt buộc phải cầm súng để chiến đấu đến giọt máu cuối cùng: nếu đây không phải là điều vinh dự thì vẫn là bổn phận cần thiết . Chao ôi, có phải tôi đã biết đến điều này muộn màng quá rồi không ? Bây giờ tôi mới thấy khát khao được cầm súng chiến đấu chống cộng sản dưới một lá cờ !

Xe chầm chậm chạy qua cầu Rạch Chiếc . Giòng sông đục vẫn hiền hòa chuyển mình dưới nắng . Hai bên bờ ô rô, dừa nước vẫn xanh um . Tôi đã có lần ngâm mình dưới giòng nước đó khi thực tập bài học Đại Đội Vượt Sông . Tự nhiên mà nhớ đến ông già Heraclite: “Người ta không bao giờ tắm hai lần trong cùng một giòng sông” . Thời gian qua đã bao nhiêu là nước chảy qua cầu rồi ? Như mới hôm nào tôi còn là một cậu sinh viên sĩ quan vừa tròn hai mươi tuổi . Bây giờ tôi đã sắp ba mươi . Gần ba mươi năm cằn cỗi, tang thương, thảm hại dù chỉ mới sau ba năm phải cắn răng để chịu lãnh những trận đòn thù .

Có cái cảm giác hoa mắt và choáng váng đến bất chợt . Tôi nhắm vội và gục đầu vào ghế xe . Thời gian gần đây - thỉnh thoảng – tôi vẫn phải đứng gục đầu vào cán cuốc vài giây khi bị choáng váng và hoa mắt như vậy . Rồi tôi lại vội ngẩng đầu lên, tiếp tục mở lớn mắt

Nhìn cảnh vật hai bên đường . Bỗng dưng tôi sợ rằng mình gục xuống thình lình rồi không bao giờ còn trỗi dậy được nữa . Tôi không thể và không có quyền gục ngã vào lúc này, khi mà quê hương còn đầy bón giặc . Bằng mọi giá tôi phải sống chứ . Mạng sống bây giờ là vũ khi duy nhất mà tôi còn có được để đối phó với kẻ thù . Dù thế nào chăng nữa tôi nhất định không câm nín, chấp nhận thân phận của một kẻ chiến bại cho đến hết đời .

Xa đến Nghĩa Trang Quân Đội . Pho tượng Tiếc Thương không còn đặt ngay trước cổng . Điều này làm tôi hài lòng . Chỉ mong kiệt tác này đã được vùi chôn ở một nơi nào đó . Nghệ thuật là sản phẩm của con người . Ngợm không thể và không có quyền thưởng thức . Hai chữ tiếc thương cũng không còn đủ ý nghĩa trước mộ phần của những chiến hữu đã hy sinh . Bây giờ ngoài sự tiếc thương, những người sống sót còn có bổn phận phải căm thù, và hận thù này phải được trả bằng máu mới cam lòng những người đã khuất .

Tôi nhìn sâu vào phía trong . Khoảng cách khá xa nên tôi không thấy gì được rõ ràng, ngoài một vùng um tùm cỏ dại . Chắc tất cả các mộ bia rồi cũng đều phải ngả nghiêng dưới những gót chân dầy xéo . Trời ơi, làm sao em biết bia đá không đau . Tôi thốt nhớ đến lời nhạc của Trịnh Công Sơn mà muốn rơi nước mắt . Tôi thương cho những kẻ đã thẳng lưng chiến đấu cho đến chết, và xót cho người nhạc sĩ tài hoa đã phải gập lưng để còn sống sót dưới một chế độ bạo tàn, mọi rợ !

Cuối cùng xe đi vào trung tâm thành phố . Đường Đinh Tiên Hoàng, rạp chiếu bóng Đakao – may quá - vẫn còn . Chỉ mất đi những khung vải quảng cáo quen mắt thật to và đẹp . Thay vào đó là những khung hình nhỏ xíu, sơn phết lem nhem, trông bẩn thỉu và bần tiện, với những tên tài tử vô danh, xa lạ: A-li-cốp, Bô-nhi-sô-lốp và gì gì đó …. Không dưng mà tôi thèm được nhìn lại những khuôn mặt mà đã có lúc mình vốn không ưa : Lý Tiểu Long, Vương Vũ, AlaiDelon, Hùng Cường, Út Bạch Lan hoặc bất cứ ai !

Tiếp đến là đường Hiền Vương . Những tiệm phở đều đóng cửa dù bảng hiệu vẫn còn nguyên hình những con gà vàng với chấm mắt đen . Trông chúng cũng có vẻ ngơ ngác như chưa kịp hiểu hết cái cảnh đời tang thương dâu bể .

Xe dừng lại ở ngã tư đèn xanh đèn đỏ . Tôi chợt để ý có sự thay đổi . Đường Hiền Vương đã trở thành Võ Thị Sáu; và Pasteur có tên mới là Nguyễn Thị Minh Khai . Dẫy xe phở bò ở cuối con đư ờng này cũng không còn nữa . Có lẽ chị Sáu không thích ăn phở gà và chị Khai thì kiêng cữ thịt gà; hoặc giả, phở - nói chung – là một món ăn có quá nhiều thịt mỡ và thiếu mùi vị cách mạng nên cả hai chị đều không ưa . Vì vậy tôi đoán từ ngày mang tên hai chị thì tất cả những hàng phở trên hai con đường này đều sụp tiệm !

