Saturday, April 17, 2010


NỖI ĐAU TRÊN CHIẾN TRƯỜNG
Vũ Đình Hải KBC 3119.
Mến tặng các đồng đội thân thươngcủa tôi thuộc tiểu đoàn 8 Nhảy Dù.Như một lời tạ lỗi gởi đến linh hồn Nguyễn Quang Trí, thuộc trung đội 3, đại đội 84, tiểu đoàn 8 Nhảy Dù, đã tử trận trên chiến trường Thường Đức, Quảng Nam, tháng 8 năm 1974.

Trại Trần quí Mai, hậu cứ của tiểu đoàn 8 Nhảy Dù, chấn ngay vào một ngã tư đường. Con đường chính của trại Hoàng hoa Thám chạy từ cổng A của su đoàn, qua bộ tư lệnh, cải hối thất, sân vận động với những khẩu pháo 130 ly và xe tăng T 54 tịch thu được của địch trưng bày dọc theo sân cỏ, sau đó cắt ngang một con đường khác chạy đến từ phía cổng Phi Long. Nơi giao nhau của hai con đường này chính là hậu cứ của một tiểu đoàn Nhảy Dù mang huy hiệu con ngựa bay nổi lên trên một chiếc dù, ở giữa hằn lên con số 8, gia đình bác Tám.Nếu đi từ cổng Phi Long, con đường chạy xuyên qua một khu vực rộng lớn của căn cứ không quân Tân sơn Nhất, khi qua khỏi góc tử sĩ đường thì bước chân bỗng nhiên từ từ chậm lại, vì phía trước mặt một vọng gác nhô ra sát ven đường, thấp thoáng có bóng dáng một người lính với quân phục Nhảy Dù, vai đeo súng đang đứng gác.

Đây là giới hạn cuối cùng không thể vượt qua, hậu cứ tiểu đoàn 8 Nhảy Dù. Góc bên phải của ngã tư đường là dãy nhà của bộ chỉ huy tiểu đoàn và đại đội 80, đầu dãy nhà là phòng sĩ quan trực. Cặp bên tay phải là những dãy nhà của các đại đội 81, 82, 83, không thấy láng trại của đại đội 84 ở nơi đây. Sau khi băng qua khỏi ngã tư, con đường sẽ dẫn đến khu nhà thờ, khu trại gia binh của tiểu đoàn 8 ND và tiểu đoàn 9 ND, rẽ sang bên phải sẽ dẫn đến khu chợ su đoàn với hàng quán ồn ào, nhộn nhịp.Thằng em 84 đã được ngắt ra, đẩy tuốt xuống cuối con đường chính của căn cứ Hoàng hoa Thám. Đầu con đường là cổng A của su đoàn, cuối con đường là khối bổ xung tiếp giáp với bên Không Quân, láng trại của đại đội 84 nằm sát bên khối bổ xung. Càng xa mặt trời chừng nào lại càng mát mẻ chừng nấy. Tổ ấm của đại đội 84 là dãy nhà tôn, đầu dãy là một nhà thủy tạ, chính giữa dãy nhà là văn phòng của đại đội trưởng. Trong căn phòng đại đội trưởng, đơn sơ một cái bàn, vài ba cái ghế đã mốc meo, anh chàng hậu cứ vừa mới lau chùi vội vã nên còn nhiều chỗ bụi bậm đóng thành từng mảng. Hành quân liên miên, đã hơn 2 năm mới được trở về thăm lại chốn xưa, mạng nhện, ổ chuột lúc nhúc cũng đúng thôi. Trên vách tường treo khung hình của tướng Trương quang Ân, vị tiểu đoàn trưởng đầu tiên của tiểu đoàn 8 Nhảy Dù. Một ít chiến lợi phẩm được gắn lên bức tường, lá cờ của mặt trận giải phóng, chiếc nón cối kiểu xưa, giây đạn có bi đông nước, một khẩu súng AK báng xếp, những món đồ này tịch thu được trong một trận đánh nào đó đã đi vào dĩ vãng xa xưa.Trước mặt láng trại là một bãi cỏ tương đối rộng, nơi tập họp của đại đội. Ba lô súng đạn của từng trung đội xếp theo hàng lối thứ tự ngay trên sân cỏ.

Tiểu đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân, chỉnh bị đơn vị sau hơn 2 năm lăn lộn trên các chiến trường, từ mặt trận An Lộc, qua cuộc hành quân đẫm máu tái chiếm Quảng Trị, rồi đến giai đoạn nằm giữ đất dọc theo sườn phía tây của quốc lộ 1, từ Quảng Trị xuống tận Thừa Thiên. Về nghỉ dưỡng quân mà ba lô súng đạn lúc nào cũng sẵn sàng trước sân đại đội, Nhảy Dù ơi, ai đày đọa mà sao mi khổ như rứa. Nhìn thấy mặt mũi hậu cứ, dù chỉ một lần trong đời, cũng là hạnh phúc lắm rồi. Có những người lính Nhảy Dù đến lúc chết mà vẫn chưa biết hậu cứ đơn vị của mình nằm ở đâu. Mãn khóa huấn luyện quân trường, tình nguyện về su đoàn Nhảy Dù, tốt nghiệp khoá dù, về khối bổ xung nằm chờ phân phối đi các tiểu đoàn tác chiến, ra đơn vị dấn thân vào các cuộc hành quân, chết. Vậy là lúc nhắm mắt suôi tay vẫn chưa biết được hậu cứ của mình nằm ở nơi đâu.Huỳnh Ánh tham dự trận đánh An Lộc với cấp bậc binh nhì. Rời An Lộc, hành quân ngay ra miền địa đầu giới tuyến trong chiến dịch tái chiếm Quảng Trị thân yêu. Bao nỗi nhọc nhằn hiểm nguy, bao nhiêu lần đối diện với cái chết chỉ trong gang tấc, trời thương nên Huỳnh Ánh vẫn còn sống đến ngày hôm nay, trên cánh tay áo nay đã mang lon hạ sĩ nhất. Sau hơn hai năm ngụp lội trong trận mạc, lần này theo đơn vị về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân, Huỳnh Ánh mới được nhìn thấy lần đầu tiên hậu cứ của mình, ngỡ ngàng trong hạnh phúc.

Từ cấp bậc binh nhì lên tới hạ sĩ nhất, hơn hai năm quần thảo trên chiến trường, Huỳnh Ánh chưa bao giờ được nhìn thấy mặt mũi của tờ giấy phép dài ngắn ra sao. Trên cuộc đời này đầy rẫy những điều vô lý, người ta áp dụng triệt để câu “ dụng nhân như dụng mộc “, cấp dưới được xem là cỏ cây, cỏ cây thì làm gì có tình cảm, vậy thì cần gì phải đi phép. K’ Stul, người của miền núi, quê quán ở Pleiku, tướng tá cao to, K’ Stul có sức khoẻ hơn người nên luôn luôn được giao cho khẩu đại liên M60. Đã hai năm qua, khẩu M60 của K’ Stul đã gây bao nhiêu giông gíó cho địch quân trên khắp các chiến trường ác liệt, anh chàng đen thui, ít nói này chắc có lẽ cũng thuộc loại vô cảm nên chưa bao giờ được ban cho tờ giấy phép. Nhưng một hôm, bất ngờ K’ Stul hắt ra nỗi niềm:-Thiếu úy, em nhớ nhà quá thiếu úy ơi.Đi từ cấp bậc binh nhì lên đến hạ sĩ nhất mà vẫn chưa được nếm mùi những ngày phép, lần này toàn bộ tiểu đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân, anh em thay phiên nhau đi phép, hạ sĩ nhất Huỳnh Ánh đừng có than thở gì nữa nhé, lính tiểu đoàn 8 Nhảy Dù lấy ngày bị thương nằm bệnh viện làm ngày nghỉ phép.

