Friday, September 4, 2009

Hai bờ đại dương

Hương Cao

Em tôi quyết định đưa con về thăm Việt Nam . Đưa hai mẹ con lên phi trường , nhìn cháu nay đã là một thiếu nữ cao lớn, xinh xắn, có học vấn , có việc làm, lại thương mẹ rất mực tôi thấy thật vui .

Khi trở lại, đón hai mẹ con về nhà , em tôi huyên thuyên kể chuyện bạn bè , chuyện Việt nam .

Tôi thì chỉ thắc mắc một điều : em tôi có được coi cuộn băng Asia bước chân Việt nam bên đó không ? Ngày đưa hai mẹ con em ra phi trường, trong khi chờ đợi giờ đi , tôi có mở cuộn băng này cho hai mẹ con xem . Em tôi đi được một ngày thì tôi đọc tin công an Việt nam đang lùng sục bộ băng này . Em tôi nói ở Việt nam không thấy bộ băng này, không nghe nói đến bộ băng này . Tôi cười cười nửa thật nửa giỡn : Mi ở nhà Việt cộng làm sao biết được bộ băng này đang là một quân đoàn tự do dân chủ tràn về cởi trói quê hương. Tôi vốn tôn trọng tự do của bản thân tôi vì vậy luôn tôn trọng tự do của mọi người . Nói xong tôi cảm thấy ân hận vì đã xâm phạm tự do của em tôi . Không ngờ em tôi tự nhiên vỡ oà. Những điều tưởng chừng sẽ được em dấu kín trong trái tim nay như tháo nước vỡ bờ .

Em kể lại tỷ mỷ từng câu chuyện , từng đoạn đường em đi trong những ngày ở Việt Nam và em nói sẽ không bao giờ trở về nữa.

Đến Saigon , các bạn em đã chờ đón em vì em có báo tin ngày về. Em lấy hai phòng đôi ở khách sạn để tiện việc bạn bè tâm sự. Ở Saigon được vài ngày em cùng con gái và hai người bạn đi xe lửa về Nha trang . Trên đường đi , chỉ một đoạn ngắn đã có chuyện không vui nhưng em cố tự nhủ : Đây là những đứa bạn thân nhất của mình , cùng nhau mài đũng quần từ lớp 6 đến lớp 12, rồi cùng nhau vào đại học, nếu mình làm vỡ thì còn ai là bạn bây giờ ? Em nuốt hết xuống đáy lòng, vui vẻ lại .

Về Nha trang thật là những ngày thoải mái. Đời em nay chỉ còn đứa con gái này , nó vui thì em vui, nó buồn thì em buồn . Cháu buông bỏ hết những mệt nhọc, những căng thẳng của việc làm để thoải mái vui chơi với sóng biển, với cát trắng , thú vị nhai đầu cá thu kho xổi theo lời quảng cáo của mẹ là tuyệt vời . Khi mua đầu cá , cháu hỏi mẹ bao nhiêu một cái, mẹ nói 40 ngàn, cháu đổi qua tiền Canada liền , rồi tư lự nói :

- Mẹ à, vậy thì vật giá ở đây đâu có rẻ gì , Canada có khi còn rẻ hơn. Mà ăn cá ở đây còn sợ bị độc hại vì ướp phân urê cho có vẻ tươi xanh , vừa ăn , vừa bị khủng bố tinh thần thì có vui sướng gì đâu!!! Cháu nói có vẻ đúng vì nếu 40 ngàn Việt nam đổi ra tiền Canada cở hơn 2 đô Canada . 2 đô Canada cũng có thể mua được một đầu cá coho salmon (Canada không có cá thu, Việt nam không có salmon , ở đâu thì phải ăn thực phẩm xứ ấy, đây chỉ là một so sánh biểu kiến thôi) .

Tưởng cháu lớn lên tại Canada, tâm hồn cháu không bị vướng mắc điều chi cả . Nhìn cháu vui đùa thoả thích em tôi thật sung sướng . Vì hoài niệm về những ngày cũ nên em tôi hay kể cho con nghe những con đường rợp bóng mát , che kín cả tuổi thơ của mình . Dĩ nhiên giọng kể chuyện của em tôi thật trữ tình , thơ mộng nên trong óc của đứa con gái toàn hình ảnh nên thơ của những con đường “đầy lá me bay” .

Về Nha trang việc đầu tiên em tôi dẫn con đi bộ để quay-về-kỷ-niệm . Đi được một lát bỗng cháu hỏi :

- Mẹ ơi sao ngày xưa mẹ có thể đi bộ dưới trời nắng bể đầu như vậy mà nói là thơ mộng ? Em tôi sửng sốt nhìn qua con gái . Thì ra em chỉ lừa dối mình để tự đưa mình về vùng kỷ niệm . Những con đường “đầy lá me bay” ngày xưa đã từng phủ bóng mát cho em suốt đoạn đường từ nhà đến trường , vẫn gắn liền trong trí em bao năm nay , đã trần trụi một cách vô duyên đáng sợ . Con đường nhà tôi dọc lên ngả sáu, nhà thờ đá, rợp bóng me mà mỗi mùa hè, sáng sáng tôi phải quét cái “ thảm hoa me vàng “ theo lệnh mẹ , khi nào tôi cũng ngần ngừ tiếc nuối như mình phá hỏng đi một cái gì đó của thiên nhiên ban phát. Từ ngả sáu nhìn tới , một con đường nữa rợp bóng muồng tây , những buổi trưa hè , chỉ nhìn những tàn cây râm mát là cảm thấy cái nóng không còn dễ sợ nữa , vì chỉ băng qua ngã sáu là bóng mát rợp đầy.

Trên con đường nầy nhìn tới đã có thể thấy đoạn đường từ trường Võ Tánh thẳng ra biển loang loáng nước xanh, ngày xưa cây cao phủ bóng , chạy tới trường tây , không một ánh nắng nào có thể xuyên qua, nay đã không còn nữa . Ôi hàng cây che bóng tuổi thơ của em mà hàng đêm em vẫn tỉ tê với con nay trở thành con đường hoang trống , ánh nắng gay gắt tha hồ đổ xuống đầu khách bộ hành không thương tiếc .

Lại chuyện đứa con gái . Tưởng những ngày hè hè trôi qua êm ả với chút thắc mắc về vật giá, về cá tẩm urê , chút thắc mắc về nắng bể đầu của Nha trang thôi , đâu biết trong đầu óc nhỏ bé của đứa con gái này chứa những điều không thể ngờ để mà có thể chặn cơn bùng nổ của cháu . Bạn em tôi có đứa con gái lớn hơn con gái em tôi vài tuổi .