ái gọi là cách mạng tháng 04 năm 1975 kể ra cũng mang lại cho nhân dân lao động ít nhiều bình đẳng . Lịch sử bây giờ không còn là nơi dành riêng cho vua chúa hay một giai cấp đặc quyền, đặc lợi nào nữa . Hiền Vương, Phan Đình Phùng, Nguyễn Trung Trực …. đều đã bị đẩy xê ra chỗ khác cho anh Trổi, anh Phong, chị Khai, chị Thối …. nào đó nhào vào lịch sử !

Sau khi chống Pháp, chống Mỹ, chống Nước Bạn Trung Quốc Vĩ Đại và bè lũ phản động quốc tế, chương trình được tiếp nối bởi những công cuộc xâm lăng những nước xã hội chủ nghĩa anh em nho nhỏ nằm kề . Đảng và Nhà Nước đã và đang luôn luôn tạo cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân đi vào lịch sử . Chả biết bao giờ thì trên mới quyết định cho mọi người được nghỉ xả hơi để hưởng Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc ? Và nếu thực sự có một lúc như vậy thì e rằng số liệt sĩ xếp hàng đi vào lịch sử sẽ đông hơn thường dân . Thế mà chả có cảnh xô đẩy, chen lấn, dành giật đánh nhau đến vỡ đầu chảy máu, hoặc lại xẩy ra chuyện chợ đen, chợ đỏ, rất có phương hại đến tinh thần và đạo đức cách mạng . Nếu nhờ vào hên mà Đảng chưa đẩy toàn dân đến bước đường diệt chủng, thì rồi lại cũng đến tội cho lũ sử gia con cháu – sau này . Tụi nhỏ - chắc chắn - chả thế nào viết lại được những trang sử dễ coi .

Xe vẫn vào bến Pétrus Ký, với cái tên mới là Lê Hồng Phong . Sự hỗn loạn xẩy ra trước khi xe kịp ngừng bánh . Chừng hai mươi người đàn bà, lôi thôi, lam lũ vừa chạy theo xe vừa nhao nhao hỏi:
- Có cái gì bán không ? Có mang trà, cà phê, gạo hay lê-ghim không cậu ?

Tôi lắc đầu, cười bối rối khi phải đối diện với những khuôn mặt đỏ gay đang thò sát vào thành xe . Tôi chưa hiểu ra câu hỏi của họ . Những hành khách khác cũng lắc đầu cười; họ cười mà như mếu:
- Không, không có gì đâu . Ở nhà mãi sốt ruột không chịu được thì đi thử, vậy thôi . Chúng nó làm kinh bỏ mẹ, còn ai mà dám bán mua gì nữa . Có mà sạch vốn và rũ tù ấy chứ, chả chơi đâu .

Chiếc xe gần như đứng khựng lại giữa một hàng rào xích lô đạp, xích lô máy, Honda ôm ở vòng ngoài; và một vòng những người đàn bà lếch thếch, nhễ nhại sát xung quanh . Sau một hồi xoay trở khó khăn, vô hiệu; người tài xế bất lực, đưa tay quệt mồ hôi trán, thở dài:

- Trời, đã nói là không có trà, cà phê, gạo bắp gì đâu mà . Tụi nó xét đột xuất ghê thấy mẹ cả tuần nay rồi, bộ mấy bà không biết sao mà hỏi hoài vậy ? Buôn bán cái con khỉ gì nữa ở cái thời buổi chó má này !

Câu nói có vẻ thấm . Những bà bán hàng dãn dần ra . Giữa cái vẻ im lặng bất chợt của họ, tôi thấy rõ trong ánh mắt từng người nỗi chán chường và tuyệt vọng . Tôi mủi lòng nghĩ đến những người thân yêu: mẹ và chị của mình . Ôi, những người mẹ và người chị Việt Nam một đời tảo tần, đôn đáo, chịu thương chịu khó trăm chiều để giữ cho dân tộc tôi khỏi bị diệt vong . Họ đã âm thầm chịu đựng hy sinh qua biết bao nhiêu là biến cố đau thương dồn dập xảy ra trên cái phần quê hương bất hạnh này rồi ? Lịch sử khang trang vẫn thường không có chỗ để dành cho những người đàn bà Việt Nam anh dũng và vô danh đó .

Rồi đến lượt những khuôn mặt đàn ông đen đủi, gầy gò thò hẳn vào khung cửa, ngay khi xe dừng bánh:
- Xích lô đạp, xích lô máy, xe ôm …. Nè thầy Hai ơi . Xe tui chạy bằng xăng đàng hoàng, không có chết máy giữa đường đâu …. Có cái gì trên mui không ? Tui đỡ xuống nha ?