Những ngày tiểu đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân thật là vui, vui hơn ba ngày tết, vui hơn bao giờ hết. Anh em nào có giấy phép thì về thăm gia đình, ai ở lại đơn vị thì xuống khu chợ su đoàn, café, bia rượu, thôi thì thứ nào cũng có. Nhậu lai rai thì cũng phải nhớ giờ giấc trở về đại đội điểm danh quân số, lau chùi vũ khí.Anh em tiểu đoàn 8 ND lại được thưởng thức một buổi văn nghệ thật đặc sắc, do công thu xếp của thiếu úy Nguyễn quốc Hùng. Các cô ca sĩ mặt mũi xinh đẹp, tươi như hoa, giọng hát của các cô nghe thật tuyệt vời, khác hẳn với giọng ca trên làn sóng radio nghe được từ bên dưới giao thông hào khi còn đóng quân trên miền hỏa tuyến . Ban văn nghệ vừa chơi được vài tiết mục thì anh em bắt đầu ngứa ngáy chân tay, khều nhau ra nhảy đầm. Anh em được dịp thử lại bước đi của mình, hơi vụng về một chút thì có sao đâu, anh chàng Lô vinh Hải của trung đội 1, đại đội 84, bước ra sàn nhảy với chiếc mũ đỏ giắt trên cầu vai, Hải nhảy thật điệu nghệ trong bản “ Sầu đông “. Anh em tiểu đoàn 8 ND lại đóng góp cho phần văn nghệ thêm phong phú bằng những bản nhạc đang thịnh hành thời bấy giờ, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay, tâm sự ấy đã gắn liền theo người lính trên mọi nẻo quân hành, nghe thật xúc động.Đúng là ngày vui qua mau, anh em tiểu đoàn 8 Nhảy Dù chưa kịp thưởng thức trọn vẹn những ngày nghỉ dưỡng quân thì đã có lệnh cấm trại 100%. Các đại đội trưởng ngưng ký giấy phép, đơn vị điểm danh quân số một ngày năm bảy lần, các quân nhân được lệnh hạn chế ra khỏi doanh trại. Vũ khí, quân trang quân dụng được kiểm kê chi tiết, bổ xung đầy đủ. Mọi người xì xào bàn tán, trận đánh này chắc chắn sẽ dữ dội lắm, nhưng ở nơi đâu thì không ai đoán được.Hắn đang tháo bung khẩu súng M16 để lau chùi thì Nguyễn quang Trí bước lại gần, ngập ngừng nói:

- Thiếu úy…Hắn ngẩng đầu lên, rồi lại cúi xuống tiếp tục công việc:- Có gì không Trí, cứ nói đi.- Bữa nay thiếu úy cho em chuồn về nhà…- Tiểu đoàn cấm quân 100% rồi mà, Trí không biết sao?- Dạ biết, nhưng mà…Hắn ngước lên nhìn, Nguyễn quang Trí tăng cường về trung đội được vài tuần lễ trước khi tiểu đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân. Trí còn trẻ lắm, lính mới ra lò từ quân trường mà, mồ hôi quân trường chưa đủ mặn để xóa bớt đi nét học trò còn vương trong đôi mắt sáng long lanh.Trí im lặng không dám nói thêm khi thấy trung đội trưởng mặt đen xì, râu ria lởm chởm đang chiếu tướng nhìn mình. Nhưng giọng nói của trung đội trưởng thì lại hiền lành chứ không dữ dằn như trên khuôn mặt:

- Kẹt chuyện gì thì Trí cứ nói ra, biết đâu tôi có thể giúp được.- Dạ…em có lỡ hẹn với cô bạn gái cùng lớp bữa nay đi ăn kem, không ngờ lệnh cấm trại…Tự dưng trong đầu hắn liên tưởng đến câu hát, “ có những người đi không về, xa xôi rồi quên ước thề “. - Chuyện nhỏ mà, nhưng lúc này an ninh tăng cường chặt chẽ lắm, làm sao Trí dù ra ngoài được.- Không sao đâu thiếu úy, em có bằng… Dù rồi mà. Em leo hàng rào phía bên cổng C, hôm trước em có chuồn bằng đường đó một lần rồi.- Ừ, đi cẩn thận, ngày mai nhớ trở lại nghe.



Lính Nhảy Dù đã từng nhảy từ trên máy bay xuống đất thì trên đời này còn có hàng rào nào có thể cản được bước chân… dù. Lại có những người lính Nhảy Dù không thích xin phép thiếu tá Rào, anh em đi thẳng từ doanh trại sang bên kia phi trường Tân sơn Nhất, lúc đi ngang qua cổng Phi Long còn tủm tỉm cười. Anh em quân cảnh Không Quân vốn đã có nhiều thiện cảm với binh chủng Nhảy Dù nên dễ dàng ngó lơ để anh em thoải mái .