Chúng nó có vẻ hợp nhau , ngày dắt nhau đi chơi, tối về ngủ chung , nói chuyện tíu ta tíu tít . Có một đêm nghe hai đứa to tiếng , em tôi hoảng hốt vì sợ chuyện con nít mất lòng người lớn , vội chạy vào phòng xem chuyện có gì thì nghe cháu tôi nói :

- Bây giờ chị không được nói từ “Nguỵ” nữa vì em cũng là Nguỵ . Con người bạn nói :- Không, em không phải là Nguỵ , em là Việt kiều .Cháu tôi trả lời liền :

- Vì sao em là Việt kiều ? Vì sao em phải đi để thành Việt kiều ? Vì ông ngoại em là Nguỵ, các cậu của em đều là Nguỵ nên em phải ra đi. Em tôi sửng sờ, chạy lại can ngăn, cháu tôi gạt phăng ra nói tiếp :

- Đáng lẽ ngày nay chính phủ cần tiền của Việt kiều đổ về thì nên thay cách gọi . Những Nguỵ quân Nguỵ quyền ngày xưa, nay đổ tiền về cho họ mà họ còn kêu kiểu đó . Mặt cháu đã đỏ gay, nước mắt lưng tròng :

- Vì ông Hồ mà gia đình em phải ra đi. - Em không được gọi là ông Hồ, em phải gọi là bác Hồ - Tại sao em phải gọi ông Hồ bằng bác ? Em không có bà con họ hàng gì với ông Hồ cả.

- Em gọi ông Hồ là hỗn . - Sao lại hỗn ? Em gọi là ông Hồ chứ em có gọi là “thằng Hồ” đâu mà nói em hỗn ? - Bác Hồ rất vĩ đại , đã dẫn dắt cuộc cách mạng đánh cho Mỹ cút Nguỵ nhào , giải phóng đất nước , toàn dân được độc lập .

- Em không cần biết ông Hồ đã làm gì . Em chỉ thấy gia đình em phải ra đi . Tại sao phải vào xâm lăng miền Nam . Tại sao không ai ở miền ấy tự làm lụng sinh sống ? Miền Nam không ai cần ông Hồ giải phóng cả . Mọi người đang enjoy với cuộc sống yên lành vui vẻ tại sao lại tràn vào , khiến người trong Nam cửa mất nhà tan, bao thanh niên ưu tú bị đẩy vào rừng sâu núi thẳm, chết chóc vô kể , mọi người lầm than , lại trôi dạt khắp nơi mà gọi là gỉai phóng ?

Như gia đình em trước 75 có cuộc sống thật là yên vui . Mẹ em, các cậu , các dì đều được tới trường , đều được bước chân vào đại học . Còn em , ở lại đây thì chắc sẽ không bao giờ được vào đại học vì lý lịch Nguỵ của gia đình em . Nhờ gia đình em ra đi , nay em mới tốt nghiệp đại học , trở về thì thành Việt Kiều . Em không cần biết ông Hồ là ai , em chỉ cần biết gia đình em ly tán vì ông Hồ . Ông Hồ có thể vĩ đại với chị nhưng với em thì không .

Chị có thể mang ơn ông Hồ còn em thì mang ơn thế giới tự do . Chính họ là những người cưu mang em , cho em nơi ăn chốn ở , cho em bước tới trường và vì vậy ngày nay em thành đạt, em phải nhớ ơn . Em ít nghe nhạc Việt Nam thế nhưng hàng ngày em luôn mở bài ca Cám ơn thế giới , để nhắc nhở em lòng biết ơn sâu xa đối với những người không cùng màu da , tiếng nói với em lại có trái tim nhân hậu , mở rộng vòng tay đón em .

Trong khi đó có những người cùng màu da , cùng tiếng nói , cùng lịch sử với em đã xua đuổi chúng em đến con đường cùng, mất nhà mất cửa , phải cất bước ra đi không biết tương lai về đâu . Chị phải thấy miền Nam ngày xưa quá tốt . Họ biết ông ngoại chị tập kết ra Bắc mà vẫn cưu mang mẹ con của mẹ chị , mẹ chị vẫn được tới trường , được bước chân vào đại học , được trao cho công ăn việc làm sau khi tốt nghiệp .

Và chị đã thấy gì ? Hay chị không thấy ? Chúng em bị xét lý lịch ba đời , chìm sâu xuống dưới đáy xã hội . May mà em ra đi , nếu ở lại chắc ngày nay em phải lê la ngoài chợ kiếm sống qua ngày hoặc cầm tập vé số trên tay đi mời mọc từng người mua dùm . Đó là nhờ ơn ông Hồ xét lý lịch ba đời của em .

Em tôi lúc đó tá hoả tam tinh , vội nhào vô dắt đứa con ra ngoài rồi vào nói với bạn là hai mẹ con sẽ ra khách sạn ở vì không muốn có sự gãy đổ giữa hai người bạn . Bạn em tôi vừa khóc vừa năn nỉ em tôi ở lại , nếu em tôi đi cầm bằng như cô ta mất bạn .

Em tôi nhỏ nhẹ nói chuyện với bạn . Cho bạn biết nếp sống của trẻ em ở các nước tự do . Chúng được quyền phát biểu những gì chúng nghĩ . Chúng được nhìn , được học tất cả những gì chúng muốn học , muốn nhìn thấy , chứ không như con nít ở Việt Nam chỉ biết một chiều , như con ngựa bị che hai bên mắt , không thấy trời cao đất rộng là gì .

Và con của bạn là một điển hình của thanh niên tiên tiến Việt Nam , phấn đấu để thành đối tượng đoàn , đối tượng đảng , cứ bịt tai nhắm mắt lại hầu mong được xét vào đoàn , vào đảng . Nói chuyện một hồi, em tôi chịu ở lại nhưng biết những ngày kế tiếp sẽ không còn vui nữa . Em tôi trở ra nói chuyện với con gái . Em tôi hỏi cháu :

- Con rất thương mẹ , chuyện chi cũng nghe lời mẹ . Nay mẹ chỉ còn người bạn này sao con lại xử như vậy ?Cháu tôi nước mắt tuông đầm đìa trả lời :

- Mẹ biết không , ông ngoại là thần tượng của con , con không để ai động đến ông ngoại của con cả .Em tôi nói :

- Có ai nói động đến ông ngoại của con đâu ? “- Có, khi chị ấy nói chữ “Nguỵ" bằng thái độ miệt thị thì con không chịu nỗi, con cảm giác như chị ấy đang chửi ông ngoại con , vì ông ngoại con, các cậu con đều là Nguỵ cả . Em tôi kể đến đây làm tôi liên tưởng đến ngày sau 75, tối nào cũng bắt đi họp tổ dân phố, nhà tôi không ai chịu đi, thế là mẹ tôi đêm nào cũng phải đi tới để…ngủ gục .

Có một đêm đi về, mắt bà sáng ngời , cười ha hả có vẻ vui lắm , to giọng kể cho chúng tôi nghe :

- Đêm nay họ tố khổ Nguỵ này, Nguỵ nọ …Mẹ tôi tức thì bỗng hết ngủ gục , điềm nhiên đưa tay lên xin phát biểu :

- Chồng tôi là Ngụy quyền , các con trai tôi là Nguỵ quân , còn tôi , sống trên đất Nguỵ là Nguỵ dân . Tóm lại gia đình chúng tôi là gia đình Nguỵ .