Sau cái biến cố nghiệt ngã tháng tư năm 1975, chả hiểu Đảng đã bố trí cho bao nhiêu đồng chí công nhân lao động xe xích lô và xe ba gác nhẩy bổ vào guồng máy lãnh đạo để …mị dân ? Nhưng riêng ở bến xe Sài Gòn chiều hôm ấy thì số lượng những người phu xe muôn đời khốn khổ có vẻ đông gấp ba lần ngày chưa cách mạng . Và giai cấp công nhân vô sản bây giờ trông rách rưới, gầy ốm hơn xưa nhiều quá . Cách họ chào đón khách hàng nghe cũng ân cần và khẩn thiết hơn . Đời sống hiển nhiên là khó khăn và vô vọng cho mọi giới người . Vậy mà hiện tại ở nhiều nơi, ngoài Việt Nam , vẫn có người cứ tưởng đây là cuộc cách mạng của giai cấp công nông !

Xích lô, xe ôm bây giờ không còn là những phương tiện vận chuyển phổ thông nữa . Chả mấy ai còn đủ khả năng tài chính để phiêu lưu trên một chiếc xích lô đạp từ bến xe về đến tận nhà . Hầu hết hành khách đều khệ nệ ôm hành lý đi bộ vài trăm mét ra ngã Bảy hoặc đường Trần Quốc Toản để đón xe lam hay xe buýt .
*
* *
Và đây là Sài Gòn . Sài Gòn là Sài Gòn chứ hoàn toàn và tuyệt đối không có dính dáng đến cái tên Hồ Chí Minh thối tha chết tiệt nào cả . Sài Gòn trong một thời gian ngắn tôi đ ược cho phép tạm để chờ ngày đi Kinh Tế Mới .

Tôi đạp xa đi loanh quanh giữa trung tâm của Thủ Đô . Tôi đi, nhìn, và sống trong nỗi bàng hoàng đau đớn của một kẻ chỉ còn quyền tạm trú trên quê hương đang rẫy chết của mình .

Dưới mắt tôi mấy năm đốt đuốc soi rừng, Sài Gòn vẫn còn phồn thịnh lắm . Tôi ghé vào cà phê Mai Hương . Cà phê pha vợi lạt lẽo vô duyên . Tôi “cắn răng” mua thêm hai điếu thuốc Lucky . Qua khói thuốc tôi chợt có cảm tưởng rằng bây giờ rất có thể là một buổi chiều nào đó của những năm 1973, hay 74 … Mấy năm tù đầy chỉ tựa như là một giấc ngủ trưa ngắn ngủi . Tôi chỉ vừa thức giấc, sau một cơn … ác mộng !

Ở mặt tiền của những con phố chính, không có gì đổi thay rõ nét lắm . Đường phố chỉ thiếu đi những loại xe có động cơ, và thiếu những người lính với đủ mọi quân phục, sắc phục khác nhau . Thỉnh thoảng, tôi vẫn thấy những tà áo dài thướt tha, một vài cái jupe ngắn, hai ống quần jean bó sát một cặp đùi thon . Vẫn có những chiếc sơ mi soie Pháp, quần serge-Anglais cắt khéo, và những bộ mặt nhởn nhơ, vô tư y như những con cá đang bơi lội trong chậu kính .

Chả hiểu bây giờ ở Đài Bắc, ở Vọng Các, ở Hồng Kông …các cô các cậu choai choai ăn diện ra sao ? Riêng ở Sài Gòn thời trang không có gì thay đổi . Cách ăn mặc của người dân Sài Gòn (một-số-rất-ít-những-người-dân-Sài-Gòn), sau 1975 không bao giờ có thể bị coi như là old-fashion hoặc out-of-date . Trong bức màn sắt, thời gian và thời trang đều có khuynh hứng chuyển động lùi . Nhờ Đảng vận dụng sáng tạo ra nền kinh tế quà biếu nên đã đổi bức màn sắt thành bức màn tre, và giữ cho thời trang đứng mãi được một chỗ . Thường, người ta đi theo thời trang y như là người mù đi theo con chó . Vì vậy, khi chó cũng đã bị cột chân bởi những thứ xiềng xích cách mạng, như sổ đi lại, giấy thông hành …thì thời trang - tất nhiên – cũng phải đứng yên một chỗ !

Và trong khi toàn quốc đang rẫy chết dưới sức đè nặng của búa liềm cộng sản thì một số rất ít những con người may mắn vừa kể đã mang lại cho đường phố ở trung tâm Sài Gòn một chút sinh khí . Cái sinh khí tuy thảm thương nhưng cuồng nhiệt của những con người đang sống vội . Họ sống như sợ rằng ngày mai sẽ không còn được sống . Ngày mai có thể họ sẽ vào tù . Ngày mai sẽ phải có lệnh đổi tiền và kiểm kê tài sản . Ngày mai sẽ ngưng chế độ gửi quà . Họ sống như không có ngày mai !