Đại đội 204 quân cảnh Nhảy Dù tuyển quân từ các tiểu đoàn tác chiến. Họ là những người đã từng chiến đấu, đã từng vào sinh ra tử ngoài mặt trận, tướng tá cao lớn bặm trợn, có tinh thần kỷ luật cao. Khi được rút về làm công tác giữ gìn an ninh, duy trì kỷ luật cho binh chủng thì họ chu toàn nhiệm vụ rất hoàn hảo. Họ hiểu rõ tâm tư tình cảm của những người lính tác chiến khi trở về thành phố, họ đã từng cảm được cái đau đớn khi nhìn thấy đồng đội ngã xuống trên chiến trường, thế nên họ ứng xử mền dẻo, linh hoạt trong cách giải quyết vấn đề. Nếu vi phạm không trầm trọng lắm thì họ mời lên xe quân cảnh, chạy ra một khúc đường vắng, ngừng xe và thả anh em xuống sau khi đã lịch sự dặn dò khuyên can. Ngược lại, anh em thấy những người quân cảnh 204 của mình đều là dân thứ thiệt nên cũng có phần kính trọng nể nang, bớt đi những vi phạm phép tắc luật lệ. Tiếc thay, về sau này có những người lính quân cảnh 204 mặt mũi non choẹt, thước tấc chỉ đứng tới ngang vai người ta mà dám hống hách nạt nộ những người lính từ mặt trận trở về, thật là dễ chết.Buổi chiều ngày hôm sau, lúc đi ngang qua cổng A của su đoàn, nhìn qua bên kia đường, thấy trước cửa một quán giải khát có đôi nam nữ đang bịn rịn chia tay, nhìn thoáng qua hắn nhận ra được ngay Nguyễn quang Trí. Nguyễn quang Trí đã trở về đơn vị đúng hẹn, cái cảm giác thương yêu tiếc nuối lúc chia tay chắc sầu thảm lắm, biết làm sao hơn khi đã lỡ sinh ra trong thời chinh chiến. Khi bước vào sân đại đội, hắn ngạc nhiên khi thấy rất đông anh em đang quây quần uống rượu trên những tấm poncho trải lên trên sân cỏ, ai nấy mặt mũi đỏ gay, vài người đã có vẻ lờ đờ.Hạ sĩ Trương tiến Thành nâng ly rượu lên, chào hắn:
- Thiếu úy, uống với tụi em một ly.- Cám ơn, anh em cứ uống tự nhiên, tôi có chút việc phải làm.Trung sĩ Nguyễn Bê có vẻ ngần ngại:
- Thiếu úy thông cảm cho tụi em uống say một bữa, ngày mai ra trận biết còn sống hay không để mà trở về.Hắn lướt đôi mắt nhìn những khuôn mặt thân thương của anh em, chiến trận nay mai sẽ nổ ra rất lớn, rất ác liệt, chắc chắn sẽ có những người ra đi không trở lại, sẽ là ai trong những khuôn mặt đang hiện diện ở nơi đây. Có lẽ thần chết đã có sẵn một danh sách trong cuốn sổ bìa đen, hắn ngập ngừng khi nghĩ đến tên tuổi của hắn…Sáng sớm ngày hôm sau, lúc mọi người còn đang mơ màng trong giấc ngủ thì tiếng còi tập họp ré lên giận dữ, anh em chồm dậy, vội vã đánh răng rửa mặt, làm vệ sinh cá nhân. Nhìn ra bên ngoài hàng rào của đại đội, đoàn xe quân vận đã đến từ lúc nào, lặng im chờ đợi dưới hàng cây ven đường.Toàn bộ đại đội tập họp trên sân cỏ, từng trung đội xếp hàng, nhưng không được chỉnh tề cho lắm vì có người quắc cần câu chiều hôm qua vẫn chưa tỉnh rượu, tuy đứng nghiêm mà vẫn còn ngả tới ngả lui. Lần lượt các trung đội trưởng báo cáo quân số tại hàng, tình hình vũ khí đạn dược. Đại úy đại đội trưởng Đồng văn Minh hôm nay khuôn mặt khó coi, bước tới bước lui có vẻ bực bội lắm, một số anh em vẫn chưa kịp trở về. Lệnh từ bộ chỉ huy tiểu đoàn đưa xuống, đại đội lên xe di chuyển tập trung về tiểu đoàn, sau đó toàn bộ tiểu đoàn 8 Nhảy Dù được đưa sang phi trường Tân sơn Nhất. Trên phi đạo, những chiếc vận tải cơ C130 trong tư thế sẵn sàng nhận hàng, bửng sau của phi cơ đã hạ xuống, nhìn lên khoang tàu thấy trống trơn. Lính Nhảy Dù nhanh chóng được dồn lên phi cơ, nhân viên phi hành không đếm người, cứ dồn lên, còn chỗ trống thì cứ đẩy người lên, hết chỗ thì mới thôi. Đúng là đưa người vào chỗ chết nên chẳng cần tuân thủ nguyên tắc hay luật lệ an phi gì cả. Thật là khác hẳn so với chuyến bay chuyển vận tiểu đoàn từ phi trường Phú Bài về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân, lần ấy người ta đếm từng người một, tuân thủ rất bài bản mọi thủ tục, nguyên tắc. Một vài anh em do uống rượu quá nhiều vào tối hôm qua nên đã ói mửa ra sàn phi cơ, cũng chẳng thấy ai phàn nàn điều gì.
Ngày hôm nay, anh em Nhảy Dù được đưa vào chốn tử sinh, lấy thân xác của mình dựng lên bức tường che chắn cho hậu phương có được những ngày an toàn êm ấm.Gần một tiếng rưỡi đồng hồ sau, máy bay đã bắt đầu làm vòng trên phi trường Đà Nẵng chuẩn bị hạ cánh. Bánh đáp vừa ngừng lăn thì bửng sau của máy bay đã vội vã hạ xuống. Nhìn xuống bên lề phi đạo, một dãy quan tài đã xếp hàng chờ sẵn, chuẩn bị chuyển lên máy bay. Vừa bước xuống phi cơ, anh em Nhảy Dù đã nghe thấy tiếng đạn pháo ì ầm từ xa vọng lại, làm cho nắng phi trường càng thêm ngột ngạt, khô khan. Đoàn xe quân vận bốc ngay tiểu đoàn 8 Nhảy Dù vào vùng hành quân, chiều hôm ấy tiểu đoàn đã tạm dừng quân trên địa bàn quận Hiếu Đức, tỉnh Quảng Nam, các đại đội tổ chức phòng ngự qua đêm. Buổi sáng vừa mới tập họp điểm danh trước sân đại đội trong trại Hoàng hoa Thám, buổi chiều đã có mặt ngay trong vùng lửa đạn, ngẫm nghĩ thấy như một giấc ngủ trưa mộng mị.Các tiểu đoàn 1ND, tiểu đoàn 8 ND, tiểu đoàn 9 ND, và tiểu đoàn 1 Pháo Dù thuộc lữ đoàn I Nhảy Dù nhanh chóng được gởi ngay vào mặt trận để chận đứng các mũi tiến công của địch quân sau khi đã nuốt chửng quận lỵ Thường Đức, đang tràn xuống quận Đại Lộc, uy hiếp Đà Nẵng. Ngày hôm sau, tiểu đoàn 8 ND được chuyển vận sâu vào Đại Lộc, đoàn xe vừa tới ngã ba Ái Nghĩa, quẹo phải hướng về Ba Khe thì đã nghe tiếng đại bác 130 ly của địch bắn rải trên liên tỉnh lộ số 4, con đường nối liền Đà Nẵng vào Thường Đức. Tiểu đoàn đổ quân xuống ven đường, triển khai đội hình tác chiến, bắt đầu sào bài nhập cuộc.
Tiểu đoàn 8 ND vào trận Thường Đức:
- Tiểu đoàn trưởng : Thiếu tá Nguyễn quang Vân.
- Tiểu đoàn phó : Thiếu tá Trần Toán.
- Trưởng ban 3 : Đại úy Trần cao Khoan.
- Đại đội trưởng ĐĐ 81: Đại úy Võ thế Hùng.
- Đại đội trưởng ĐĐ 82: Trung úy Đỗ việt Hùng.
- Đại đội trưởng ĐĐ 83: Đại úy Phan văn Hiệu.
- Đại đội trưởng ĐĐ 84: Đại úy Đồng văn Minh.
- Đại đội trưởng ĐĐ Đa Năng: Trung úy Trần đình Ngọc.
Đại úy Đồng văn Minh điều đại đội tiến vào làng Hà Nha, các trung đội tấn theo hình chân vạc, băng qua khu ruộng trống trải, đoàn quân tiến chậm, chậm mà chắc. Hắn dẫn trung đội lách sang bên phải để tránh một khoảng đất, trên đó cắm một cây cọc có ghim miếng giấy viết một chữ duy nhất “ Mìn “ , địch chơi trò tâm lý chiến. Trung đội xâm nhập vào bìa làng rất êm, hắn nhìn thấy thi hài một người bộ đội nằm chết, lớp vải kaki Nam Định căng cứng lên như muốn nổ tung vì xác đã trương sình, phình lớn như một con bò mộng. Buổi chiều trên làng Hà Nha vắng tanh, địch ẩn náu ở đâu đó, đang rình rập chờ thời cơ. Trung đội đào hầm củng cố vị trí, đại bác 57 ly của địch bắn trực xạ từ bên kia sông Vu Gia, hình thù của viên đạn bay trong không gian tạo nên một vệt đen thoang thoáng, nổ sát vào vị trí đóng quân của trung đội, không hây hấn gì, trật lất. Trời còn đủ sáng để hắn nhìn thấy rõ một toán bắc quân, đầu đội nón cối, quần áo kaki Nam Định đang lúp xúp chạy ra từ chân núi, lòn vào phía sau trung đội 1 do thiếu úy Nguyễn quốc Hùng chỉ huy. Hắn điều động khẩu đại liên M60 bắn vào đội hình của địch. Toán quân đội nón cối tản ra rồi biến mất không còn nhìn thấy nữa. Đêm hôm ấy trung đội 1 bị địch tấn công, giữa lúc tiếng súng đôi bên nổ tung cả một góc trời mà vẫn nghe thấy tiếng Nguyễn quốc Hùng vang lên lanh lảnh:- Móc mắt nó chà giấy nhám, móc mắt nó chà giấy nhám.Trung đội 1 chận đứng được những đợt tấn công của địch trong đêm hôm ấy mà không hề bị tổn thất.Sáng hôm sau hắn được lệnh tấn sâu vào làng, cảnh vật vẫn im lìm vắng tanh, hình như địch cố ý tránh né giao tranh. Đến buổi trưa, trung đội khoanh tròn, đào hầm phòng thủ, không khí ngột ngạt lắm vì vẫn chưa thấy địch quân lộ diện. Đại đội thông báo, địch quân sử dụng một khẩu 57ly bắn vào quân ta, sau đó địch di chuyển súng ra nơi khác, lấy đạn dấu sẵn ở nơi đó, bắn xong lại di chuyển vị trí. Trung đội nhận lệnh tảo thanh khu vực tìm cách tiêu diệt khẩu 57ly. Anh em để ba lô tại vị trí, hắn cắt cử một người ở lại để trông coi nhà cửa. Nguyễn quang Trí là quân nhân yếu nhất trong trung đội, mới tăng cường hành quân, còn bỡ ngỡ chưa theo kịp anh em.Hắn nói với Trí:
- Trí ở lại trông coi vị trí cẩn thận, có chuyện gì thì bắn lên trời 3 phát một nghe.- Dạ, em nghe rõ thiếu úy.Hắn chỉ xuống một căn hầm chiến đấu:
- Trí đứng gác ở dưới căn hầm này, đừng đi đâu hết nha.Nguyễn quang Trí đeo khẩu M16 lên vai, xách theo dây đạn rồi nhảy xuống.Trên bảng cấp số, quân số của một trung đội Nhảy Dù là 41 quân nhân, khi vào trận Thường Đức, quân số trung đội lên tới 45 người, trung đội có 2 sĩ quan, một trung đội trưởng, một phụ tá. Hắn tổ chức trung đội thành 3 cánh, cánh quân đi chính giữa do hắn chỉ huy, 2 cánh quân hai bên đi lùi lại phía sau một chút. Hắn căn dặn các tiểu đội trưởng, cánh quân nào chạm địch sẽ sử dụng hỏa lực tối đa kềm không cho địch ngóc đầu lên, cánh quân kế bên sẽ vòng lên đánh nhanh vào cạnh sườn của địch. Trung đội cẩn trọng tiến quân, khoảng 20 phút sau thì cánh quân của hắn chạm địch. Địch quân khai hỏa trước, đạn bắn ra từ những căn hầm ngụy trang kiên cố. Khẩu M72 trên vai người khinh binh phóng ngay viên đạn về phía địch. Tiếng nổ của viên đạn M72 mở màn cho các loạt đạn bắn phủ lên mục tiêu.Hắn gào lên trong tiếng súng nổ:- Lên ngay đi, Bê ơi.Nhanh như chớp, trung sĩ Nguyễn Bê dẫn cánh quân xông lên đánh úp vào hông địch, tiếng súng rộ lên vang dội một góc trời. Khi quân ta ào lên lục soát mục tiêu thì địch quân đã biến mất, dưới những căn hầm chữ A vẫn còn vương vải những dây đạn, một nồi cơm vẫn còn đang bốc khói nóng hổi. Địch vẫn ngoan cố không chịu giao chiến, mọi người đều có cảm giác một cái bẫy đang giăng ra ở gần đâu đây. Trung đội được lệnh dừng quân, không tiến sâu hơn nữa. Lệnh tiếp theo, trung đội phải nhanh chóng trở về vị trí đóng quân.Nơi đóng quân bây giờ sao lạ quá, cây cối ngả nghiêng, vung vải như thế này.
- Trí ơi! Trí ơi!Không có tiếng trả lời.-
Tản rộng ra anh em, cẩn thận nhé. Trí ơi, Trí đâu rồi!Chỉ nghe thấy tiếng cành cây vướng víu, xào xạc đong đưa trong gió.Trí đã chết mất xác rồi, một quả đạn đại bác 130 ly rơi xuống đúng ngay căn hầm Nguyễn quang Trí đang đứng gác. Sức nổ khủng khiếp của viên đạn đã biến căn hầm chiến đấu thành một cái ao, khẩu M16 của Trí văng ra xa hàng trăm thước, cong queo vụn nát. Thân xác của Trí chỉ thu lượm được một ít da và thịt lẫn lộn với đất cát. Kể từ lúc ấy, cả trung đội lầm lì, không ai nói với ai một lời nào, trung đội vừa mất đi một người đồng đội, nỗi giận dữ và tiếc thương in hằn lên từng khuôn mặt.Buổi xế chiều, có người lính lặng buồn ngước mắt nhìn lên bầu trời xám mây, chợt kêu lớn:
- Trí, Trí, tụi bay ơi.