Mẹ tôi có vẻ thích thú vì tự mình nhận là Nguỵ dân. Tôi nhắc chuyện đó cho em tôi nghe, em tôi nói đó là mạ tiếu lâm , còn đây nó nói xách mé nên cháu giận là phải .

Rồi em kể chuyện ngày cháu mới qua Canada . cô giáo ra một đề tài làm thủ công về đất nước mẹ và đất nước mới đến . Cháu vốn khéo tay , làm một đồ hình rất đẹp , điểm vào đó là hai cây cờ bắt chéo nhau : cờ Canada và cờ vàng ba sọc đỏ . Khi đem lên nộp , cô giáo nhìn lá cờ rồi nhẹ nhàng nói cháu vẽ sai lá cờ rồi . Cháu nói cháu không sai . Cô cắt nghĩa mãi cháu vẫn cứ nói cháu không sai . Thế là cô giáo đi bê một quyển sách tới, giở ra chỉ cho cháu lá cờ Việt nam : cờ đỏ sao vàng .

Cháu trả lời liền rằng cháu ở miền Nam Việt nam , cờ của nước cháu là cờ vàng ba sọc đỏ . Cô giáo bỏ lớp lên văn phòng , một lát sau trở về, ôm chầm lấy cháu nói “ Đúng rồi vì vậy hôm nay mày mới ngồi ở đây “ .

Chuyện xảy ra khi cháu mới 9 tuổi. Ở Việt nam cháu tới trường với lá cờ đỏ sao vàng . Ra đi khi còn quá nhỏ , sao cháu lại biết lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ của đất nước cháu, để nói chuyện rành mạch với cô giáo như thế ? Qua đây chúng tôi đầu tắt mặt tối lo kiếm tiền nuôi con , ít có thì giờ ngồi nói mấy chuyện này với con . Có lẽ ngày ba tôi còn sống , cháu hay quanh quẩn bên ông ngoại, nghe ông ngoại nói chuyện với bạn bè , với cậu , dì , cháu để cả vào tâm , không nói ra nhưng khi có chuyện thì tất cả như dây pháo cứ nổ dồn .

Tuy còn nhỏ nhưng luẩn quẩn trong nhà, nghe mọi người nói chuyện , biết được sau khi ba tôi bị chận lại ở phi trường với tội danh “Đại trí thức miền Nam” (Thật là buồn cười!!!) .

Mấy ngày tiếp sau đó ông bị kêu lên quận thẩm vấn , tra hỏi đủ điều. Ba tôi chán sống nên bỏ ăn uống . Nhà tôi tìm đủ mọi cách để ông ăn . Biết ông chỉ muốn ăn mì hoành thánh nhưng phải chia đôi tô mì cho con tôi một nửa . Con bé phải ăn cho đến ngày đi và cũng từ đó nó không bao giờ ăn mì hoành thánh vì trong mấy năm liền ngày nào cũng phải ăn mì hoành thánh với ba tôi . Cháu tôi lúc đó mới ba tuổi , cháu lớn dần với hình ảnh người chị họ mỗi ngày phải ra ngồi ăn mì hoành thánh với ông ngoại . Có một bữa mẹ tôi cho cháu một miếng cốm , cháu cầm vào chỗ ba tôi , mời ba tôi ăn , ba tôi thấy vui , cùng ăn với cháu . Cháu bắt được ý ông ngoại và có lẽ sợ ông ngoại chết đói nên từ đó ngày nào cháu cũng xin bà ngoại khi thì miếng cốm , khi thì cái bánh , rồi chạy tới chỗ ông ngoại chia cho ông ngoại ăn . Mẹ tôi rất mừng vì ba tôi chịu ăn chút đỉnh với cháu .

Nhưng sức người không thể chỉ ăn ít miếng như vậy mà kéo dài cuộc sống nên sau khi tôi đi được sáu tháng thì ba tôi mất . Bên cạnh ba tôi lúc ấy chỉ còn mẹ tôi và mẹ con em tôi. Cái đau đớn nhất , mối hận lớn nhất của chúng tôi là ba tôi chết đói . Ông nhịn ăn từ từ, yếu sức mà chết . Cháu tôi là người ôm ảnh của ba tôi trong đám tang. Cháu thay các cậu, các dì đưa ông ngoại đến nơi an nghỉ cuối cùng .

Tất cả tình thương và lòng kính mến cháu trút hết vào ông bà ngoại nên nay chỉ nghe có từ Nguỵ là cháu gần như nổi điên , nói không ai can nổi . Mối hận của cháu không thua gì chúng tôi cả nhưng chúng tôi nào có ai ngờ vì thấy cháu còn quá nhỏ để có thể hiểu được những chuyện quá lớn lao như vậy!!! Cháu đã hiểu hết nhưng ôm trong lòng không nói ra .

Cho đến hôm nay thì nổ bùng . Em tôi ở lại Nha trang thêm ít ngày rồi vào Saigon chuẩn bị về lại Canada . Em mướn khách sạn gần chợ Bến thành để tiện việc đi phố Saigon . Một ngày em cùng bạn đi ra chợ . Đang đi thì gặp một người đàn bà trạc trên ba mươi tuổi , tay bồng con nhỏ , tay cầm kẹo chewing gum , dắt thêm một em nhỏ cỡ bảy , tám tuổi mời mua gum . Em chưa kịp nói thì người đàn bà thấy một đám khách ngoại quốc lật đật bỏ em nhỏ ở lại mời em tôi còn chị thì chạy theo mời đám khách ngoại quốc mua .

Em tôi hỏi em nhỏ bao nhiêu một thỏi gum , em nói ba ngàn đồng . Em tôi móc túi lấy mười ngàn bảo em khỏi thối lại tiền Tay cầm gum , mắt nhìn vào khuôn mặt sáng sủa của em bé , em tôi buộc miệng hỏi :

- Con học lớp mấy ? Sao không đi học mà lại đi bán như vậy ? Em bé lễ phép trả lời :

- Thưa cô con học lớp 4 . Vì nghỉ hè nên đi theo phụ mẹ bán hàng . Em bé nhìn em tôi rồi chợt nói :

- Con không phải là cộng sản . Ông nội con là Nguỵ quân . Em tôi bỗng dưng nước mắt tuông ra , trong vô thức, em mò tay vào túi lôi ra 100 ngàn nhét vào tay em bé cùng với thỏi gum , nói nhanh trong nước mắt :

- Con cầm cái này về đưa mẹ , ráng học hành nghe con . Em tôi quày quả bỏ đi dưới cặp mắt lạ lùng của người bạn . Cô ta sẽ không bao giờ hiểu vì sao chỉ một từ Nguỵ đã khiến em tôi thương cảm đến thế . Cô ta không thuộc diện Nguỵ để có thể thấm cái từ mà chúng tôi hận thấu xương tuỷ .