Mặc dù đã rơi xuống gần đến đáy của sự tuyệt vọng và khốn khổ người dân Việt còn nỗi lo sợ và ám ảnh khủng khiếp: họ vẫn cứ sợ rằng đường lối và chính sách của cộng sản còn nhiều thay đổi, và mỗi lúc sẽ một thêm hà khắc, tàn độc hơn . Tất nhiên những kẻ cư ngụ ở Sài Gòn đeo nặng nỗi ám ảnh và lo sợ này hơn bất cứ ai . So sánh một cách tương đối, Sài Gòn vẫn được coi như là … thiên đường của Việt Nam; hay nói đúng hơn trong cái ngục tù bao la có tên gọi là Đông Dương . Sài Gòn mới chỉ là tầng đầu địa ngục !

Bây giờ thì tôi hiểu, hiểu thấm thía bốn chữ phồn vinh giả tạo mà cộng sản Hà Nội vẫn thường dùng để mai mỉa nền kinh tế của miền Nam , Việt Nam trước ngày họ đến được đây . Còn gì giả tạo hơn cái sinh khí mong manh mà người cộng sản bắt buộc phải hà hơi tiếp sức để Sài Gòn chưa lăn đùng ra chết ? Đúng là Sài Gòn của tôi vẫn sống . Cái vẻ tươi sáng của một con cá nằm trong tủ lạnh . Cái vẻ giả sống như khuôn mặt ướp của con cáo Hồ Chí Minh đặt trong lồng kính .

Sài Gòn chỉ còn là biểu hiệu cho cái nền kinh tế chưa kịp tàn lụi của cả miền Nam . Sài Gòn vẫn thoi thóp với những điểm sống hổn hển hội tụ nơi những con phố chính, để che đậy cho số phận của mấy chục triệu người dân đang ngoắc ngoải chết dần mòn ở những công trường hay nông trường heo hút . Dầu vậy, cái vẻ hào nhoáng bề ngoài của Sài Gòn vẫn đủ sức để lòa mắt được những ký giả ngoại quốc mới vào nghề, ít kinh nghiệm nhưng lại nhiều thiên kiến !

Dù sao hai lần đổi tiền và mấy lượt kiểm kê tài sản, người cộng sản chưa vét được ráo nạo hầu bao của người dân Sài Gòn . Đảng và Nhà Nước vội vàng cho lệnh hồi sinh Thanh Thế, Givral, Majestic … dưới hình thức những cửa hàng ăn uống quốc doanh, với mục đích tạo cho Sài Gòn còn có vẻ là một nơi sống được, và để móc túi những kẻ có tiền .

Một bữa ăn đàng hoàng, gần đủ no, tính theo giá chính thức khoảng chừng nửa số tiền lãnh được hàng tháng của một công nhân viên có tiền lương trung bình, và gấp năm lần tiền phụ cấp mà một anh bộ đội được phục vụ hàng tháng . Đối tượng phục vụ của nhà nước chuyên chính vô sản vẫn chỉ là những kẻ có hay còn tài sản . Cái định luật khắt khe này – dù ở thiên đường vô sản – cũng miễn có loại trừ !

Tôi tiếp tục đạp xe đi chỗ này, chỗ nọ ….
Công trường Quách Thị Trang, bây giờ mới đúng là ghế đá công viên dời ra đường phố, người già ho hen nằm thiu thiu ngủ và em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi . So sánh với những lời nhạc “tiên tri” đó, chỉ có điều khác là còn thêm cái cảnh của ba ông công an áo vàng, tay lăm lăm tiểu liên Tiệp Khắc, lui tới đi tuần; dù vậy, trên tất cả mọi băng ghế đều chật người nằm hay ngồi ngiêng ngửa . Mặt họ hốc hác, tóc cháy vàng hoe, mắt lờ đờ mệt mỏi . Quần họ mặc trên người thì rách tả tơi và hôi hám .

Cuộc thi đua để tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa – coi bộ - có nhiều người bỏ cuộc hoặc cương quyết không tham dự . Chắc chắn những phần tử chống đối tiêu cực, lừng khừng, lười biếng này rồi sẽ có lúc bị “nhân dân” trừng trị đích đáng . Nhưng bây giờ thì …. chưa . Bởi lẽ, họ đông quá . Hơn nữa Nhà Nước cũng chưa rảnh để triệu tập những toà án nhân dân lên án giới người này .

Đảng đang còn bận thanh toán cho kỳ hết tụi tàn dư ngoan cố của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và thanh trừng nội bộ, cùng với hàng ngàn thứ chuyện rắc rối nhức đầu khó gỡ khác ở miền Nam .
Lãn vào giữa những khuôn mặt chẩy dài của người dân miền Nam là những khuôn mặt tỉnh táo đến độ ngơ ngác của người dân miền Bắc, mà phần lớn là bộ đội . Họ đến miền Nam bằng nhà ga Sài Gòn; xuống khỏi xe lửa họ đi thẳng ra công trường Quách Thị Trang . Có thể là họ phân vân không biết là sẽ phải đi đâu và về đâu ? Cũng có thể là họ còn quá bỡ ngỡ và nhức đầu bởi cái sinh hoạt náo nhiệt của một rừng xe … đạp hay xe gắn máy ở Sài Gòn . Mới có ba năm, chứ không phải là ba chục năm Đảng trị nên Sài Gòn vẫn còn vui vẻ và phồn thịnh hơn Hà Nội nhiều lắm .