Anh em đổ xô ra, nhìn theo hướng tay chỉ, xác của Trí bị bắn tung lên cao, rơi vướng trên cành của một cây đa, nhưng thân xác chỉ còn một nửa từ bụng trở lên, một mớ bùi nhùi máu gân da thịt đổ ra từ khoang bụng, đong đưa rờn rợn.Thi hài của Trí được đưa xuống, đặt nằm lên tấm poncho trải trên mặt đất. Trước cái chết thảm thương của Trí, có anh em không cầm được nước mắt. Nguyễn quang Trí, người quân nhân đầu tiên của trung đội 3, đại đội 84, tiểu đoàn 8 Nhảy Dù tử trận trên chiến trường Thường Đức, Quảng Nam.Trí chết mà không được toàn vẹn thân thể, phân nửa còn lại của Trí cũng nhàu nát tang thương. Một cuốn sách nhỏ nhô ra trên túi áo của Trí, nhìn kỹ hơn, đó chính là một cuốn kinh khổ nhỏ.Thượng đế ơi, ngài có hiện diện trên cõi đời này không vậy?
Một tín đồ ngoan đạo như Nguyễn quang Trí, đường hành quân nặng trĩu ba lô súng đạn mà trong túi áo lúc nào cũng một lòng gìn giữ cuốn kinh, lúc nào cũng nguyện cầu đến ngài, vậy mà ngài nỡ lòng nào quay mặt làm ngơ để Trí phải chết thảm như thế này.Màn đêm buông phủ xuống làng Hà Nha, tiếng côn trùng nỉ non ai oán. Người lính gác đêm giật mình lắng tai nghe, từ trong hầm chỉ huy của trung đội có tiếng ú ớ, lảm nhảm:-
Trí chết tại tôi, Trí chết tại tôi…Trận chiến mỗi lúc một thêm ác liệt, địch đã chiếm đóng vùng đất này từ lâu nên tổ chức được một thế trận rất lợi hại. Địch đưa vào trận địa 2 su đoàn chính quy tinh nhuệ để đối đầu với su đoàn Nhảy Dù. Đoàn quân mũ đỏ bất chấp mọi thất lợi về phía mình, liên tục giữ thế tiến công đẩy địch ra khỏi từng ngọn đồi, xô ngã địch xuống từng vực sâu.





Máu ra nhiều quá, ướt đẫm cả chiếc áo hoa dù, thấm cả lên chiếc ba lô hắn vác trên vai. Máu của hắn, của Nguyễn quang Trí, của biết bao đồng đội đổ ra trên khắp nẻo đường đất nước đã không đem lại được một kết qủa tốt đẹp nào.Cuối tháng 4 năm ấy, hắn thôi không còn gắn bó với đơn vị được nữa. Một mình hắn ngơ ngác trước cuộc đổi thay khủng khiếp không thể nào tưởng tượng được. Hắn không biết mình đang đứng ở đâu giữa cuộc đời này, ngày mai tăm tối phủ xuống cuộc đời của hắn. Tuổi thanh xuân của hắn tẻ nhạt trên những chốt đóng quân sâu thẳm trong rừng núi, trải dài theo những cuộc hành quân gian khổ, và tàn tạ trong chốn lao tù đói khát lầm than. Ở nơi đâu hắn cũng luôn bị dằn vặt bởi một nỗi đau, một nỗi ám ảnh, chính hắn đã gây ra cái chết của Nguyễn quang Trí. Nếu hôm ấy hắn đừng cắt đặt Trí ở lại trông coi vị trí đóng quân, đừng chỉ định Trí đứng gác trong căn hầm định mệnh ấy, thì Trí đâu có chết thảm thương oan uổng như thế.Bước chân ra khỏi chốn lao tù, hắn tìm về nghĩa trang quân đội Biên Hoà vào một ngày tiết trời ảm đạm, trên cao là những giải mây buồn lững thững trôi. Trên từng mộ bia của tử sĩ có khi còn đọc được tên họ, cấp bậc, đơn vị, ngày và nơi tử trận. Lòng hắn cứ miên man tưởng tượng ra khung cảnh chiến trường lúc người tử sĩ nằm xuống, dính một viên đại bác hay một quả súng cối như trường hợp của Nguyễn quang Trí, hay là một loạt đạn xả nát cả hình hài như trung sĩ Nguyễn Bê, hay là bị thương rồi bị địch bắt, địch mổ bụng moi ruột gan cho đổ ra ngoài như hạ sĩ nhất Nguyễn Đông, còn giắt lên trên ngực người đã chết một mảnh giấy ghi dòng chữ “ cảnh cáo ngụy Dù “ .



Nguyễn thành Lâm,
một đồng đội thuộc tiểu đoàn 8 ND,
giã từ Thường Đức về đây an nghỉ trong nghĩa trang quân đội BH.

Hắn đứng ở đây giữa những nấm mộ hoang tàn, thoang thoáng chung quanh là hồn tử sĩ, hắn bỗng thấy lành lạnh ở phía sau lưng. Rải rác những mộ phần nay chỉ còn là một lỗ huyệt cạn có dáng dấp của một hình chữ nhật. Thấp thoáng những nấm mộ trống trơn, không còn tấm bia để nhắn gởi cho người đang nằm ngơi nghỉ dưới lớp đất sâu. Hắn bắt gặp những hình ảnh của tử sĩ in trên tấm mộ bia, bị đục thủng vào hai con mắt thành hai lỗ sâu hoắm như mộ bia của thiếu tá Nguyễn đức Dũng, tiểu đoàn 11 Nhảy Dù. Hắn cố tìm lại phần mộ của trung sĩ Lê thế Hiền, thuộc đại đội 84, chính hắn đã tiễn đưa Lê thế Hiền đến an nghỉ tại nơi đây khi hắn còn nằm điều trị trong bệnh viện Đỗ Vinh. Hắn không tìm được phần mộ của Lê thế Hiền, nhưng cuối cùng hắn đã tìm ra được ngôi mộ của Nguyễn quang Trí.Trong tấm hình in trên tấm bia, Nguyễn quang Trí tươi tắn trong bộ quân phục hoa dù, đội beret đỏ, hình chụp trong doanh trại Vương mộng Hồng, TTHL Quang Trung. Khuôn mặt Trí y hệt như ngày xưa, nho nhỏ hiền hoà, trên mộ bia còn đọc rõ được những dòng chữ ghi tên họ, cấp bậc, đơn vị, ngày và nơi tử trận. Trước mộ phần của Trí, hắn đứng như chết rũ, hắn thấy mình đang trên đường hành quân cùng đồng đội, những địa danh, căn cứ Bình Minh, căn cứ An Đô, Hà Nha, Đại Lộc, Thường Đức…lũ lượt trôi về trong trí nhớ, những khuôn mặt thân thương của anh em từng một thời sinh tử có nhau lần lượt hiện về trong tâm khảm, buồn quá, anh em giờ đây tan tác về đâu, làm sao cho hắn gặp lại được những đồng đội thân thương ấy. Hắn hình dung ra thân xác của Trí đang ngủ yên dưới tấc đất sâu ngay trước mặt hắn, tội nghiệp Trí, chỉ còn có một nửa hình hài nằm trong chiếc quan tài bọc kẽm mà thôi. Không biết cô bạn gái học cùng lớp của Trí năm xưa có một lần nào ghé đến nơi đây để thắp cho Trí một nén hương lòng, nhỏ những giọt nước mắt thương yêu để cuốn trôi những kỷ niệm cho tan vào lòng đất. Lỗi tại hắn, lòng hắn bỗng quặn đau khi nhớ lại buổi chiều hôm ấy trên làng Hà Nha, giá như hắn đừng chọn Trí ở lại vị trí đóng quân, đừng bảo Trí đứng gác dưới căn hầm oan nghiệt, thì có lẽ giờ đây Trí vẫn còn hiện diện trên cõi đời này, chứ đâu phải nằm lạnh lẽo cô đơn dưới huyệt mộ sâu. Trí ơi, lỗi tại tôi.Hễ có dịp thì hắn lại trở về nghĩa trang quân đội Biên Hoà để thăm lại Nguyễn quang Trí và các đồng đội đã an nghỉ nơi đây.
Mỗi lần đi thăm trở về nhà, hắn lại buồn rầu, lại suy tư ngẫm nghĩ, lại nhớ đến những ngày hành quân gian khổ đã qua, lại thấy thương cho những người lính mũ đỏ hào hùng, can đảm nén chặt nỗi sợ hãi xuống đáy lòng, tay xiết cò súng ào ạt xông lên giữa lúc địch quân từ trong những căn hầm kiên cố bắn ra như mưa…Một lần đó, khi trở lại nghĩa trang quân đội Biên Hoà, hắn không tìm được phần mộ của Nguyễn quang Trí nữa. Hắn hoảng hốt, xục xạo tìm kiếm cả một ngày trời mà vẫn hoài công, hắn nhớ rất rõ khu vực an nghỉ của Trí mà, nhất định không thể lẫn lộn được. Có thể người thân của Nguyễn quang Trí đã lên đây bốc mộ cho Trí rồi, từ nay thôi không còn nhìn thấy tấm hình của Trí trên mộ bia nữa. Trí đã chia tay với các đồng đội đang an nghỉ nơi đây để tới một chốn riêng tư, ấm êm trong hương khói gia đình. Sau này hắn trở lại nghĩa trang vài lần nữa, thử tìm lại ngôi mộ của Trí nhưng vô vọng, không biết giờ đây thân xác của Trí trôi giạt về đâu.Dù rằng trên chiến trường có ngàn điều không may mắn có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho một người lính chiến, nhưng sao mỗi khi nhớ về trận Thường Đức, hắn lại cảm thấy áy náy trong lòng. Đôi mắt của Nguyễn quang Trí, người đồng đội năm xưa, đã nhìn hắn với ánh mắt tin tưởng hết mực, rồi xách dây đạn và khẩu súng M16 nhảy xuống căn hầm định mệnh. Trận Thường Đức và Nguyễn quang Trí đã trôi qua được 34 năm dài, mà sao tiếng súng vẫn mãi âm vang cho đến tận ngày hôm nay.
Vũ Đình Hải.03-15-2008