Hai đứa bé ở hai bờ đại dương cùng có một mẫu số chung : NGỤY . Và chỉ những người có chung mẫu số này mới thấm nỗi đau , mới đọc được ánh mắt của nhau để thốt lên : “Ông nội con là Nguỵ quân” , để người nghe cùng chung mẫu số phải tuông trào nước mắt .

Các cháu đã không quên mình là ai dầu ở nơi nào trên trái đất . Chỉ một từ “Ngụy” thôi có thể làm cho một đứa bé nổi cơn thịnh nộ và quyết không về lại Việt Nam nữa . Vâng , ngày lên máy bay cháu tôi nói với mẹ cháu là sẽ không bao giờ trở lại Việt Nam nữa . Quyết định của cháu tôi là quyết định của em tôi .

Hương Cao

TRỞ VÊ ĐÂU TRANG

Thursday, September 3, 2009

4 Tội Phản Bội Tổ Quốc Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
,
"… Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, đế quốc Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể hải phận Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến vùng biển Hoàng Sa Trường Sa …"
.
- Năm 1999 Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Biên Giới Việt Trung để nhượng đất biên giới cho Trung Quốc.
.
-Năm 2000, Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Phân Định Vịnh BắcBộ để bán nước Biển Đông cho Trung Quốc.
.
-Cũng trong năm này Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá để dâng cá dâng dầu cho Trung Quốc.
.
- Và năm 1958, bằng văn thư của Phạm Văn Đồng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng ý chuyển nhượng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Những hành vi này cấu thành 4 tội phản bội tổ quốc bằng cách "cấu kết với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc và xâm phạm quyền của quốc dân được sử dụng đầy đủ những tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước".