Đầu đường Hàm Nghi: Chợ trời quần áo . Không hàng quán, không kiosque, chỉ có những chiếc poncho trải vội với đủ thứ y phục của nam, phụ, lão, ấu … Tất nhiên, toàn là đồ cũ ! Bảnh nhất là những chiếc áo chemise hay quần tây được treo trên móc và cầm chắc trên tay người bán . Dù chắc chắn là đã trải qua hai ba đời chủ, những bộ quần áo này sau khi được giặt ủi lại vẫn còn có giá và được coi như bộ đồ ăn nói của nhiều người dân Sài Gòn .

Huyền thoại về nhà máy dệt Nam Định, sau bao nhiêu năm được đài phát thanh Hà Nội, báo Nhân Dân và nhiều tờ báo phản chiến khác ở miền Nam thêu dệt đã khiến cho người dân Sài Gòn ngỡ ngàng khi nhìn thấy y phục rách rưới, và vá víu của người dân Hà Nội . Và cái huyền thoại này chết không kịp ngáp ngay trên một hè phố, bầy bán quần áo cũ, ở miền Nam . Nhân dân cả hai miền, có thể vẫn còn bất đồng ý kiến với nhau về vài chuyện lẩm cẩm, nhưng tất cả đều cùng nhau lùng sục tìm mua cho bằng được áo quần cũ may bằng vải … ngụy !

Giữa đường Hàm Nghi: Chợ trời đồ sắt và đồ điện . Người ta bầy bán mọi thứ vật dụng cần thiết: từ cái căm xe đạp cũ cho đến piston của máy chạy dầu, có khả năng dùng để …. vượt biên ! Mỏ lết, kềm bấm, bạc đạn, bù lon …đủ kiểu đủ cỡ được bầy biện nơi đây đều phải theo tiêu chuẩn kỳ lạ là tuyệt đối cũ . Vật liệu do những công ty quốc doanh sản xuất là coi như miễn có khách hàng . Người ta mua dụng cụ về để dùng chứ không phải để …vứt đi !

Nếu không tìm được những phụ tùng origin của Nhật hay của Mỹ thì đành sài đồ made in Cholon . Còn cái gì làm tại Hà Nội hay Hồ Chí Minh City thì xin để nhà nước xuất khẩu cho nhân dân tiến bộ thế giới mua sài . Con dân Việt Nam “chúng em” thì chả dại . Đã ở mấy năm trong chăn, chả lẽ lại chưa biết rằng chăn có rận ! Có một hiện tượng cần phải được ghi nhận: vài tháng sau khi vồ được miền Nam thì báo chí và đài phát thanh Hà Nội bớt hẳn cái chuyện ba lô, khoe khoang khoát lác về những hoạt động rầm rộ của nhà máy thép Thái Nguyên . Chả hiểu rằng cũng có lúc vẹm biết ngượng mồm hay vì trước một thực tế quá phũ phàng như vừa mô tả thì ngay cả những con vẹt cũng biết rằng tốt hơn là nên khép mỏ lại .

Sôi nổi, hồi hộp và bi đát nhất là cảnh những chợ trời thuốc tây, ở cuối đường Nguyễn Huệ hay đầu đường Trương Công Định . Không đâu mà chuyện mua bán lại diễn ra với nhiều gian nguy và bất trắc như ở nơi đây . Chỉ cần một chút sơ xẩy, hoặc thiếu may mắn khi có chiến dịch bố ráp là cả người bán lẫn người mua đều có thể bị bắt đi cải tạo, với tội danh là: mua và bán hàng quốc cấm !

Xin đừng ai hiểu lầm rằng Đảng và Nhà Nước ngăn cấm nhân dân uống thuốc . Không hề có chuyện vô lý đó . Trên chỉ muốn rằng tất cả mọi chuyện - kể cả chuyện đau bệnh thuốc thang - phải được diễn ra trong vòng trật tự và kiểm soát được, thế thôi . Nếu ai mắc bệnh thì cứ mang sổ gia đình (có tên mình trong đó) đến phường khóm để ủy viên y tế định bệnh rồi bán thuốc . Vì tiêu chuẩn lương thực giống nhau nên sau khi ăn vào người dân chả có lý do gì phát bệnh khác nhau được . Bởi thế, bệnh gì rồi cũng được phát chung một vài loại thuốc giống y như nhau thôi . Sau chừng mười lần như vậy mà bệnh không thuyên giảm và nếu bệnh nhần vẫn còn sống, họ sẽ được cấp giấy giới thiệu để khám bệnh tại nhà thương . Nơi đây, sau nửa ngày chờ đợi bệnh nhân sẽ được gặp bác sĩ . May thì gặp một ông bác sĩ tốt nghiệp ở đại học y khoa Sài Gòn, không may thì gặp phải một ông bác sĩ tốt nghiệp ở đại học y khoa Mát-Cơ-Va hay Hà Nội . Vô phước hơn nữa thì có thể vồ nhầm một ông bác sĩ tốt nghiệp ở …cục R . Họ cũng chẩn bệnh, cho toa và muốn sống thì khôn hồn cầm ngay toa thuốc chạy ra … chợ trời ! Những tiệm thuốc tây quốc doanh, nếu có mở cửa thì cũng để cho vui, chứ ít khi có thuốc bán lắm . Và lỡ mà có bán thiệt thì chưa chắc đã có người dám mua . Nước ngọt do Nhà Nước làm đã khiến cho vô số người vong mạng . Bệnh chứ bộ điên sao mà đi uống thuốc tây quốc doanh !