Saturday, April 10, 2010

CHUYỆN THÁNG TƯ:
NGUYỄN THỊ NGỌC DI 33 NĂM TÌM ÐƯỢC XÁC CHỒNG
Giao chỉ - San Jose, Apr 09, 2010

Cali Today News - Câu chuyện tình bi thảm của 1 thời chinh chiến – Giáo sư Bùi văn Phú bên Oakland nói rằng học sinh Nguyễn Bá Tòng 70 ai cũng biết hoa khôi Ngọc Di
– Thầy Mạc Ðìa ỏ San Jose nói rằng anh em không quân ai cũng biết phi công Nguyễn văn Lộc – Ngọc Di quê Nha Trang vào học tại Saigon
– Trung úy Lộc quê Ðà Lạt về Nha Trang đi lính tàu bay – Ghé chơi nhà bạn chợt thấy tấm hình cô gái có đôi mắt “U uẩn chiều luân lạc” đâu biết rằng anh sẽ mệt vì đôi mắt người Nha Trang – Niên khóa 71-72 Trung úy Lộc đi Hoa Kỳ học lái phản lực.
– Năm 71-72 cô nữ sinh Nguyễn Bá Tòng tốt nghiệp tú tài toàn phần và ghi danh trường luật.Ðám cưới ở Nha Trang ngày 6 tháng 2/1974.
– Một năm sau căn cứ không quân Phan Rang di tản. – Chồng đưa vợ có bầu lên máy bay chạy vào Saigon.
– Trung úy phi công ở lại lo phi vụ hành quân.– Chia tay nhưng hẹn gặp lại tại Saigon.
– Rồi vợ chồng tái ngộ trong niềm hạnh phúc.– Lại chia tay thêm lần nữa ngày 28 tháng 4/1975.
–Ngọc Di có bầu 6 tháng lên máy bay đi Mỹ.
– Người phi công phản lực ở lại với những phi vụ cuối cùng.
– Chia tay nhưng vẫn hẹn găp lại, nhưng lần này là vĩnh biệt.– Người mẹ trẻ sinh con gái trong tỵ nạn ngày 18 tháng 7/1975.
–Vợ vẫn không biết tin chồng, con không thấy mặt cha.
–Anh phi công của Việt Nam Cộng Hòa nằm trong trại tù Long Giao tính được gần đúng ngày vợ sinh.
–Ngày đêm anh sống với đôi mắt người tình Nha Trang.
–Việt cộng hẹn 6 tháng học tập rồi sẽ trả tự do.
–Sáu tháng trôi qua chưa được thả, anh âm mưu vượt ngục.
–Bị bắn chết ngày 25 tháng 3/1976.
–Chôn cùng người bạn phi công trốn trại.
–Vợ con bên Hoa Kỳ hoàn toàn không có tin tức.
–10 năm sau, những người bạn tù qua được Hoa Kỳ lần lượt kể chuyện về chuyến vượt thoát bất thành.
–Nhưng không ai biết xác chồng của Ngọc Di ở nơi nào.
–Ba mươi ba năm sau, những bạn tù không quân mới tìm lại được xác chiến hữu.
–Người quả phụ không quân đem con gái 33 tuổi về nhận di hài của phi công Nguyễn văn Lộc.
–Trên chuyến bay hãng EVA đáp xuống phi trường LA ngày 3 tháng 11/2008 cô Ngọc Di ôm bình tro cốt của chồng. –Con gái cô ôm thêm bình tro cốt của người chiến hữu cùng chết bên cạnh anh.– Năm nay 2010 là ba mươi lăm năm nhìn lại con đường.
–Tôi xin kể lại ngọn ngành 35 năm cuộc đời của người góa phụ không quân anh dũng muôn đời.******************

Một thời chinh chiến:
Mỗi người trong chúng ta đều có riêng cho mình những kỷ niệm về tháng 4 năm 1975. Chuyện của cô Nguyễn Thị Ngọc Di thường được kể thêm vài hàng bên cạnh câu chuyện của người chồng anh hùng trốn trại và đã hy sinh.

 Nhưng tôi lưu ý riêng đến hoàn cảnh người vợ nên đã nghe cô Ngọc Di kể lại tâm sự cuộc tình. Cô nói rằng, dù đã đem được di hài anh Lộc về nhưng tâm tình u uẩn chưa nguôi. Con gái của cháu tương đối ổn định, nhưng phần cháu, cuộc chiến vẫn chưa yên. Từ lúc 10 tuổi, hình ảnh mẹ cháu đi nhận xác chồng với di hài và vết máu trên áo trận của ba cháu vẫn theo đuổi cháu trong nhiều năm.

 Ðến thời gian cháu ở Phan Rang có mấy tháng đã chứng kiến cảnh cô vợ trẻ miền Tây, đẹp não nùng đi nhận xác anh không quân tử trận. Phi cơ bị rơi vẫn còn mang bom. Phi công không kịp nhảy dù. Bom mang theo nổ cùng con tàu.

 Xác chẳng còn gì. Căn cứ lấy 2 cây chuối cho vào quan tài, thêm 1 ít da thịt rồi đóng hòm thực kín. Khi cô vợ ra nhận xác chồng, vật vã xin mở ra nhìn mặt, nhưng còn thấy làm sao được. Cháu chứng kiến mà thấy tê dại cả người. Anh Lộc dìu cháu vào nhà ở khu sĩ quan độc thân. Anh nói rằng, anh cam đoan sẽ không bao giờ bị như thế. Như vậy là làm sao. Phải chăng lời tiên tri cho cả cuộc đời sau này. Lấy nhau từ tháng 2/74, chẳng bao giờ được gần nhau 1 tháng. Anh đi bay khắp mọi nơi.

Ðầu năm 75, cháu có bầu mới ra sống ở căn cứ Phan Rang. Vì không có nhà bên cư xá gia binh, phải tạm trú ở khu độc thân. Chứng kiến toàn chuyện hy sinh chết chóc. Cháu mới 19 tuổi, bác nghĩ coi làm sao mà sống được.

Mới năm trước từ thời học sinh vô tư qua thời sinh viên hết sức thần tiên. Chợt bước chân vào đời vợ lính, lo lắng sợ hãi biết chừng nào.Một thời để yêu:Chờ cô Ngọc Di bớt cơn xúc động, tôi xin cô kể lại chuyện tình bắt đầu ra sao. Cô bình tĩnh và kể hết, không hề dấu diếm kề cả chuyện bay bướm và ngang tàng của anh Lộc.Bác biết không, trước khi gặp cháu, anh Lộc đã quen với cô giáo Hương bên Ba Làng cũng tại Nha Trang.

Bạn bè đã có người gọi anh là Lộc Ba Làng. Chuyện này về sau cháu mới biết. Ông anh họ không quân của cháu cũng không biết mới dẫn Lộc về nhà coi mắt chị cháu ở Nha Trang. Nhà cháu có đến 9 anh chị em. Nhưng coi bộ anh Lộc với chị Như Khuê của cô không hợp duyên, nên chỉ chuyện trò qua loa. Chợt anh Lộc thấy hình của Ngọc Di còn đang trọ học Saigon. Anh nói là đã mê đôi mắt từ lúc đó.Qua niên khóa 71-72 Trung úy Lộc đi học bay tại Hoa Ky. Ngọc Di bắt đầu nhận được thư làm quen. Bạn bè của anh ở Mỹ nói rằng mỗi tuần anh đều nhận được thư của 2 cô. Cô giáo bên Ba Làng và cô nữ sinh Nguyễn Bá Tòng.