Đây là bản đồ nguyên gốc từ.... phương bắc:
.
I. TỘI NHƯỢNG ĐẤT BIÊN GIỚI CHO NƯỚC NGOÀI
Năm 1949, sau khi thôn tính lục địa Trung Hoa, mục tiêu chiến lược của Quốc Tế Cộng Sản là nhuộm đỏ hai bán đảo Đông Dương và Triều Tiên.
.
Qua năm sau, 1950, với sự yểm trợ của các chiến xa Liên Xô và đại pháoTrung Quốc, Bắc Hàn kéo quân xâm lăng Nam Hàn. Mục đích để giành yếu tố bất ngờ. Tuy nhiên âm mưu thôn tính không thành do sự phản kích của quân lực Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc.
.
Từ 1951 cuộc chiến bất phân thắng bại đưa đến hòa đàm. Hai năm sau Chiến Tranh Triều Tiên kết thúc bởi Hiệp Định Đình Chiến Bàn Môn Điếm tháng 7, 1953.
.
Thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, Trung Cộng tập trung hỏa lực và kéo các đại pháo từ mặt trận Bắc Hàn xuống mặt trận Bắc Việt.
.
Để tiếp tế võ khí, quân trang, quân dụng, cung cấp cố vấn và cán bộ huấn luyện cho Bắc Việt, các xe vận tải và xe lửa Trung Cộng đã chạy sâu vào nội địa Việt Nam để lập các căn cứ chỉ huy, trung tâm huấn luyện, tiếp viện và chôn giấu võ khí. Thừa dịp này một số dân công và sắc dân thiểu số Trung Quốc kéo sang Việt Nam định cư lập bản bất hợp pháp để lấn chiếm đất đai.
.
Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai khởi sự từ 1956, với các chiến dịch Tổng Công Kích, Tổng Khởi Nghĩa Tết Mậu Thân (1968) và Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Bắc Việt huy động toàn bộ các sư đoàn chính quy vào chiến trường Miền Nam. Thời gian này để bảo vệ an ninh quốc ngoại chống sự phản kích của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ (như trong Chiến Tranh Triều Tiên), Bắc Việt nhờ 300 ngàn binh sĩ Trung Quốc mặc quân phục Việt Nam đến trú đóng tại 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Trong dịp này các binh sĩ, dân công và sắc dân thiểu số Trung Hoa đã di chuyển những cột ranh mốc về phía nam dọc theo lằn biên giới để lấn chiếm đất đai.
.
Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Ba khởi sự từ 1979, để giành giật ngôi vị bá quyền, Trung Quốc đem quân tàn phá 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Và khi rút lui đã gài mìn tại nhiều khu vực rộng tới vài chục cây số vuông để lấn chiếm đất đai.
.
Ngày nay, dưới áp lực của Bắc Kinh, Hà Nội xin hợp thức hóa tình trạng đã rồi, nói là thể theo lời yêu cầu của các sắc dân thiểu số Trung Hoa đã định cư lập bản tại Việt Nam.
.
Năm 1999 họ đã ký Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung để nhượng cho Trung Quốc khoảng 800 km2 dọc theo lằn biên giới, trong đó có các quặng mỏ và các địa danh như Ải Nam Quan, Suối Phi Khanh tại Lạng Sơn và Thác Bản Giốc tại Cao Bằng...
.
II. TỘI BÁN BIỂN ĐÔNG CHO NƯỚC NGOÀI
Kinh nghiệm cho biết các quốc gia láng giềng chỉ ký hiệp ước phân định lãnh thổ hay lãnh hải sau khi có chiến tranh võ trang, xung đột biên giới hay tranh chấp hải phận.
Trong cuốn Biên Thùy Việt Nam (Les Frontières du Vietnam), sử gia Pierre Bernard Lafont có viết bài "Ranh Giới Hải Phận của Việt Nam" (La Frontière Maritime du Vietnam). Theo tác giả, năm 1887, Việt Nam và Trung Hoa đã ký Hiệp Ước Bắc Kinh để phân chia hải phận Vịnh Bắc Việt theo đường kinh tuyến 108 Đông, chạy từ Trà Cổ Móng Cáy xuống vùng Cửa Vịnh (Quảng Bình, Quảng Trị). Đó là đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa tại Vịnh Bắc Việt. Vì đã có sự phân định Vịnh Bắc Việt theo Hiệp Ước Bắc Kinh, nên "từ đó hai bên không cần ký kết một hiệp ước nào khác." Do những yếu tố địa lý đặc thù về mật độ dân số, số hải đảo, và chiều dài bờ biểnViệt Nam được 63% và Trung Hoa được 37% hải phận.
.
Năm 2000, mặc dầu không có chiến tranh võ trang, không có xung đột hải phận, bỗng dưng vô cớ, phe Cộng Sản đã ký Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887.
Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ là một hiệp ước bất công, vi phạm pháp lý và vi phạm đạo lý.
.
Bất công và vi phạm pháp lý vì nó không tuân theo những tiêu chuẩn của Tòa Án Quốc Tế, theo đó sự phân ranh hải phận phải căn cứ vào các yếu tố địa lý, như số các hải đảo, mật độ dân số và chiều dài bờ biển. Ngày nay dân số Bắc Việt đông gấp 6 lần dân số đảo Hải Nam, và bờ biển Bắc Việt dài gấp 3 lần bờ đảo Hải Nam phía đối diện Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam có hàng ngàn hòn đảo trong khi Hải Nam chỉ có 5 hay 6 hòn. Tại miền bờ biển hễ đã có đất thì phải có nước; có nhiều đất hơn thì được nhiều nước hơn; có nhiều dân hơn thì cần nhiều nước hơn. Vì vậy hải phận Việt Nam phải lớn hơn hải phận Trung Hoa (63% và 37% theo Hiệp Ước Bắc Kinh). Và cũng vì vậy vùng biển này có tên là Vịnh Bắc Việt.
.
Ngày nay phe Cộng Sản viện dẫn đường trung tuyến để phân ranh hải phận với tỉ lệ lý thuyết 53% cho Việt Nam. Như vậy Việt Nam đã mất ít nhất 10% hải phận, khoảng 12.000 km2. Tuy nhiên trên thực tế phe Cộng Sản đã không áp dụng nghiêm chỉnh đường trung tuyến. Họ đưa ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định Vịnh Bắc Việt theo đó Việt Nam chỉ còn 45% hải phận so với 55% của Trung Quốc. Và Việt Nam đã mất 21.000 km2.
.
Bất công hơn nữa là vì nó không căn cứ vào những điều kiện đặc thù để phân định Vịnh Bắc Việt. Tại vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa), biển rộng chừng 170 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 85 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí (thay vì 200 hải lý theo Công Ước về Luật Biển). Trong khi đó, ngoài 85 hải lý về phía tây, đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý về phía đông thông sang Thái Bình Dương. Theo án lệ của Tòa Án Quốc Tế, hải đảo không thể đồng hóa hay được coi trọng như lục địa. Vậy mà với số dân chừng 7 triệu người, đảo Hải Nam, một tỉnh nhỏ nhất của Trung Quốc, đã được hưởng 285 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí. Trong khi đó 42 triệu dân Bắc Việt chỉ được 85 hải lý. Đây rõ rệt là bất công quá đáng. Bị án ngữ bởi một hải đảo (Hải Nam) người dân Bắc Việt bỗng dưng mất đi 115 hải lý vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá và .
Hơn nữa, Hiệp Ước này còn vi phạm đạo lý vì nó đi trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền như Công Lý, Bình Đẳng, Hữu Nghị, không cưỡng ép, không thôn tính và không lấn chiếm.
.
III. TỘI DÂNG CÁC TÀI NGUYÊN VÀ NGUỒN LỢI THIÊN NHIÊN CHO NƯỚC NGOÀI
Cùng ngày với Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ, Đảng Cộng Sản Việt Nam còn ký Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá.
Ngày 15-6-2004, Quốc Hội phê chuẩn Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, trái với Điều 84 Hiến Pháp, Hiệp Ước Đánh Cá không được Quồc Hội phê chuẩn, chỉ được Chính Phủ "phê duyệt".
Theo Hiệp Ước sau này, hai bên sẽ thiết lập một vùng đánh cá chung rộng 60 hải lý, mỗi bên 30 hải lý, từ đường trung tuyến biển sâu nhiều cá, khởi sự từ vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa) đến vùng Cửa Vịnh tại vĩ tuyến 17 (Quảng Bình, Quảng Trị).
.
Tại Quảng Bình biển rộng chừng 120 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 60 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 30 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 290 hải lý để đánh cá.
.
Tại Ninh Bình, Thanh Hóa, biển rộng chừng 170 hải lý, theo đường trung tuyến, Việt Nam được 85 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 55 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 315 hải lý.
Hơn nữa, theo nguyên tắc hùn hiệp, căn cứ vào số vốn, số tàu, số chuyên viên kỹ thuật gia và ngư dân chuyên nghiệp, Trung Quốc sẽ là chủ nhân ông được toàn quyền đánh cá ở cả hai vùng, vùng đánh cá chung và vùng hải phận Trung Hoa.
.
Ngày nay Trung Quốc là quốc gia ngư nghiệp phát triển nhất thế giới. Trên mặt đại dương, trong số 10 tàu đánh cá xuyên dương trọng tải trên 100 tấn, ít nhất có 4 tàu mang hiệu kỳ Trung Quốc. Như vậy trong cuộc hợp tác đánh cá với Trung Quốc, Việt Nam chỉ là cá rô, cá riếc sánh với cá mập, cá kình:
.
a) Trong số 17 quốc gia ngư nghiệp phát triển trên thế giới có tàu đánh cá lớn trọng tải trên 100 tấn, một mình Trung Quốc chiếm hơn 40 % số tàu, so với 5% của Hoa Kỳ, 3% của Nhật Bản và 2% của Đại Hàn, (Việt Nam không có mặt trong số 17 quốc gia này).
.
b) Các tàu đánh cá lớn này có trang bị các lưới cá dài với tầm hoạt động 60 dặm hay 50 hải lý. Do đó đoàn ngư thuyền Trung Quốc không cần ra khỏi khu vực đánh cá chung cũng vẫn có thể chăng lưới về phía tây sát bờ biển Việt Nam để đánh bắt hết tôm cá, hải sản, từ Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tới Quảng Bình, Quảng Trị. Chăng lưới đánh cá tại khu vực Việt Nam là vi phạm hiệp ước. Tuy nhiên các đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam sẽ ngoảnh mặt làm ngơ. Là cơ quan kinh tài của Đảng, họ sẽ triệt để thi hành chính sách thực dụng làm giàu với bất cứ giá nào, kể cả bằng sự cấu kết với ngoại bang vi phạm luật pháp và hiệp ước.
Trong cuộc hùn hiệp hợp tác này không có bình đẳng và đồng đẳng. Việt Nam chỉ là kẻ đánh ké, môi giới mại bản, giúp cho Trung Quốc mặc sức vơ vét tôm cá hải sản Biển Đông, để xin hoa hồng (giỏi lắm là 10%, vì Trung Quốc có 100% tàu, 100% lưới và 95% công nhân viên).
.
c) Rồi đây Trung Quốc sẽ công nhiên vi phạm Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá cũng như họ đã thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển. Chiếu Công Ước này các quốc gia duyên hải có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý để đánh cá. Nhưng cũng có nghĩa vụ phải bảo toàn và dinh dưỡng ngư sinh để dành hải sản cho biển cả và các thế hệ tương lai. Trung Quốc đã trắng trợn và thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển trong chính sách "tận thâu, vét sạch và cạn tàu ráo máng" áp dụng từ thời Đặng Tiểu Bình. Đó là chính sách thực dụng mèo đen mèo trắng, làm giàu là vinh quang, làm giàu với bất cứ giá nào.