Suy tính hơn thiệt chán rồi cũng phải đưa ra chợ trời thôi . Tất nhiên là tốn bộn tiền . Trong trường hợp không có tiền thì chắc chết, chết chắc ! Có ở nơi đâu trên cuộc đời này mà những kẻ không tiền vẫn còn sống được ?

Và đây là chợ sách . Cả kho tàng văn hoá miền Nam bây giờ còn được xếp nằm thoi thóp ở hai bên lề đường Bùi Quang Chiêu, dài đâu chừng trăm mét . Bán sách cũ ở đây có môn bài và phải nộp thuế đàng hoàng . Đảng và Nhà Nước có giao trước là chỉ được bán những loại sách khoa học, kỹ thuật, thể dục thể thao hay thuần túy nội trợ đó nha . Sách khoa học - tất nhiên - là có khách, kể cả khách ngoại quốc như Nga Sô, Hung, Bảo, Ba Lan …. Ai mà không biết khoa học của khối cộng đi sau tụi tư bản đâu cỡ chừng hơn một thập niên ! Chỉ cần lật vài trang cuốn sách Đường Vào Khoa Học, hay xem qua tuần báo Khoa Học Phổ Thông của “thầy” Phạm Hoàng Hộ là người ta có ngay một khái niệm rõ ràng về hai chữ … lạc hậu !

Chỉ thị của Nhà Nước về việc buôn bán sách cũ - tất nhiên – là không được chấp hành . Đảng bảo sao mà nghe vậy thì có mà chết đói . Bên cạnh những cuốn sách giáo khoa vớ vẩn, những tác phẩm vô thưởng vô phạt; người ta vẫn dễ dàng tìm được Arthur Koesler, Solzhenitsin, Remarque, Georghiu …. Nguyên bản hay bản dịch . Những nhà văn chống cộng của miền Nam như Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Phan Nhật Nam …rõ ràng được ái mộ và tìm đọc một cách cẩn thận hơn xưa . Nhà Nước càng chi tiền nhiều cho bộ Thông Tin thì tinh thần kháng cộng của nhân dân càng mãnh liệt . Đã đến lúc mà mọi công tác thông tin, tuyên truyền của người cộng sản đều đã mang lại những tác dụng rất phản tuyên truyền . Người dân miền Nam không ngu dốt và dễ gạt như Đảng mong đợi . Sự bịp bợm, khoác lác của Nhà Nước chỉ làm cho lòng người thêm uất hận và căm thù mà thôi .

Loại sách Học Làm Nguời đã dần mất khách vào những năm cuối của Nền Đệ II Cộng Hòa, nay lại được phục hưng . Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần và Hoàng Xuân Việt lại tiếp tục là những soạn giả được giới trẻ yêu chuộng . Cái mệnh danh là “Đạo Đức Cách Mạng” chỉ làm lóa mắt được một thiểu số người trong một thời gian ngắn, những ngày sau đó thì người ta nhờm tởm . Không có một chủ thuyết nào cảm được lòng người và đủ sức biện minh cho những hành động dã man, tàn độc diễn ra hàng ngày dưới mắt dân chúng . Thế hệ trẻ Việt Nam, dầu sinh ra trong thời gian ly loạn, và trưởng thành trong thời buổi nhiễu nhương, khi còn điều kiện lựa chọn, họ phân biệt được ngay đâu là chân và đâu là ngụy ! Thà là phải dành dụm tiền bạc hàng nửa tháng, phải tìm kiếm cả tuần lễ mới mua được một bản dịch của André Maurois, Luiser Rinser hay Lâm Ngữ Đường …., viết về một nghệ thuật sống nhân bản, chứ không ai chịu nổi cái lối sống theo “Năm Điều Bác Dạy” hoặc bước vào tiệm quốc doanh để mua những “tác phẩm” của nhà xuất bản Thanh Niên hay Phụ Nữ bán với giá rẻ mạt là vài chục xu .

Thêm một hiện tượng nữa về sách vở cần được ghi nhận là tất cả những sách viết về phép Tân Dưỡng Sinh của Ohsawa đều trở nên hiếm hoi và cao giá . Lý do thì vô cùng giản dị . Sống ở một xã hội mà vài tháng người ta mới có dịp nhìn thấy thịt cá một lần, và gạo thóc là một loại thực phẩm xa xỉ thì ăn cơm với gạo lức muối mè, hay tuyệt thực đúng là một phương cách dinh dưỡng rất đáng được mọi người lưu tâm .