Nhưng xem chừng đôi mắt người Nha Trang đã lấy trọn vẹn tình yêu của anh chàng không quân gốc Ðà Lạt. Dù rằng về phần Ngọc Di vẫn chưa thực sự rung động với tình yêu chiến sĩ.Hồi hương được 3 ngày, Trung úy Lộc bèn vào trường Nguyễn Bá Tòng lừa cha giám học nhận là anh vào thăm cô em cùng họ Nguyễn. Ðây là đầu tiên 2 người gặp mặt. Từ trước chỉ biết qua hình ảnh. Anh chị có 2 tuần lễ đi chơi khắp Saigon, bao nhiêu là quà bên Mỹ, anh phi công hào hoa dành hết cho cô hoa khôi trường trung học..

Giáo sư Bùi Văn Phú thời đó học Nguyễn Bá Tòng cùng lớp với Ngọc Di kể lại rằng hình ảnh anh không quân xuất hiện đã làm cho biết bao nam sinh đau lòng.Một hôm anh Lộc dẫn cô Di về nhà bà chị tại Saigon, chợt gặp cô giáo Ba Làng ra thăm.Cuộc gặp gỡ bất chợt như trong thoại kịch trên sân khấu. Người yêu cũ chợt thấy bị phản bội, người yêu mới chợt thấy bị lừa dối. Anh không quân đưa Ngọc Di về nhà, nhưng cô cho rằng cuộc tình ngắn ngủi coi như chấm dứt. Cô cũng chưa yêu nên không thấy thực sự bẽ bàng. Sẵn sàng để anh Lộc trở về với người xưa của anh.

 Nhưng anh không quân đã trở thành Phạm Thái của Tiêu Sơn Tráng sĩ nhất định chết trong cặp mắt của giai nhân Trương Quỳnh Như.Ngày hôm sau, trung úy phản lực trở lại nói là đã giải quyết xong mục tiêu. Cô gái Ba Làng buồn tủi trở về Nha Trang và anh Lộc quyết 1 lòng đi tới với Ngọc Di.Cuộc tình duyên trải qua suốt năm tháng dài cho đến ngày đám cưới ở Nha Trang 6 tháng 2-1974.

Một thời hoạn nạn:Khi đôi trẻ bắt đầu xây dựng gia đình qua lễ cưới là lúc đất nước bước vào năm tang tóc cuối cùng. Ngọc Di nhắc đi nhắc lại là cháu đâu có được làm vợ lính cho trọn vẹn một đời.

Tuy hòa bình đã ký nhưng 2 bên vẫn còn chiến tranh dành dân lấn đất. Cô sinh viên vẫn lấy bài học luật đi về giữa Saigon Nha Trang và người chồng bất chợt lúc gặp ở Nha Trang, lúc thì Saigon. Mấy tháng cuối cùng sống chung ở căn cứ Phan Rang ngày đêm nghe tiếng phi cơ phản lực và những giây phút ngóng đợi chồng về.Rồi khi tình thế nguy ngập, anh chồng đẩy cô vợ mang bầu lên C.130 với toàn những người xa lạ.

Phi cơ cất cánh, nhìn anh còn đứng trên phi trường Phan Rang, nào biết bao giờ gặp lại nhau. Nhưng rồi anh đem phản lực về Saigon yểm trợ cho mặt trận Long Khánh.Có tin vợ con phi công chiến đấu vào hết Tân Sơn Nhứt để chờ di tản.

Ðêm định mệnh cuối cùng Ngọc Di vẫn còn ở nhà với mẹ và thân quyến tại Saigon. Các ông anh cũng có chương trình di tản cả nhà.Nửa đêm 28 tháng 4/75 chợt có tiếng xe hồng thật tự chớp đèn bấm còi ấm ỹ. Anh Lộc gõ cửa kêu Ngọc Di khẩn cấp lên đường. Bà mẹ nói rằng hay con ở lại để đi với mẹ và anh em, nhưng Lộc kiên quyết kéo vợ đi ngay. Ánh mắt mẹ già buồn bã trông theo. Nhưng sau này cả nhà đều bị kẹt lại. Lên xe hồng thập tự thấy cảnh tượng hãi hùng, Trung úy Giới ngồi bên vợ là cô sản phụ vừa sinh con, ôm con trong khăn còn vết máu.Thì ra xe bus chở gia đình phi công đã nổ máy chờ trong căn cứ, ông trung úy Giới lấy xe cứu thương của không quân chạy ra nhà thương rước vợ. Anh Lộc nhẩy theo, sau khi đón được vợ con mày, phải ghé nhà cho vợ tao đi.

 OK.Xe Hồng thập tự bóp còi chớp đèn chạy như bay trong đêm Saigon. Các gia đình trên xe bus đang nổ máy chờ, thấy 1 bà mới sinh con và 1 bà bầu mặt còn trẻ thơ bước lên xe. Hai ông chồng vất vả đứng trông theo. Ngọc Di nhìn lại anh Lộc qua khung kính. Anh phi công hẹn sẽ gặp lại bên Mỹ. Vợ con đi rồi, còn mấy anh lái phản lực thì xoay sở dễ dàng, Ngọc Di không thể nghĩ rằng đấy là hình ảnh cuối cùng. Ðó là ngày 28 tháng 4-1975. Cô đi C.130 qua Côn Son rồi sau đó di tản qua đảo Guam.

Hết sức cô đơn, không gia đình, không bà con thân thuộc. Ngay cả gia đình bạn bè trong không quân cô cũng không quen ai. Cô sống 1 cuộc đời tiểu thư từ nhỏ, số mệnh đột nhiên ném vào cuộc đời. Cô bắt dầu cuộc sống trong chờ đợi, đen tối mịt mùng, hoàn toàn tự lập suốt một phần tư thế kỹ.Một thời định cư:Vẫn tràn đầy hy vọng, cô nằm chờ ở đảo Guam. Các phi công lần lượt đến tìm vợ con và đoàn tụ bay vào lục địa. Anh chị Giới của chuyến xe Hồng thập tự định mệnh cũng đến rồi đi, không có tin gì về anh Lộc và không ai biết là Lộc mất tích, đã chết hay còn lạc loài nơi đâu. Rồi người ta không cho bà bầu ở lại đảo Guam. Cô phải đi vào Mỹ để còn lo sinh đẻ.Ngọc Di lên đường mắt còn ngó lại biển Ðông. Các trại tỵ nạn Cali và Akansas đã tràn ngập người di tản. Người ta đưa cô về Floria. Nơi đây ngày xưa anh Lộc đã từng đến học bay.Mỗi ngày vẫn còn người đến trại, dù muộn nhưng vẫn còn tìm được hạnh phúc đoàn tụ bên nhau. Nhưng cô vẫn mòn mỏi đợi chờ. Ngày 18 tháng 7/1975 Ngọc Di hạ sanh 1 bé gái. Nỗi truân chuyên và sống trong ray rứt đợi chờ đã hành hạ thêm cô gái trẻ với 16 giờ đồng hồ đau đớn chuyển dạ. Trước sau vẫn chỉ có một mình. Anh Lộc một năm trước đã đặt tên cho con trai tương lai là Phi Hải.

Nhưng cô con gái được mẹ đặt tên là Nguyễn Lộc Ðan Vi. Nguyễn là họ của cha và mẹ, Lộc là tên cha. Ðan Vi là ý kiến của cô học sinh Nguyễn bá Tòng khi nghĩ đến những cây hoa tường vi đan vào nhau ở cổng nhà chồng trên Ðà lạt.Sau khi sanh con, mẹ con cô tỵ nạn Việt Nam được ông bà bảo trợ đón về nông trại. Ngôn ngữ không quen, suốt vùng quê không có 1 người Việt Nam. Những năm đầu vừa buồn về cảnh ngộ vừa buồn vì cảnh vật. Ngọc Di ôm con sống bằng nước mắt. Duy chỉ có điều, bé gái với cặp mắt thần tiên của mẹ là nguồn an ủi cuối cùng. Một thời để chết.Cùng lúc đó trong trại tù, anh phi công thấy rằng không còn hy vọng được trả tự do. Thời gian ngộ nhận 15 ngày đã qua từ lâu. Thời gian hứa hẹn học tập 6 tháng cũng qua rồi. Cặp mắt người yêu Ngọc Di thôi thúc ngày đêm, anh phi công ngang tàng 1 thuở nhất định trốn trại, tìm tự do. Hai anh phi công Nguyễn văn Lộc và Lê văn Bé cùng vượt trại. Hy vọng tìm đường qua biên giới Cam Bốt rồi Thái Lan. Giữa 1 đêm mưa gió, cả 2 vượt thoát còn đem theo cả lựu đạn phòng thân.Lính cộng sản đuổi theo. Lộc chạy trước. Bé ném lựu đạn chận hậu nhưng bị thương ngã xuống. Lộc bèn quay lại, đánh lựu đạn cứu bạn. Ðược biết lính cộng sản cũng bị chết vì lựu đạn.