.
Từ hơn 1/4 thế kỷ theo kinh tế thị trường, với sự phát triển công kỹ nghệ, thương mại, đánh cá và khai thác dầu khí, ngày nay tại vùng duyên hải Trung Hoa, các tài nguyên, hải sản và nguồn lợi thiên nhiên như tôm cá, dầu khí đã cạn kiệt. Trong khi đó nhu cầu canh tân kỹ nghệ hóa và nạn nhân mãn (của 1 tỉ 380 triệu người) đòi hỏi Trung Quốc phải mở rộng khu vực đánh cá và khai thác dầu khí xuống Miền Nam.
.
d) Với hơn 25 năm kinh nghiệm trong nghề cá, Trung Quốc đã huấn luyện được một đội ngũ công nhân viên đông đảo gồm các kỹ thuật gia, chuyên viên điện tử, và ngư dân có tay nghề. Trong khi đó về phía Việt Nam chỉ có một số công nhân không chuyên môn để sai phái trong các công tác tạp dịch hay công tác vệ sinh như rửa cá, rửa tàu v...v... Và rồi đây, bên cạnh các lao động nô lệ xuất khẩu tại Đông Nam Á , chúng ta sẽ có thêm một số lao động nô lệ tại Biển Đông trên các tàu đánh cá xuyên dương Trung Quốc.
.
IV. TỘI CHUYỂN NHƯỢNG CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA TRƯỜNG SA CHO NƯỚC NGOÀI
Với đà này Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ nhượng nốt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Họ đã nhiều lần công bố ý định này:
.
1) Ngày 15-6-1956, ngoại trưởng Ung Văn Khiêm minh thị tuyên bố: "Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa".
.
2) Ngày 14-9-1958 qua lời Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, xác nhận chủ quyền hải phận của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
.
3) Để biện minh cho lập trường của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, sau khi Trung Cộng tiến chiếm Trường Sa hồi tháng 3-1988, báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Đảng Cộng Sản trong số ra ngày 26-4-1988 đã viết: "Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng 2 quần đảo nói trên". Đây chỉ là lời ngụy biện. Vì tại Thái Bình Dương, Hoa Kỳ có Đệ Thất Hạm Đội nên không cần đến các hải đảo Trường Sa và Hoàng Sa để làm căn cứ xuất phát hay địa điểm chỉ huy.
.
4) Và hồi tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực đầu năm 1974, đã viết: "Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi".
.
Từ 1956, mục tiêu chiến lược của Đảng Cộng Sản Việt Nam là "giải phóng Miền Nam" bằng võ lực. Để chống lại Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Đồng Minh, Hà Nội hoàn toàn trông cậy vào sự cưu mang nhiệt tình của người thầy phương Bắc. Vì sau cái chết của Stalin năm 1953, Lien Xô chủ trương chung sống hòa bình với Tây Phương, trong khi Mao Trạch Đông vẫn tuyên bố "sẽ giải phóng một ngàn triệu con người Á Châu khỏi ách Đế Quốc Tư Bản".
Mà muốn được cưu mang phải cam kết đền ơn trả nghĩa. Ngày 14-9-1958, qua Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước cam kết chuyển nhượng cho Trung Quốc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Qua năm 1959, Đảng Cộng Sản phát động chiến tranh Giải Phóng Miền Nam.
.
Có 3 lý do được viện dẫn trong cam kết này:
.
a) Vì Hoàng Sa, Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-7 (Quảng Trị-Cà Mâu) nên thuộc hải phận Việt Nam Cộng Hòa. Đối với Hà Nội nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc trong thời điểm này chỉ là bán da gấu! (không phải tài sản của mình).
.
b) Sau này do những tình cờ lịch sử, nếu Bắc Việt thôn tính được Miền Nam thì mấy hòn đảo san hô tại Biển Đông đâu có ăn nhằm gì so với toàn thể lãnh thổ Việt Nam?
.
c) Giả sử cuộc "giải phóng Miền Nam" không thành, thì việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa cũng có tác dụng làm suy yếu phe quốc gia về kinh tế, chính trị, chiến lược và an ninh quốc phòng.
KẾ HOẠCH THÔN TÍNH BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG CỘNG:
Năm 1982, với tư cách ngũ cường thuộc Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, Trung Cộng hoan hỷ ký Công Ước về Luật Biển. Ký xong Công Ước, Bắc Kinh mới thấy lo! Theo Công Ước các quốc gia duyên hải chỉ có 200 hải lý, vừa là vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá, vừa là thềm lục địa để khai thác dầu khí. Trong khi đó Hoàng Sa tọa lạc ngoài lục địa Trung Hoa 270 hải lý, và Trường Sa cách Hoa Lục 750 hải lý, nên không thuộc hải phận (thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế đánh .
Vì vậy, cuối năm 1982, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả Trung Hoa ngày đêm nghiên cứu thảo luận ròng rã trong suốt 10 năm, để kết luận rằng "Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ thời Hán Vũ Đế ".
.
Đây là thái độ trịch thượng võ đoán của phe đế quốc, cũng như Đế Quốc La Mã thời xưa coi Địa Trung Hải là "biển lịch sử của chúng tôi!"
Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển, cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Nam Dương 30 hải lý, cách Mã Lai và Phi Luật Tân 25 hải lý. Nó bao gồm toàn thể vùng biển Hoàng Sa Trường Sa và chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Natuna của Nam Dương và Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân.
Tuy nhiên về mặt pháp lý, nếu Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn Độ, thì Nam Hải cũng không phải là biển của Trung Hoa về phía Nam.
.
Vả lại theo Tòa Án Quốc Tế La Haye, biển lịch sử chỉ là nội hải. Hơn nữa Thuyết Biển Lịch Sử của Trung Quốc cũng bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8: "Biển lịch sử hay nội hải của một quốc gia tọa lạc trong lục địa hay đất liền, bên trong bờ biển hay đường căn bản" (đường căn bản là lằn mực thủy triều xuống thấp).
.
Do đó Biển Nam Hoa hay Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc vì nó là ngoại hải và cách lục địa Trung Hoa hơn 2000 cây số.
.
Và công trình 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Hoa chỉ là công "dã tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì"!
.
Thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung Cộng đề ra kế hoạch 4 bước để xâm chiếm Biển Đông về kinh tế:
.
1) Ký kết Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ năm 2000 để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887 (theo đó Việt Nam được 63% và Trung Hoa được 37%. Nếu theo đường trung tuyến, hai bên được chia đều 50%. Tuy nhiên trên thực tế, Trung Cộng không theo đường trung tuyến và đã đề ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định theo đó Việt Nam chỉ còn 45% so với 55% của Trung Hoa.
.
2) Ký kết Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá năm 2000 để thiết lập Vùng Đánh Cá Chung 60 hải lý. Và Việt Nam chỉ còn 25% tại vĩ tuyến 17, và 32% tại vĩ tuyến 20. Với các tàu đánh cá viễn duyên, với các lưới cá dài 50 hải lý, và nhất là với sự cấu kết đồng lõa của đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam, toàn thể Vịnh Bắc Việt sẽ biến thành khu đánh cá tự do cho đội kình ngư Trung Quốc mặc sức tận thu, vét sạch, và cạn tàu ráo máng.
.
3) Từ đánh cá chung đến hợp tác khai thác dầu khí chỉ còn một bước. Trong Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự hợp tác khai thác dầu khí. Dầu khí là do các chất hữu cơ kết tụ trong các thủy tra thạch kết tầng dưới đáy biển. Các chất hữu cơ này được nước phù sa Sông Hồng Hà từ Vân Nam và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra Biển Đông từ cả triệu năm nay. Do đó dầu khí nếu có, là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam, chứ không phải từ Hoa Lục. Mặc dầu vậy, tại Vịnh Bắc Việt, Trung Quốc đã đề ra nhiều dự án thăm dò và khai thác dầu khí, như "Dự Án Quỳnh Hải" bên bờ đảo Hải Nam và "Dự Án Vịnh Bắc Bộ" phía Bắc vĩ tuyến 20. (Khi dùng danh xưng "Vịnh Bắc Bộ", Trung Quốc mặc nhiên nhìn nhận rằng đó là Vịnh của Việt Nam về phía Bắc. Vì nếu là củaTrung Hoa thì phải gọi là Vịnh Nam Bộ mới đúng địa lý).
.
4) Với chính sách vết dầu loang, sau khi thành tựu kế hoạch đánh cá và khai thác dầu khí chung tại Bắc Việt, hai bên sẽ tiến tới việc hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại miền duyên hải Trung và Nam Việt. Điều đáng lưu ý là vùng lãnh hải này thuộc thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế đánh cá 200 hải lý của Việt Nam nên thuộc chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam. Ở đây không có sự trùng điệp hay chồng lấn hải phận như trường hợp Vịnh Bắc Việt.
.
Không ai ngu dại gì cho người nước ngoài đến đánh cá và khai thác dầu khí chung tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế riêng của nước mình. Chiếu Điều 77 Luật Biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải. Mọi sự chiếm cứ bất cứ từ đâu tới cũng đều vô hiệu, nhất là chiếm cứ võ trang (trường hợp Trung Cộng dùng võ trang chiếm Hoàng Sa năm 1974 và .
Trường Sa từ năm 1988).
.
Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, đế quốc Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể hải phận Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến vùng biển Hoàng Sa Trường Sa theo lời cam kết của Hồ Chí Minh (Phạm Văn Đồng chỉ là kẻ thừa sai, bất lực, vô quyền, không có cả quyền bổ nhiệm một thứ trưởng theo lời tự thú của đương sự).
.
Như vậy, Thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc từng bị Công Ước về Luật Biển và Tòa Án Quốc Tế bác bỏ, nay sẽ trở thành hiện thực do kế hoạch 4 bước thôn tính Biển Đông của Trung Cộng. Vì quyền lợi riêng tư, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã táng tận lương tâm nhượng đất, bán nước, dâng cá dâng dầu và dâng các hải đảo cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
.
Hành động như vậy Đảng Cộng Sản Việt Nam đã 4 lần phản bội Tổ Quốc. Vì những lý do nêu trên:
.
Thay mặt đồng bào trong nước không còn quyền được nói
.
Trước Tòa Án Quốc Dân và Tòa Án Lịch Sử
.
ỦY BAN LUẬT GIA BẢO VỆ DÂN QUYỀN KẾT ÁN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ 4 TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC .

Luật sư Nguyễn Hữu Thống
TRO

Wednesday, September 2, 2009


BÍ ẨN LỊCH SỬ
Chúng ta có tin vào những hiện tượng siêu hình và nhân quả hay không?.
Hãy nhìn vào lịch sử .
Gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát vào ngày 2/11/ 1963 qua cuộc binh biến 1/11/1963.
Tổng Thống Hoa Kỳ Kenedy chiụ một phần trách nhiệm lớn về việc làm xấu xa này. Hậu quả là hai mươi ngày sau, Kenedy bị ám sát vào ngày 22/11/1963 tại Dallas, Texas.
Em trai ông, Robert Kenedy củng bị ám sát vào ngày 5/6/1968.
Bí ẩn lịch sử sau đây còn khiến quý vị nổi da gà.
Hãy nhờ một giáo sư Sử Học giải thích những hiện tượng này


Abraham Lincoln được bầu vào Quốc Hội năm 1846
John F. Kennedy được bầu vào Quốc Hội năm 1946 .
Abraham Lincoln được bầu làm Tổng Thống năm 1860.
John F. Kennedy được bầu làm Tổng Thống năm 1960.



Cả hai đều đặc biệt chú trọng đến vấn đề dân quyền.
Cả hai phu nhân đều mất một đưá con khi ngụ tại Toà Bạch Cung
Hai vị Tổng Thống đều bị hạ sát vào ngày Thứ , và đều bị bắn vào đầu
Và càng kỳ dị hơn làThư ký cuả Lincoln tên là Kennedy.
Thư ký cuả Kennedy tên là Lincoln .
Cả hai đều bị ám sát bởi người miền Nam
và được kế vị bởi hai người cùng tên là Johnson, cũng người miền Nam




Andrew Johnson, kế vị Lincoln, sinh năm 1808.
Lyndon Johnson, kế vị Kennedy, sinh năm 1908
John Wilkes Booth, ám sát Lincoln, sinh năm 1839.
Lee Harvey Oswald, ám sát Kennedy, sinh năm 1939.

Cả hai tên sát nhân đều có tên ba chữ, và cả hai tên này gồm 15 chữ cái .
Nào bạn hãy ngồi yên
Lincoln bị bắn tại hí viện tên 'Ford'.
Kennedy bị bắn trên một chiếc xe ' Lincoln ' được hãng 'Ford' chế tạo
Lincoln bị bắn tại hí viện và tên sát nhân chạy trốn tại một nhà kho.
Kennedy bị bắn tại một nhà kho và tên sát nhân chạy trốn vào một hí viện
Booth và Oswald đều bị ám sát trước khi đưa ra toà xử .
Và điều đáng ngạc nhiên là :
Một tuần trước khi Lincoln bị ám sát, ông ta ở thành phố Monroe, Maryland




Một tuần trước khi Kennedy bị ám sát ,
ông ta ở với nàng Marilyn Monroe.
Ai có thể hình dung được.
.

Một điều bất khả tín

1) Gấp một tờ giấy bạc 20 dollars


2) Gấp thêm một lần nưã, hãy gấp cẩn thận y như hình dưới

3) Gấp đầu kia, y như trước



4) Bây giờ hãy lật mặt kia



Thật là một sự ngẫu nhiên. Một vài nếp gấp đơn giản hình học đã tiên tri một thảm hoạ được in trên tất cả các tờ giấy bạc 20USDNgẫu nhiên hay không, tuỳ bạn quyết địnhvà nếu chưa đủ, thì hãy nhìn đây;Đầu tiên là Ngũ Giác Đài đang bốc cháy ...