Điều vô cùng an ủi là chợ sách Bùi Quang Chiêu – Calmette đông đúc hơn bất cứ loại chợ trời nào khác . Cái thứ tình cảm ngược xu ôi theo đúng luật đi đuờng của Nhà Nước phơi bầy ở những tiệm sách quốc doanh bị khinh bỉ, coi thường một cách không dấu diếm . Khách hàng của loại này chỉ là những ngư ời buôn bán hàng rong . Họ cần giấy tờ gói xôi hay gói bánh mì . Sách vở của người cộng sản dùng để đọc chơi vài phút cho biết, trong cầu tiêu, rồi dùng luôn vào việc chùi đít thì còn khả dĩ, chứ đọc hoài cũng bị buồn nôn hay táo bón .

Dù vậy, có một sự thực mà không ai có thể phủ nhận được: dưới chiêu bài “Bài Trừ Văn Hoá Mỹ Ngụy”, người cộng sản đang tận dụng bạo lực để cố bóp cho chết văn học và văn hoá Việt . Những cuốn sách cũ – dù được trân trọng cất dấu, giữ gìn bởi một số người - vẫn cứ rách nát và thất lạc dần dần theo ngày tháng ! Trong vòng vây khốn của bạo quyền, tính mạng con người cũng hoá mỏng manh . Ước vọng cố bảo vệ văn hoá dân tộc qua sách vở - gần như – đã trở thành một điều không tưởng . Có trông mong vư ợt thoát khỏi vòng tù ngục . Chắc chắn là dù ở chân trời góc bể nào đi nữa, những kẻ ra đi thế nào cũng có cái quyền tự do tối thiểu để có thể tiếp tục nuôi dưỡng và khai mở một nguồn mạch cho cái giòng sinh mệnh của nền văn hoá Việt đang bị bóp nghẹt, nơi chính quê hương của nó . Cầu mong cho những kẻ ra đi sẽ làm được công việc cần thiết tối thiểu này . Thì cũng cứ cầu mong vậy, chứ sao tự thâm tâm tôi vẫn cứ thấy …lo lo !
*
* *
Tôi rời bỏ những con phố chật chội đông người . Tôi thèm nhìn lại được một mảng trời có lãng đãng mây trắng, qua những tàn lá me xanh . Tôi đạp xe ngược đường Trương Công Định, qua Nguyễn Du rồi đi mãi đến tận Tú Xương . Có những ngôi biệt thự mở tan hoang cửa . Ở cổng vào, người ta đọc được trên một cái bảng nhỏ vài giòng phấn trắng, nắn nót những chữ đại khái như: Cà phê, Chè, Thạch, Trà đá … giá bình dân ! Bên trong kê bầy mấy chiếc bàn con cùng vài chiếc ghế cọc cạch . Khi nhìn vào bên trong, thỉnh thoảng tôi bắt gặp một vài tiểu thư đang ngồi …ngáp gió !

Trong những ngày niên thiếu hoa mộng, tôi vẫn có những buổi chiều đạp xe qua những con đường vắng lặng này . Tôi nhớ rõ là lúc dó mình đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư, luôn luôn khuất rất vội sau cổng cao, tường kín . Bây giờ cách mạng đã phá đổ tường, mở bung cửa sắt; tuy vậy, tôi vẫn chỉ đạp xe ngang qua chứ không hề có ý dừng lại để bước vào bên trong . Tôi sợ, sợ phải nhìn thấy cảnh những tiểu thư khuê các …chạy bàn ! Sự thực là lòng tôi cũng còn đôi chút bâng khuâng, vương vấn; nhưng thôi, xin đành hẹn nhau một kiếp xa xôi nào khác vậy . Còn trong kiếp này thì nhìn lại nhau làm chi cho nó thêm đau . Sau chuyện đổi thay tang thương dâu bể này thì cuộc đời của mấy nàng, cũng như cuộc đời của chính tôi, kể như là … chấm hết !

Thm thương hơn nữa là những cái biệt thự người vào kẻ ra tấp nập . Soong chảo móc đầy tường chính diện . Áo thun, quần lót giăng mắc khắp mọi nơi . Nhìn qua là một thằng điên cũng phải hiểu rằng ngôi nhà đã được tập thể hiện quyền làm chủ tập thể mất rồi . Cứ bỏ chừng năm sáu ông bà cán bộ cộng sản vào bất cứ nơi đâu chừng hai tuần lễ, nơi đó sẽ biến thành một cái …nhà thổ ngay tức khắc !

Tôi lại băn khoăn tự hỏi, chả hiểu là những tiểu thư khuê các chủ nhà giờ đã phiêu bạt nơi nào ? Có thể là nàng đã trở thành tổ viên của một cái hợp tác xã nào đó ở những vùng kinh tế mới; có thể là nàng đã vùi thây trong lòng biển trên đường đào thoát khỏi thiên đường; cũng có thể là nàng đã trở thành một “waitress”, hoặc đang lo nhuộm tóc và đổi tên cho hợp với phong tục và thủy thổ nơi những vùng xa lạ !