Vì vậy sau khi 2 anh phi công đã gục ngã chúng còn bắn điên cuồng vào 2 xác chết.Hai anh chết ngày 25 tháng 3-1976. Cộng sản cho kéo xác để giữa sân trại Long Giao để rằn mặt anh em rồi đem chôn xấp 2 ngôi mộ bên nhau, nhưng không có mộ bia.

 Các bạn tù tìm cách làm dấu nhưng không rõ ràng. Vài năm sau, không còn ai biết rõ di hài của 2 người anh hùng không quân nằm ở đâu.Một thời định cư:Mẹ con Ngọc Di rời bỏ nông trại tìm đường về ở với bà con trên Nữu Ước. Cô nữ sinh hoa khôi Nguyễn bá Tòng, sinh viên luật Saigon tiếp tục cuộc sống lủi thủi với đứa con ngày càng rực rỡ với dấu vết người cha Ðà Lạt và đôi mắt bà mẹ Nha Trang

Mấy năm sau, anh em và gia đình không quân họp mặt nên mẹ con cô Di có dịp về Cali găp gỡ mọi người. Sau cùng cô định cư tại quận Cam. Phải bắt đầu từ thập niên 80 trở đi mới có tin tức về cuộc trốn trại hào hùng và chuyện hy sinh của anh Lộc. Mẹ con bắt đầu nghĩ đến chuyện đi tìm dấu vết của người xưa. Tuy nhiên tất cả đều vô vọng. Không ai còn nhớ những ngôi mộ ở đâu, Cuộc sống vẫn bình thản diễn tiến. Anh chị em đoàn tụ. Me già gặp lại con gái. Cháu Ðan Vi tốt nghiệp bác sĩ nhãn khoa rồi lập gia đình. Vợ vẫn không thấy xác chồng. Con vẫn chưa thấy xác cha.Một lần, hết sức vô tình, Ngọc Di gặp người trong gia đình HO. Anh ở Bắc Cali nói rằng trước có ở Long Giao. Cô Di hỏi rằng anh có biết trung úy Lộc không. Anh HO nói ngay rằng cô có phải là Ngọc Di không. Ngạc nhiên đến xững xờ, cô nói tôi là Nguyễn thị Ngọc Di, sao anh biết. Anh bạn trả lời: « Tôi ở gần anh Lộc trong trại. Anh ấy nói về đôi mắt của cô suốt ngày. Khi cô mới bước vào nhà tôi đã cảm thấy. Khi cô hỏi anh Lộc, tôi biết ngay cô là vợ anh. »Và câu chuyện 20 năm xưa tuôn chảy, nhưng sau cùng cũng không biết mộ anh ở đâu.

Một thời ngoại cảm:Câu chuyện đi tìm mộ của anh Lộc đã trải qua 1 thời gian hết sức đặc biệt dựa trên các câu chuyện linh thiêng về lãnh vực ngoại cảm. Sau cùng, người bạn tù, người chiến hữu tận tụy của anh Lộc đã tìm được 2 ngôi mộ của những người phi công trốn trại năm 1976.Các ngôi mộ được khai quật năm 2008 có cả sự tiếp sức của thầy Mặc Ðìa ngồi tại San Jose mà chỉ dẫn qua điện thoại. Mặc Ðìa ngày xưa cũng là sĩ quan của không lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau cùng cô Ngọc Di đưa con gái là Nguyễn Lộc Ðan Vi về nhận xác người thân.Ngày 3 tháng 11-2008 mẹ con ngồi trên phi cơ Eva ôm mỗi người một bình tro về Hoa Kỳ. Mẹ ôm tro của chồng, con ôm bình tro chiến hữu. Gia đình anh phi công Lê văn Bé nói rằng chiến hữu đã chết bên nhau thì cho đi Mỹ với nhau. Tuy nhiên bình tro của anh Bé chỉ có 1 nửa. Phân nửa gia đình lưu lại quê hương.

Ngày 8 tháng 11-2008 không quân Nam Cali làm lễ truy điệu cho 2 người anh hùng của họ. Có lễ trao cờ lại cho cô Ngọc Di cùng con gái.Ngọc Di làm vợ lính có hơn 1 năm và làm quả phụ 33 năm mới nhận được xác chồng bằng tro tàn. Bác sĩ Ðan Vi không bao giờ thấy được người cha dù ở trên trời hay ở dưới đất.Khi khai giấy tờ người ta hỏi rằng con đến Mỹ năm nào. Con khai là đi năm 1975. Con đi bằng phương tiện gì. Con nói là con đi trong bụng mẹ. Cha con bây giờ ở đâu. Con không biết. Có thể còn đang bay ở trên trời. Con không có cha làm sao ai nuôi con học thành bác sĩ. Trả lời: Mẹ con.Ðan Vi là loài hoa tường vi đan vào nhau mọc ngoài cổng nhà anh phi công Nguyễn Văn Lộc.Tuổi của cô là tuổi của cộng đồng. Cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại năm nay 35 tuổi, cũng là tuổi của Ðan Vi, một cô gái khác ngày xưa sinh ra trên tàu Trường Xuân, trên biển Nam Hải, tên cô là Chiêu Anh, cũng 35 tuổi.

Chiều văn nghệ 35 năm nhìn lại tại San Jose vào ngày 23 tháng 5/2010 chúng tôi sẽ mời cả 2 cô lên sân khấu CPA. Một cô đi tàu biển vào Mỹ. Một cô đi tàu bay vào Mỹ. Lúc ra đi cả 2 đều trong bụng mẹ.Cả 2 cô đều không phải là ca sĩ, nhưng vẫn được mời lên sân khấu trình diễn. Hai cô đều không biết hát, chỉ đứng đó cho khán giả vỗ tay. Bởi vì cuộc đời của các cô chính là những bài ca của nửa thế kỷ trầm luân. Ðó là những hài nhi của cộng đồng di tản, những công dân của thế hệ mới trưởng thành sau những đau thương của đất nước.Các bạn hỏi rằng văn nghệ của chúng tôi sẽ có những danh ca nào trình diễn. Chúng tôi có các nữ danh ca có tên có tuổi nhưng không biết hát.Vậy ai là những người biết hát thì xin đến giúp một tay.
Và trời đất sẽ trả công cho quý vị.
Tất cả chỉ cần hát có 1 bài:
Bài “Cô Gái Việt” của Nhạc sĩ Hùng Lân.
Giao chỉ, San Jose
t

Sunday, April 4, 2010

Đến Một Lúc
Đến một lúc, chúng ta bỗng thông hiểu tất cả mọi quy luật của đất trời rằng không có gì là trường tồn bất biến, ngược lại chính nhờ sự biến đổi ấy mà chúng ta có những điều mới mẻ tinh khôi.Đến một lúc, mọi giông tố mịt mùng không che nổi sự bừng sáng của con tim và mọi khổ đau buồn tủi không đánh gục được niềm lạc quan tiềm ẩn trong một tinh thần.Chúng ta sống quá lâu trong thành kiến và định kiến hẹp hòi cùng với lòng kiêu mạn đứng chen chân trong một ngôi nhà bản ngã.
Đến một lúc, chúng ta cần phải bước ra khỏi cửa để được ngắm nhìn toàn bộ sự mênh mông và bát ngát của đất trời.Đến một lúc, chúng ta cảm nhận được niềm vui khi tấm lòng rộng mở và trái tim thắp sáng lên niềm tin yêu cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta nhìn lại và cười nhạo vào những trò hề do chính mình tạo ra và chúng ta trở nên lặng lẽ để thấy rõ sự cần thiết của tĩnh tại tâm hồn.Chúng ta chợt nhận thấy quy luật sâu xa của cuộc sống hạnh phúc không chỉ là đón nhận mà còn phải là sự cho đi.