Sau đó Toà Tháp đôi



và hãy coi đây:



Ba sự trùng hợp ngay trên tờ 20 USD
.
-Tai hoạ(Pentagon)
-Tai hoạ( Twin Towers )
-Tai Hoạ(Osama)???
và rùng rợn hơn nưã 9 + 11 = $20 !!!
.
Bài do niên trưởng Nguyễn Hữu Hùng chuyển, đồ biển phỏng dịch
Sưu Tầm

Tình Sông Nghĩa Biển
(Chúc thư viết dùm một người bạn.)

Trần Quang Thiệu

Tôi viết những dòng này cho bạn bè để chia sẻ một nỗi niềm, cho con tôi và cho H. như một lời trần tình, và cho chính tôi như một lời trăn trối.

Cũng như tôi, đa số các bạn đã từng trải qua những ngày tù đày đói khổ trên cao-nguyên hay núi rừng Bắc Việt. Nhưng nhửng đau đớn thể xác đó không thể so-sánh được với niềm thống khổ mà tôi đã trải qua. Một năm sau ngày tôi bị cưỡng bách học tập cải tạo, nhà tôi mang đứa con chưa đầy năm tuổi vượt biên. Vợ con tôi được một tầu Hòa Lan cứu vớt và định cư tại xứ tự do này. Mười bốn năm tù đầy là mười bốn năm hy-vọng, vì qua em gái tôi, tôi được biết rằng vợ con tôi đã có một đời sống yên lành.

Ngày tôi trở về thành phố củng là ngày xót xa nhất cuộc đời, còn hơn cả lúc tôi lên xe đi cải tạo. Em gái tôi ngập ngừng cho tôi biết là vợ tôi đã sống chung với một người khác. Những lá thư cuối cùng H. viết về em tôi đã giấu kín vì sợ rằng tôi không chịu được thêm niềm đau tinh thần trong lúc tù đày.

"Trăm nghìn lạy anh, xin anh tha thứ và quên đi người đàn bà không xứng đáng … ".

Tôi vò nát lá thư, đau và tủi, nhưng không có nước mắt để khóc cho mình, cho đời!

Nhưng niềm đau nào rồi cũng nguôi ngoai. Tôi vẫn còn đứa con mà 15 năm tôi chưa gập mặt. Tôi viết thư cho người vợ cũ, chúc H. hạnh phúc và cám ơn H. đã thay tôi nuôi nấng con nên người.

Năm 1991, sau khi đã định cư ở Hoa-Kỳ, tôi lại nhận được thư H.. H. nhắc tới tình yêu đầu đời, êm như dòng sông nhỏ nơi quê nàng, và xin gập tôi một lần: "Một lần với anh, rồi để tùy anh, em bao giờ cũng như dòng sông cũ".

Lòng tôi chùng xuống và tôi háo hức mong ngày tái ngộ như thủa mới yêu nhau. Mùa hè năm ấy, H. gọi tôi từ một góc phố, hỏi đường đến căn phòng trọ tôi chia sẻ với người bạn cùng cảnh ngộ. Tôi run-rẩy chải lại mái tóc đã điểm sương để đón H. và thấy mình lúng túng như thủa hai mươi, khi mới biết yêu lần đầu.

Đêm đó H. kể với tôi nỗi cô đơn và thống khổ vô-tận của người đàn bà với đứa con nhỏ trên xứ lạ. Từ con sông hiền-hòa, dòng đời đã đưa H. ra biển, và X., một sinh viên du-học, thông dịch viên trong phái đoàn cứu trợ, là cái phao cho H. bám víu, chịu ơn nghĩa, nuôi con và nuôi chồng trong tù.

"Chúng mình sống với nhau được mấy năm, anh thường đi xa, và cuối cùng đi biền biệt, không biết ngày về. Em lúc nào cũng thương nhớ anh, Nhưng X. cho em và con đời sống. Hơn 10 năm nay X. quanh quẩn bên em, tha-thiết và dịu dàng, đưa con đến trường ngày bé dại, đón em những chiều mưa, và hôm qua cặm cụi xếp quần aó cho em sang thăm anh. Đưa em ra phi-trường, X. không nói, chỉ cầm tay, nhưng ánh mắt co trăm điều gửi gấm. Trăm nghìn lạy anh, anh quyết-định sao em cũng chịu. Em không thể nào trọn cả nghĩa lẫn tình."

Tôi ứa nước mắt vì bồi hồi. Trong tù, tôi đau khổ, nhưng tôi không bao giờ cô đơn. Tôi có bạn bè xung quanh, có cái điếu cầy và những cơn say choáng váng đủ để lãng quên đời. Tôi đã may mắn hơn vợ tôi nhiều mà tôi không biết. Lúc đó tôi mới thấy thương nàng, và thương cả X.. Tình yêu của chúng tôi như dòng sông, nhưng X. tới với H. bằng tấm lòng của biển.

"Em nên về bên đó. Con đã trưởng thành và anh cũng đã yên phận. X. cần có em hơn là anh. Cho anh gửi lời cám-ơn."

H. khóc, nhưng trong niềm đau như có cái gì rất an-ủi.

Mùa đông năm ấy con gái tôi cũng qua thăm. Cháu hầu như không nói được tiếng Việt mà tiếng Anh của tôi lúc đó còn rất kém. Người bạn giúp đỡ mỗi lần cha con tôi lúng túng. Tôi tuy nói rất ít nhưng cháu Âu Cơ hình như hiểu rất nhiều. Cháu gọi 'Bố' rất rõ ràng, và trước khi trở về Hòa Lan, cháu mua một chậu hoa hồng, trồng ở đầu hè:

"So you know that I'm around, and that I love you".

Tâm hồn tôi bây giờ rất bình yên. Lâu lâu tôi lên chùa Từ Sơn nói chuyện 'thiền' với thầy Đức. Một mai tôi ra đi, xin các bạn hỏa táng tôi và rắc tro ngoài biển. Gió sẽ đưa tôi về bên kia đại-dương:

Tro tàn theo dấu cố hương
Hồn theo ngọn sóng về đường biển xưa.

Như các bạn đã biết, quê tôi ở ven sông Hồng. Lúc đó tôi thật sự vẹn cả 'Tình Sông Nghĩa Biển’.

Trần Quang Thiệu


Phụ chú: Nhân vật chính trong câu chuyện này, anh Đ.V.M., đã qua đời năm 2006 tại California. Anh yêu cầu được hoả táng và mang tro tàn về quê hương, an táng cạnh mộ phần cha mẹ, thay vì trải ngoài biển như anh ước mong trước đây. Bạn bè đã làm tất cả những gì anh trăn trối, và người vợ cũ cũng từ Âu Châu sang để tang anh.

Ngày đưa hình Đ.V.M. lên chùa cho anh nghe kinh kệ chúng tôi cũng viết thêm vài hàng để tưởng nhớ anh:
Trần Quang Thiệu

Tuesday, September 1, 2009