Thảng hoặc, trên những đại lộ quí phái đó tôi lại bắt gặp một giàn hoa giấy đỏ tươi màu xác pháo . Màu hoa thắm quá nên dù không phải là thi sĩ, tôi vẫn không tránh được cái thương cảm bâng khuâng:

Đình thụ bất tri nhân tận khứ
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa
Thương ơi:
Cây có biết đâu người đã vắng
Xuân về vẫn nở cánh hoa xưa .

Gió đã gây gây lạnh . Tôi thốt nhớ bây giờ đã là tháng Mười Hai . Thảo nào, hoa giấy nở . Lại thêm một mùa Giáng Sinh nữa đến, ở một nơi mà Chúa đã khước từ . Tôi thấy đói nên theo đường Công Lý về lại trung tâm thành phố . Chiều đã xuống chạng vạng . Phải nhìn thấy “ Saigon by Night” mới hiểu được thấm thía thế nào là đổi đời thế nào là tàn tạ !

Quốc Tế, Bồng Lai đều đóng cửa . Queen Bee , Đêm Màu Hồng, Hòa Bình, Paramount , Tour D’Ivoire đều cũng chả còn . Sao bỗng nhớ cái màu ánh đèn vàng ấm của phòng trà, tỏa nhẹ trên một tấm khăn bàn thật trắng, trên đó khép nép một bình hoa tươi nho nhã, và sóng sánh một ly rượu màu hổ phách . Tôi công nhận là mình khá ham chơi và hơi phù phiếm . Đã vậy, có lúc tôi còn thành thực tin rằng đời sống – đôi lúc – cũng cần có những giây phút phù phiếm cần thiết chứ ? Khổ ỗi, quê hương tôi nghèo khốn quá . Người cộng sản đã dẹp bỏ những nơi giải trí tốn kém này . Tôi cũng đành đồng ý vì họ có lý khi làm như vậy . Nhưng sau đó thì chuyện gì xảy ra và Sài Gòn về đêm còn gì ?

Xin thưa, chả còn gì cả ngoại trừ vô số những kẻ ngủ đường . Bên cạnh những ông anh bà chị ngủ đường chuyên nghiệp, còn có vô số những người “bụi đời bất đắc dĩ” . Họ vừa mới bị nhà nước mượn nhà với cả trăm lý do khác nhau . Những người này sống bằng cách nào - đối với tôi - thực là một chuyện khó hiểu . Tôi hài lòng khi thấy họ nằm chờ chết ở lề đường . Như vậy vẫn còn hơn là đi tìm những cái chết chóng vánh ở vùng kinh tế mới !

Một hình ảnh lạ đập vào mắt khiến tôi thắng vội xe . Dưới gầm một chiếc Molotovav, hai ba chú bộ đội đang lui cui chụm lửa nấu cơm . Dù bây giờ . Dù bây giờ Sài Gòn đã tối tăm u buồn đi nhiều lắm, nhưng hình ảnh một đống lửa lập lòe, soi sáng một nồi cơm độn bắp vẫn là điều coi rất là không ổn . Tưởng sau Đại Thắng Mùa Xuân 1975 thì cuộc đời của các đồng chí bộ đội có gì thay đổi chứ ? Còn nếu vẫn cứ lui cui với củi lửa ngô khoai ngay giữa phố Sài Gòn thì thà là ở luôn trong rừng Trường Sơn, mặc cho muỗi đốt, mà đời lính – may ra – còn có đôi chút ảo tưởng về lý tưởng hay chính nghĩa !

Sau khi kiếm chuyện để đổi tiền và kiểm kê tài sản năm bẩy lượt ở miền Nam, một thằng đui cũng thấy rằng cái được người cộng sản mệnh danh là cách mạng – thực chất – cũng chỉ là một vụ kinh doanh mà Đảng đã mượn vốn là máu xương của mọi tầng lớp nhân dân . Tưởng đâu là sau khi làm ăn trót lọt rồi thì những kẻ sống sốt cũng phải được chia chác chút đỉnh cả vốn lẫn lời chứ . Đâu có ai ngờ sự thể lại thê thảm đến là như vậy . Từ bé đến giờ tôi đã xem ít nhất là một trăm chuyện và phim ăn cướp . Tôi chưa hề thấy cái đảng cướp nào ăn dơ ở bẩn và đối xử với đàn em khốn nạn như Đảng Lao Động Việt Nam .

Tôi tiếp tục chầm chậm đạp xe về . Lòng mỗi lúc một thêm não nề và uất hận . Lại thấy nhớ, thương và phục cụ Nguyễn Du quá sức . Thảm cảnh của Sài Gòn hôm nay, chỉ có hai câu Kiều này là diễn tả được trọn vẹn và chính xác:
Lạ gì một thói sai nha
Làm cho khốc hại chả qua vì tiền

Tưởng Năng Tiến