Đến một lúc, cảm thấy ngập tràn hạnh phúc không phải vì chúng ta vớt lên được cái gì đó từ dòng nước mà chính là quăng bỏ bớt cho dòng nước cuốn trôi.Đến một lúc, chúng ta hiểu được sự thật của niềm vui không phải là ở đỉnh vinh quang hay ngọn núi ngập hoa vàng mà chính là từng bước chân thảnh thơi và được ngắm hoa cỏ dại trên đường.
Chúng ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính là sự mãn nguyện trong từng phút giây hiện tại.Khi đã trải qua bao nhiêu buồn vui thương ghét, bao hi vọng chán chường, bao thành công thất bại, đến một lúc chúng ta chợt nhận thấy rằng tất cả mọi sự đời đến và đi, có rồi không dường như chỉ là một tuồng ảo hóa.Chúng ta cảm thấy mọi lý luận, ngôn từ đều thừa thãi, thay vào đó chỉ cần một nụ cười, một ánh mắt hoặc một tình thương nồng ấm dẫu chỉ là của người khách qua đường cũng đủ làm cho ta ấm lòng và tươi vui hơn trong cuộc sống

.Đến một lúc, chúng ta thấy tuổi trẻ của mình chỉ toàn là ước mơ cùng với nỗ lực vào tương lai hun hút, và đến lúc già đi thì luôn hồi ức tiếc thương một dĩ vãng đã xa rồi. Trong một đời người ngắn ngủi chúng ta đã đánh lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.Đến một lúc, chúng ta hiểu ra rằng duy chỉ có tình thương, chứ không phải có bất cứ thứ gì khác giúp con người thiết lập được trật tự mới và hòa bình cho nhân loại..Mọi dòng sông đều chảy ra biển cả, mọi con đường chân lý đều hướng về nẻo đạo vô biên và mọi yêu thương chung cuộc đều đạt đến chân phúc...Đến một lúc, chúng ta cần phải dọn đất trồng hoa trên mảnh vườn của mình không nên mỏi mòn chờ đợi ai đó mang hương sắc đến dâng cho.Tất cả mọi hành động của ta chỉ là những đợt sóng lăn tăn trên mặt biển nhưng trong lòng đại dương sâu thẳm vẫn còn đó sự lặng lẽ bình yên.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy những việc làm thường nhật phải là niềm vui cho sự sống hàng ngày chứ không phải là sự bắt buộc hay là một quán tính khô khan, máy móc của đời mình.Hiểu ra rằng bản ngã ích kỷ thường khiến mình nhìn thấy lỗi lầm, sự xấu xa của người khác hơn là chính bản thân mình. Chúng ta thường che đậy và bảo vệ mình khỏi tổn thương nhưng vô tình điều ấy là tự ôm chất độc và giết chết bản thân mình.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung là món quà tặng vô giá và cần thiết mà con người có thể trao tặng cho nhau không bao giờ cạn.Khi chúng ta thấy mình tham vọng quá lớn trong khi đời người thật ngắn ngủi, đó là lúc mình hiểu ra hành trang cho lộ trình vạn dặm không phải là những gì có thể nắm bắt bên ngoài mà đó là yếu tố tâm linh bất diệt bên trong.Đến một lúc, chúng ta hiểu con đường tâm linh thì tuyệt đối đơn độc, không ai có thể đi theo dẫu đó là người thân yêu nhất.
Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta định lượng được giá trị chân thật của một kiếp người.Chúng ta hiểu rằng cần phải thánh hóa đời sống hơn là chạy đi tìm thiên đường ở chốn xa xăm.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy không sợ hãi địa ngục hoặc một thế lực tối cao, nhưng bằng trí tuệ tuyệt vời, chúng ta thấy rằng vạn pháp vốn là không và số phận tùy thuộc vào khả năng giác ngộ của chính mình.Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản trước những mất mát, đau thương vì lòng nước thanh lương có thể cuốn trôi đi bao hệ lụy và có thể đưa chúng ta bến bờ rạng rỡ của ngày mai..

trở về đầu trang
TÂM THẾ NÀO THÌ NHÌN RA THẾ ĐÓ
Mới đọc bài luận thiên dưới đây:
Thơ Tản Đà

Suối tuôn róc rách ngang đèo
Gió thu bay lá, bóng chiều về Tây.
Chung quanh những đá cùng cây,
Biết người tri kỷ đâu đây mà tìm ?
Hỏi thăm những cá cùng chim
Chim bay xa bóng, cá chìm mất tăm.
Bây giờ vắng mặt tri âm,
Lấy ai là kẻ đồng tâm với mình ?
Nước non vắng khách hữu tình,
Non xanh nước biếc cho mình nhớ ai ?

Tâm Thế Nào Nhìn Ra Thế Nấy.
Nếu mình để cho những hạt giống không dễ thương, những hạt giống của giận hờn, ganh tỵ, ích kỷ, hơn thua… có cơ hội phát sinh thì mình nhìn đâu cũng thấy “phân bò” hết. Ngược lại, nếu mình biết nuôi dưỡng và phát triển những hạt giống từ, bi, hỷ, xả, những hạt giống thương yêu, cảm thông, tha thứ… thì mình nhìn ai cũng thấy dễ thương, nhìn đâu cũng thấy Tịnh độ, thấy Phật.

Một hôm, Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn chơi với Thiền sư Phật Ấn cả ngày. Hai người đối nhau luận Thiền, Đông Pha hỏi Phật Ấn: - Ngài thấy tôi thế nào? Phật Ấn đáp: - Rất trang nghiêm, giống một ông Phật! Tô Đông Pha nghe nói vô cùng phấn chấn. Phật Ấn lại hỏi Tô Đông Pha: - Ông thấy ta ra sao? Đông Pha thấy Phật Ấn mập tròn, lại mặc áo đen, bèn đáp ngay: - Giống một đống phân bò! Phật Ấn không nói gì. Đông Pha cho rằng mình đã thắng một keo, lòng rất sung sướng, về nhà hớn hở nói với Tô tiểu muội:

- Này muội muội, hồi nào tới giờ anh bị Ấn lão cho đo ván mãi, đấu không lại ông ta. Không biết hôm nay Hòa thượng trở cờ hay học sĩ này gặp may mà Ấn lão không còn lời để nói, không có lý để trình đấy. Nói rồi bèn thuật lại chuyện luận chiến vừa qua. Tô tiểu muội thiên tư hơn người, tài hoa xuất chúng, nghe ca ca kể xong câu chuyện, liền nói: - Xì, anh thua đậm rồi! Đông Pha tức quá mắng : - Ta làm sao lại thua? Nếu ta thua sao ông ấy không nói một lời nào? Tô tiểu muội nói: - Này ca ca, tôi xin hỏi anh, Phật quý hay phân bò quý? Đông Pha nói: - Đương nhiên là Phật quý rồi!

Tô tiểu muội nói: - Phật là Ấn lão thấy, còn phân bò là anh thấy, thế có phải là anh bị đánh úp không? Ấn lão đắc thắng hoàn toàn, còn gì để nói nữa! Đông Pha nghe tiểu muội nói thế, như bong bóng xì hơi, biết rằng bị rơi vào tròng của Phật Ấn, thua một keo nặng.
BÀI HỌC ĐẠO LÝ:
Trong tâm thức của con người chứa đựng rất nhiều hạt giống. Có những hạt giống dễ thương nhưng cũng có rất nhiều hạt giống không dễ thương; có những hạt giống làm Phật nhưng cũng có rất nhiều hạt giống làm chúng sanh. Nếu mình để cho những hạt giống không dễ thương, những hạt giống của giận hờn, ganh tỵ, ích kỷ, hơn thua… có cơ hội phát sinh thì mình nhìn đâu cũng thấy “phân bò” hết. Ngược lại, nếu mình biết nuôi dưỡng và phát triển những hạt giống từ, bi, hỷ, xả, những hạt giống thương yêu, cảm thông, tha thứ… thì mình nhìn ai cũng thấy dễ thương, nhìn đâu cũng thấy Tịnh độ, thấy Phật. Cho nên, “tâm thế nào thì nhìn ra thế ấy”, “Thương người thương cả lối đi, ghét người ghét cả tông chi họ hàng”. Đó, cũng cái tâm ấy, khi có tình thương thì ngay cả lối đi mình cũng thấy đẹp, thấy thương, nói chi nhìn thấy người ta cười! Vậy mà khi không thương nữa, lúc đã ghét rồi, thì đâu chỉ người ấy đáng ghét, cả bà con của người ta cũng trở thành người xấu.

Vì vậy, người học Phật phải biết nuôi dưỡng, làm lớn mạnh tình thương và sự hiểu biết trong tâm mình. Khi tâm mình có năng lượng từ bi và trí tuệ, nó sẽ làm tươi mát đời sống của tự thân và đem đến cho mọi người xung quanh niềm an lạc, hạnh phúc. Khi ấy nhìn đâu mình cũng có thể thấy hoa, dù khi hoa đang là rác. Học Phật, luận Thiền không phải để tranh cao thấp, hơn thua, mà để chuyển hóa nội tâm. Khi tiếp xúc với mọi người, nguyện tiếp xúc và khơi dậy những hạt giống thương yêu, hiểu biết, từ bi hỷ xả. Đó là mình đang nuôi dưỡng nhau, để xây dựng một cuộc sống an lành, hạnh phúc. Nhìn vào cái xấu của nhau, thì chẳng có ích lợi gì, mà còn thêm mệt. Rõ ràng khi mình phê bình ai, giận hờn ai, sẽ thấy mệt vô cùng. Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn nếu mình biết nhận thức theo chiều hướng tích cực, mọi người sẽ dễ thương hơn nếu mình biết khơi dậy và nuôi dưỡng hạt giống thương yêu, hiểu biết. “Tâm tịnh là cõi Phật”, đó là bí quyết để xây dựng Tịnh độ




Đại Tá Nhảy Dù LƯƠNG XUÂN VIỆT
Lu doan truong Lu Doan 3 Tac chien/ Su Doan 101 Du -HKy


Lời phát biểu cuả một hậu duệ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,

Đại Tá Nhảy Dù LƯƠNG XUÂN VIỆT
Lu doan truong Lu Doan 3 Tac chien/ Su Doan 101 Du -HKy
http://www.dvidshub.net/?script=video/video_show.php&id=81520